92 2 Giải phẫu Lâm sàng để tiêm Toxin botulinum cle focusing on the tendinous digitation. Clin Anat: 26. Kwak HH, Park HD, Youn KH, Hu KS, Koh KS, Han 2012;25(7):889-92. SH, Kim HJ. Branching patterns of the facial nerve 18. Park JT, Youn KH, Hu KS, Kim HJ. Medial muscular and its communication with the auriculotemporal band of the orbicularis oculi muscle. J Craniofac Surg. nerve. Surg Radiol Anat. 2004;26(6):494-500. 2012,23(1):195-7. 27. Won SY, Kim DH, Yang HM, Park JT, Kwak HH, Hu 19.Park JT, Youn KH, Hur MS, Hu KS, Kim HJ, Kim KS, Kim HJ. Clinical and anatomical approach using HJ. Malaris muscle, the lateral muscular band of orbicu- Sihler's staining technique (whole mount nerve stain). laris oculi muscle. J Craniofac Surg 2011;22(2):659-62. Anat Cell Biol. 2011;44(1):1-7. 20. Shim KS, Hu KS, Kwak HH, Youn KH, Koh KS, 28. Yang HM, Won SY, Kim HJ, Hu KS. Sihler staining Fontaine C, Kim HJ. An anatomy of the insertion of study of anastomosis between the facial and trigemi- the zygomaticus major muscle in human focused on nal nerves in the ocular area and its clinical implica- the muscle arrangement at the mouth corner. Plast tions. Muscle Nerve. 2013;48(4):545-50. Reconstr Surg. 2008;121(2):466-73. 21. Yang HM, Kim HJ. Anatomical study of the corru- gator supercilii muscle and its clinical implication with botulinum toxin A injection. Surg Radiol Anat. Khác 2013;35(9):817-21, 22. Youn KH, Park JT, Park DS, Koh KS, Kim HJ, Paik: 29. Carruthers ACJ. Botulinum toxin: Elsevier Science DJ. Morphology of the zygomaticus minor and Health Science div. 2013;3:52-8: its relationship with the orbicularis oculi muscle. 30. Dessy LA, Mazzocchi M, Rubino C, Mazzarello V, J Craniofac Surg. 2012;23(2):546-8. Spissu N, Scuderi N. An objective assessment of botu- 23. Yu SK, Lee MH, Kim HS, Park JT, Kim HJ, Kim linum toxin A effect on superficial skin texture. Ann HJ. Histomorphologic approach for the modiolus Plast Surg. 2007;58(5):469-73. with reference to reconstructive and aesthetic surgery. 31. Flynn TC, Carruthers JA, Carruthers JA. Botulinum-A J Craniofac Surg. 2013;24(4):1414-7. toxin treatment of the lower eyelid improves infra- orbital rhytides and widens the eye. Dermatol Surg. 2001;27(8):703-8 Các dây thần kinh ngoại biên , của mặt và cổ 32. Frankel AS, Kamer FM. Chemical browlift. Arch Otolaryngol Head Neck Surg. 2007;124(3):321-3 33. Huilgol SC, Carruthers A, Carruthers JD, Raising eyebrows with botulinum toxin. Dermatol Surg 24. Kim DH, Hong HS, Won SY, Kim HJ, Hu KS, Choi Kim HJ. Intramuscular nerve distribution of the masseter muscle for botulinum toxin injection. J Craniofac Surg, 2010;21(2):588-91, 25. Kwak HH, Ko SI, Jung HS, Park HD, Chung IH, Kim HJ. Topographic anatomy of the deep temporal nerves, with references to the superior head of lateral pterygoid. Surg Radiol Anat, 2003;25(5-6):393-9. 1999;25(5):373-5, 34. Kyle K. Seo: Botulinum treatment: Seoul Medical Publishing Co. 2014;2:182-3. 35. Xu JA, Yuasa K, Yoshiura K, Kanda S. Quantitative analysis of masticatory muscles using computed tomography. Dentomaxillofac Radiol. 1994;23(3):| 154-8. 088 616 7971 E-RACST.COM
Giải phẫu lâm sàng Vùng mặt. .. trên để Tiêm chất làm đầy: 3 Hong-Ki Lee, MD, PhD, Jisoo Kim, MD, MS, Hee-Jin Kim, DDS, PHD (lustrated by Kwan-Hyun Youn) E-BACY.CON © Springer Science+Business Media Singapore 2016 H.-J. Kim et al., Clinical Anatomy of the Face for Filler and Botulinum Toxin Injection, DOI 10.1007/978-981-10-0240-3_3 93
94 3. Giải phẫu lâm săng Vùng mặt trên để Tiêm chất làm đầy Hình, 3.1 Ranh giới bề mặt của vùng trán và vùng giữa hai đầu lông mày 3.1 Trán và vùng giữa hai đầu lông mày tuy nhiên, có những trường hợp vùng giữa trán hoặc vùng ngoài trên lông mày bị lõm một phần. Các khu vực này cũng phải được Đường chân tóc và lông mày lần lượt tạo thành xác định trước khi điều trị. Ngoài ra, vùng các đường phân định bên trên và bên dưới lõm từ "điểm giữa khớp trán" (điểm giữa ụ trán. Trán có nếp nhăn có thể tạo ra ấn tượng trán)" đến vòm lông mày phải xác định từ bị lão hóa; do đó, cấy mỡ và tiêm chất làm đầy mặt ngoài (Hình 3.2). thường sử dụng như các phương pháp điều trị Vùng trán rộng, và mô mềm mỏng (<2mm). thầm mỹ đề cải thiện bề mặt không đều của Teo mỡ dần sẽ xảy ra bẩm sinh và cả sau khi trán thành những vùng đầy và mịn. Tiêm chất sinh, dẫn đến hiện tượng gia tăng cấu trúc làm đầy thẩm mỹ thường được sử dụng để tạo xương, cho thấy biểu hiện của lão hóa. Trong độ cong lồi và min từ điểm chân tóc trán tới trưỡng hợp này, hình dạng trán có thể thô và lông mày (Hình 3.1), Ngược lại với hộp sọ dài không đồng đều; do đó, các khu vực lõm phải hay gặp ở các quần thể người da trắng, hộp sọ xác định. Trán gồm có cơ trán-mô dưới da-da ngắn hay gặp ở các quần thể người châu A. , với cân galea-mô liên kết lỏng-màng xương Trán mịn và lồi hơn cho phép toàn bộ khuốn của xương trán. Cơ trán rất mỏng và thành mặt trông nhỏ hơn, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ phần mỡ dưới da ở trán rất ít (Hình 3.3). của quần thể người châu Á. 3.1.2 Các vị trí tiêm và phương pháp Liệu pháp tiêm chất làm đãy thẩm mỹ có thể Tiêm được sử dụng để làm giảm sự hiện rõ thêm của nếp nhăn cau mày, thường là kết quả của sự cau. Trán là một khu vực rất nhạy cảm; do đó, mày liên tục, và để bù lại cho phần thể tích mất gậy tê thần kinh là điều cần thiết trước đi gần khu vực giữa hai đầu lông mày, thường khi thực hiện tiêm chất làm đầy. Dây thần do lão hóa gây ra. kinh trên ô mãt và dây thân kinh trên ròng Giải phẫu lâm sàng rọc đi ngang trán phải được gây tê (xem chủ đề phương pháp gây tê trong Chương 1) Một vùng lõm rộng tự nhiên thường năm giữa ụ trán và vòm lông mày
3.1 Trán và vùng giữa hai lông mày Điểm giữa khớp trần U Trán Vùng lõm của trán Hình, 3.2 U trán và vùng lõm của trán (a nhìn chính diện, b nhìn ngang) Khi điều trị phía ngoài trán, dây thần kinh gò má thái dương có thể cũng cần phải gây tê. Gây tê thẩm thấu tại chỗ trực tiếp ở khu vực này ưu tiên do khó gây tê chính xác hoàn toàn dây thận kinh gò má thái dương (Hình Ưu tiên tiêm trên màng xương vào lớp mô liên kết lỏng để an toàn và dành cho bề mặt không đều đặn (Hình 3.3). Vì vùng trán rất rộng, có khả năng cao sẽ phinh lên không đều do lớp bê mặt mỏng và rất khó để tăng thể tích, Ngoài ra, khuyến khích tiêm trên màng xương để tránh tiêm vào các nhánh động mạch và tĩnh mạch trán chạy dọc theo lớp nông của trán. Đối với vết lõm chung và rõ hơn ở nếp nhăn cau mày, ưu tiên tiêm trên màng xương: Tuy nhiên, khi các nếp nhn cau mày xuất hiện nhẹ, tiêm nông vào lớp dưới da có thể có hiệu quả để loại bỏ nếp nhăn đa. Trong quá trình tiêm vào trán, rất khó tránh tất cả các mạch máu; do đó, để điêu trị vùng trán, nên sử dụng kim cannuala Ngay cả khi kim cannuala sử dụng để tiêm trên màng xương, sự an toàn cũng không đảm bảo 100%. Hơn nữa, cần thận trọng hơn để tránh các động mạch đi qua xương vào da và các khu vực khác nơi các mạch máu phân nhánh. Một phương pháp khả thi là tiêm sau khi đặt cannuala lần đầu vào khu vực tiêm và chờ xem liệu có xuất hiện tụ máu hay không. Khi sử dụng kim cannuala có kích thước quá nhỏ, áp lực quá mức có thể dẫn đến thủng tĩnh mạch; do đó, nên dùng kim cannuala khoảng Khi xác định điểm vào của kim cannuala, cần phải tránh nơi động mạch thái dương nông đi qua đường bên ngoài của cơ trán và nơi động mạch trên ổ mắt phân nhánh. Khu vực 2 cm phía trên lông mày trên mặt phẳng dọc của khóe mắt ngoài là nơi nhánh trán của động mạch thái dương nông đi qua. Có thể tránh động mạch này trong khoảng 2 cm từ góc mắt ngoài bằng cách tiêm từ đường biên phía ngoài của trán (Hình 3.5).
96 3 . Giải phẫu lâm sàng Vùng mặt trên để tiêm chất lăm đầy a Da Lớp dưới da Cơ trán và cân galea Màng xương Xương trán Xương trán b Da Lớp dưới da Cơ trán. - Mô liên kết lỏng - Màng xương - Xương trán Hình 3.3 Các lớp giải phẫu của vùng trán và vùng giữa hai đầu lộng mày (a, b) Vị trí tiêm kim cannuala phổ biến nhất nằm ở biên giới giữa trán và vùng thái dương. Ngoài ra điểm giữa khớp trán đường giữa trán có thể phục vụ như một vị trí tiêm do sự phân tán mạch máu tương đối không rõ rệt của nó E-BAGST.COM (Hình 3.6a). Trong trường hợp độ cong của điểm giữa khớp trán quá góc cạnh, rất khó để tiêm dưới lớp cơ ở điểm cong góc. Trong trường hợp này, vị trí tiêm phải được đặt ở góc trong của lông mày
3.1 Trán và vùng giữa hai lông mày 97 - Nhánh sâu của dây thần kinh trên ổ mắt -Dãy thần kinh trên ổ mắt Dây thần kinh trên rồng rọc. - Dây thân kinh gò má thái dương. - Dấy thần kinh tai-thái dương. Hình. 3.4 Phân bồ thần kinh ở vùng trán và thái dương Nhánh ở trán của động mạch thái dương nông 2cm Fig. 3.5 Nhánh ở trán của động mạch thái đương nông đi qua đường biên ngoài của cơ trán (a,b) và kim cannuala phải đặt vào dưới lớp cơ lên phía trên màng xương với một lượng nhỏ. (Hình 3.6b). Ngay cả khi sử dụng kim cannu- Xoa bóp khu vực tiêm và cho chất làm đây lan ala làm dụng cụ tiêm, kim cannuala phải đặt rộng khắp lớp mô liên kết lỏng để có thể ngăn dưới lớp cơ và trên màng xương. Việc tiêm ngừa hiện tượng nhấp nhô bề mặt. Việc tiêm phải được thực hiện khi kim cannuala từ từ chất làm đầy trực tiếp vào mạch máu có thế rút lại vị trí ban đầu (Hình 3.7 và 3.8). xác nhận bằng việc thổi khí vào trước khi tiêm. Khi vùng tiêm bị sụt hoặc lõm một phân, có Việc sử dụng kim cannuala được khuyến nghị thể sử dụng kim. Nếu có thể, nên chích kim qua khi tiêm vào vùng phân nhánh của động mạch lớp cơ cho đến khi mũi kim chạm vào xương: Sau trên ổ mắt và động mạch trên ròng rọc. khi chắc chăn răng kim đã chạm vào xương, cân Các phương pháp điều trị bằng chất làm đầy tiêm chất làm đầy lên vùng giữa hai đầu lông mày có rủi ro cao nhất là mất thị lực ở bệnh nhân do tắc mạch và tiêm nội mạch. Vì thế,
98 3. Giải phẫu lậm sàng Vùng mặt trên để tiệm chất làm đày Hình, 3.6 Kỹ thuật tiêm chất làm đầy cho vùng trán sử dụng kim cannuala ((a) tiếp cận từ phía ngoài, (b) tiếp cận từ phía trong) 088 616 7971 E-BAGSY.COM Hình 3.7 Tiêm chất làm đầy trên trán tử thí sử dụng kim cannuala (ạ) và sản phẩm chất làm đầy được đặt đúng cách đưới cơ trán (b)
3.1 Trán và vùng giữa hai lông mày Hình 3.8 Mặt tiêm chất làm đầy an toàn trên trán và vùng giữa hai đầu lông mày 99 •Động mạch trên ròng rọc -Đông mạch trên ổ mắt Hình 3.9 Kỹ thuật tiêm chất làm đầy lên vùng giữa hai đầu lông mày sử dụng kim cannuala B-BAGST.COM việc sử dụng kim cannuala là rất cần thiết. Khi chạm vào xương và tiêm chất làm đầy với một sử dụng kim, mô mềm của khu vực này được lượng nhỏ. Việc đặt kim cannuala phải tiến nâng lên để cho phép tiêm vào dưới da hành từ giữa trán (Hình. 3.9). với lượng nhỏ. Một phương pháp khác là châm kim
100 3.1.3 Tác dụng phụ Hoại tử da ở trán có thể xảy ra do thiểu lưu thông máu, và cần thận trọng đặc biệt đối với sự phân nhánh của các mạch máu và các lớp mô. Các động mạch cần được xử lý thận trọng là động mạch trên ròng rọc, động mạch trên ổ mắt, và nhánh ở trán của động mạch thái dương nông (Hình 3.5 và 3.10). Động mạch trên ổ mắt đi qua lỗ hoặc hõm trên ổ mắt, trong khi động mạch trên ròng rọc đi qua vách ngăn ổ mắt, lên trên trán và qua các lớp mô dưới da và cơ. Vì vậy, khi điều trị tiêm chất làm đây lên trán, nên đặt kim cannuala và tiêm đọc theo lớp trên màng xương. Cũng cần phải cẩn thận đặc biệt để tránh làm tổn thương các mạch máu đi qua lỗ hoặc hõm trên ổ mắt và vùng mắt trong khi đặt kim hoặc hoặc cannuala gần tới màng xương. Ngay cả việc sử dụng kim cannuala cũng có nguy cơ gây tổn thương các mạch máu và dây thần kinh; do đó, việc tiêm chất làm đây cần thực hiện '3 Giải phẫu lâm sàng Vùng mặt trên để tiêm chất làm đây từ từ trong khi vẫn giữ cảnh giác với sự xuất hiện tụ máu. Vì các tĩnh mạch có đường kính lớn hơn và có thành mạch yếu hơn, các tĩnh mạch vẫn dễ bị tổn thương và bị bầm đập ngay cả khi sử dụng kim cannuala. Do vậy, điều quan trọng là thực hiện tiêm chậm và nhẹ nhàng. Tiêm một lượng lớn chất làm đầy vào phía ngoài của trán có thể dẫn đến các mạch máu bị ứ căng đo áp lực gia tăng tại chỗ. Cần thận trọng hơn nếu bệnh nhân có các tĩnh mạch phồng lên ở vùng cần tiêm. Các nếp nhăn ở vùng giữa hai đầu lống mày đã trở thành những nếp nhăn tĩnh sẽ rất khó xử lí. Trong những trường hợp như vậy, kim tiêm sử dụng để tiêm trực tiếp chất, làm đầy vào lớp dưới đa hoặc lớp cơ, trong khi đường tiêm đi theo đường của nếp nhăn. Trong thực tế, động mạch trên ròng rọc đi lên nông hơn so với động mạch trên ổ mắt lân cận. Khi tiêm chất làm đầy vào cùng này bằng kim, cần xem xết đến nguy cơ chất làm đầy khuếch tán khắp đa và gây tổn thương cho động mạch trên ròng rọc. moe sil tep goo Động mặch trên ròng rọc un k nu: e pil empolt goa Cơ mày Hình: 3.10 Đường cung cắp máu của trán và vùng giữa hai đầu lồng mày (a,b) Động mạch & dây thận kinh trên ổ mặt Nhánh ở trán của động mạch thái dương nông B-BAOSY.COM
3.1 Trán và vùng giữa hai lông mày 101 Cơ trán Động mạch trung tâm từ động mạch sống mũi Động mạch trên ròng tọc Tính mạch giữa hai khóe mắt Động mạch trên ròng rọc Nhánh nông và sâu của động mạch trên ô mắt : Động mạch trên ổ mắt Hình 3.11 Mô hình phân phối của động mạch trên ròng tọc và động mạch trên ổ mắt ở trán và vùng giữa hai đầu lông mày (a) và mặt cắt đừng dọc giữa của trán (b) Hơn nữa, cũng có rủi ro khi tiêm nội mạch Lời khuyên: Tiêm chất làm đầy vào trán Khi chất làm đầy vào động mạch trên rồng rọc. tiến hành tiêm chất làm đầy vào trán, nên tập Ngay cả khi tiêm được đặt ở lớp dưới da, một trung vào việc tạo ra các đường cong mịn hơn mũi tiêm dễ gãy có thể làm tổn thương đám là tăng thể tích (Hình 3.12). Trán là một vùng rỗi mạch đưới da, dẫn đến hoại tử da cục bộ. rộng, mỏng có thể đễ dàng hình thành nên Để tránh tăng áp lực cục bộ ở lớp hạ bì, mũi những nếp nhăn khi không chăm sóc cần thận. tiêm phải được thực hiện chậm và thận trọng Để tránh những nếp nhăn, nên tiêm chất làm (Hình 3.11. và 3.13). đầy vào lớp màng xương với đặc tính phẳngvì Kim cannuala khuyên dùng vì nó loại trừ nó cũng giúp tránh được nguy cơ tiêm nội khả năng tiêm vào nội mạch. Hơn nữa, việc mạch. sử dụng chất làm đầy quá nhiều hoặc sử dụng các chất làm đây ưa nước gây ra nguy cơ hút nước, dẫn đến tình trạng sưng và tăng áp lực tại chỗ. Nói chung, khi làm giảm Kim cannuala thường sử dụng khi tiêm các nếp nhăn cau mày bằng cách tiêm chất chất làm đầy cơ trán; tuy nhiên, không dễ làm đầy, cần phải đặc biệt chú ý đề. tránh dàng để liên tục đi theo các đường cong động mạch trên ròng rọc chạy giữa hai đầu trên rồng rọc khi duy trì đầu kim cannuala lông mày (Hình 3,11). trên màng xương. Nếu độ cong của trán Hơn nữa, việc tiếp xúc với đây thân kinh không được xem xét và việc tiêm chất làm trên ổ mắt trong khi tiêm sẽ khiến bệnh nhãn đây thực hiện gián tiếp bằng kim cannuala cảm thấy đau khắp vùng đỉnh đầu hoặc vùng thẳng, một lượng lớn chất làm đầy có thể chấm. Để tránh mọi đau đớn không cần thiết, chèn vào lớp dưới da. Ngay cả khi kim nên đặt kim cannuala gần màng xương. cannuala ban đầu chạm vào màng xương, kim cannuala có thể di chuyển từ vị
102 a 3. Giải phẫu lâm sàng Vùng mặt trên để tiêm chất làm đậy b d Hình 3.12 Giãn rộng trán sử dụng chất làm đầy trước (a,b) và sau khi (c,d) tiêm trí ban đầu theo độ cong trán và đi vào lớp Lời khuyên: Tiêm chất làm đầy vào cùng giữa dưới da (Hình 3.13). Để tránh trường hợp L hai đầu lông mày Các nếp nhăn thường được nói trên, cần phải xem xét đến độ dài của phân thành hai nhóm: nếp nhăn tĩnh và nếp nhăn kim cannuala và độ cong của trán trước khi động. Botox thường được sử dụng để điều trị thực hiện tiêm, Ngoài ra, nhiều điểm chèn các nếp nhăn theo chuyển động cơ. Tuy nhiên, phải xác nhận, và kim cannuala phải chèn trong trường hợp có các nếp nhăn tĩnh, có thể qua lớp cơ và chạm vào màng xương. Việc cần phải điều trị bằng chất làm đầy. Các nếp tiềm sẽ tiến hành với áp suất và thể tích đều nhăn nông có thể được làm giảm bằng cách tiêm nhau. Nên sử dụng kim cannuala mềm với chất làm đầy với lớp hạ bì hoặc lớp đưới da. Sự kích thước 23 -> 25 G xuất hiện của các nếp nhăn sâu hơn có thể được làm giảm bằng cách thay thể tích thông qua chất làm đầy. Sự di chuyển liên tục của các nếp nhăn động có thể dẫn đến sự di chuyển của chất làm đầy; đo đó, việc tiêm chất làm đầy nên được thực hiện với kỹ thuật tiêm chéo, thay vì tiệm dọc theo
3.2 Mắt trũng và bọng mắt Hình, 3.13 Mặt tiêm chất làm đầy nguy hiểm trên trán và vùng giữa hai đầu lông mày 103 CHÍ- 088 616.7971 3.2 Mí dưới sâu và dải gồ trước (điểm phía trong nơi mí mắt trên và mí mắt dưới gặp nhau), góc mắt ngoài (điểm phía ngoài nơi mí mắt trên và mí mắt dưới gặp Sự lõm vào ở vùng mí mắt trên có thể xảy ra nhau), và mí mắt dưới (vùng dưới khe mí). Mặc dù không phải làcác thuật ngữ y học tuyệt đối xác định trong giải phẫu lâm sàng vùng dưới mí mắt dưới, được hình thành do sự co lại của cơ vòng mi, được gọi là dải gồ trước sụn và đường bên dưới gọi là rãnh trước sụn (Hình 3.15) Không giống như người Da trắng, cơ nâng 3.2.1 Giải phẫu lâm sàng Khu vực mí mắt và ổ mắt bao gồm mí mắt trên (màng pha trên khe mí và dướt lông mày), góc mì trên của người châu Á thường không gắn liền với lớp hạ bì. So với người Da trắng, lớp mỡ ổ mắt ở người châu Á kéo dài hơn xuống dưới, khiến cho mắt
104 Hình 3.14 Mắt trũng (a) và bọng măt (b) 3: Giải phẫu lậm sàng Vùng mặt trên để tiêm chất làm đầy a - Mắt trũng Rãnh bọng mắt Bong mắt Lông mày Mống mắt Bờ cũng mạc trong Mào tuyến lệ - Lông mi Bờ củng mạc ngoài Mí mắt dưới Động tử Hình 3.15 Danh pháp cơ bản của mắt và vùng quanh ổ mắt nhìn sưng hơn (Hình 3.16). Tuy nhiên, với được định nghĩa là mắt trũng. Trong trường sự lão hóa, lượng mỡ ở ổ mắt có thể giảm đi, hợp này, tiêm chất làm đầy có thể làm giảm dẫn đến một đường gờ ổ mắt rõ rệt và xuất sự xuất hiện của mắt trũng cũng như các triệu hiện một rãnh đưới mắt, hiện tượng này còn - chứng lão hóa và mệt mỏi.
3.2 Mắt trũng và bọng mắt 105 Cơ nâng mi trên b Vách ngăn ổ mắt Mỡ đưới vách ngăn Cơ vòng mi Hình, 3.16, Mặt cắt đứng đọc giữa của mí mắt trên và nhãn cầu (a Người châu Á, b Người Da trắng) 3.2.2 tiêm Các vị trí tiêm và phương pháp mắt hõm. Vì vậy, điều quan trọng là chỉ thực hiện tiêm chất làm đầy sau khi đã xem xét sự thay đổi thể tích mí mắt trên của bệnh nhân Về việc điều trị mắt trũng, sự lựa chọn của ở trạng thái mở mắt và nhắm mắt. bệnh nhân là điều quan trọng nhất. Tiêm chất Vì việc tiêm chất làm đầy vào lớp mỡ làm đầy có thể có tác dụng trong trường hợp sau vách ngăn ổ mắt vừa khó khăn và vừa cố sự giảm mỡ trong ổ mắt ở người cao tuổi. nguy hiểm, các vị trí tiêm cần đặt ở ngang mức Tuy nhiên, tốt nhất là bệnh nhân thuộc các vách ổ mắt. Ngoài ra, chất làm đầy mềm có thể kiểu sau đây nên tránh tiêm chất làm đầy như được sử dụng để tiêm vào lớp mỡ dưới da. một liệu pháp khả thi để xử lí mắt hõm. Thứ Kim cannuala khuyên dùng để tránh tiêm vào nhất, nếu bệnh nhãn bị sụp mi, do sự teo đi nội mạch và nên chèn vào vị trí hơi chạm vào của cơ chuyển động của mí mắt, nên việc tăng màng xương và sau đó hơi rút lại để cannuala thể tích mí mắt trên bằng điều trị tiêm chất đặt vào trong vách ổ mắt. Nếu cannuala thâm làm đầy có thể làm cho sụp mi mặt nặng hơn. nhập không đủ sâu, các nếp nhăn có thể xuất Vì mắt hõm có thể là do bệnh nhược cơ, tình hiện khi mắt nhắm lại (Hình 3,17 và 3.18). trạng sức khỏe và miễn dịch của một người cần Các hình thức gây tê khuyến nghị trong phải được kiểm tra trước khi điều trị. Thứ hai, quá trình điều trị đải gồ trước sụn là gây tê có một hạn chế cho việc tiêm chất làm đầy để thần kinh dưới ổ mắt hoặc sử dụng thuôc bôi điều trị mắt lõm, xuất phát từ chứng lồi mắt. gây tê riêng. Việc tiêm quá sâu trong quá trình Do việc sử dụng chất làm đậy cứng có thể điều trị dải gồ trước sụn sẽ dẫn đến hình dạng gây ra nếp nhăn khi bệnh nhân nhắm mắt, nên khuyết tật, trong khi việc tiềm quá nông sẽ sử dụng các chất làm đầy mềm để điều trị dẫn đến việc chất làm đầy hiện lên mũi tiệm cần bề mặt da; do đó,
106 3 Giải phẩu lâm sàng Vùng mặt trên để tiêm chất làm đày a ẢỈ SINH HỌC {088 616 7971 Hình 3.17 Kỹ thuật tiêm chất làm đầy cho mắt trũng sử dụng kim cannuala (a) và mặt phẳng tiêm lý tưởng (b) thực hiện ở lớp mô đưới đa. Để ngăn ngừa trong mọi trường hợp (Hình 3,20a). Nhánh nguy cơ nhô lên và lõm xuống quá mức của động mạch này cung cấp màu, cho sụn mi bọng mắt, kim cannuala hoặc kim tiêm nên của mí dưới, và có đường kính khoảng 1mm chèn vào trong khi vẫn giữ một khoảng cách ở góc mắt trong. Vì lý do này, việc tiêm chất tối thiểu với lông mi dưới (Hình 3.19 và 3.20). làm đầy quá sâu vào gần sụn mi bằng kim có Ở dải gồ trước sụn, động mạch mí dưới phía thể gây ra hiện tượng tiêm vào nội mạch trực trong, một nhánh của động mạch mắt, nằm tiếp qua động mạch mắt (Hình 3.20b)
3.2 Mắt trũng và bọng mắt 107 b Hình 3,18 Tiềm chất làm đầy vào mắt trũng của tử thi (a) và sản phẩm chất làm đầy được đặt đúng vị trí (màu lam) đưới vách ngăn ổ mắt và dưới vòm ố mắt (b) CH Hình. 3.19 Kỹ thuật tiêm chất làm đầy vào bọng mắt sử dụng kim tiêm (a) và kim tiêm cannuala (b)
108 G H. 3 Giải phẫu lâm sàng Vùng mặt trên để tiểm chất làm đầy a Động mạch mí mắt trên phía trong Động mạch mí mắt dưới phía trong b Da Động mạch mí mắt dưới phía trong Lớp đưới da Cơ vòng mi. Vách ổ mắt Mỡ dưới ổ mắt CHỈ SIN Hình 3.20 Động mạch mí mắt trên và dưới phía bọng mặt sử dụng kim tiêm hoặc kim cannuala (b) tonh phân phát máu chổ mt ma thêt là dưấy từ động b 1a 7917. mạch mắt (a) và mặt phẳng tiêm chất làm đây cho Hình dạng và thể tích mong muốn của dải Trước khi tiêm dải gồ, lượng mỡ dưới ổ gồ trước sụn cần xác định sau khi quan sát mắt hiện tại (chỗ phình mỡ đưới) phải xác khuôn mặt khi cười của bệnh nhân. Mục tiêu nhận. Một số bệnh nhân có phần mỡ dưới ổ chung của việc điều trị là để cho phép đải gồ mắt dư thừa chèn vào bọng mắt. Trong trở nên rõ hơn một chút ngay cả khi bệnh trường hợp này, phẫu thuật loại bỏ một lượng nhân không mỉm cười. Vì đải gồ có thể hình mỡ dưới ổ mắt phù hợp có thể cho phép dải hành với nhiều hình dạng khác nhau, chă hành với trở nền hộng hơn, từn hau, chẳng ghắc đển ở r có thể nhìn thấy à ược khi bện phía ngoài hoặc trở nên rõ hơn ở cuối phía nhân mỉm cười do lớp mỡ dưới ổ mắt kết hợp ngoài, việc tiêm chất làm đầy phải tập trung với dải gồ cho phép bọng mắt trở nên rõ nét vào việc điều chỉnh hình dạng tự nhiên của hơn. Trong trường hợp này, người tiêm dải gô trước sụn ở bệnh nhân (Hình, 3.21).
3.3 Thái Dướng 109 Trạng thái nghỉ Trạng thái cười Hình. 3.21 Dải gồ sử dụng chất làm đầy, trước khi tiêm (a,c) và sau khi tiêm (b,d) cần xem xét khả năng điều trị dải gồ dẫn đến sự nhô ra quá mức của đải gồ khi mỉm cười. Sự thành công của phương pháp điều trị này phụ thuộc rất nhiều vào khả năng kiếm soát lượng chất làm đầy của người tiêm sau khi xem xét độ co dãn của rãnh dưới đải gồ. Có thể ngăn ngừa sự kéo dài xuống phía dưới của rãnh dưới dải gồ bằng cách tăng áp lực lên vùng dưới rãnh dải gồ bằng một ngón tay hoặc gạc bông trong khi tiêm chất làm đây với lượng nhỏ. Chất làm đầy mềm có tính ưa nước thấp khuyên nên dùng. Việc sử dụng chất làm đầy tương đối cứng sẽ dẫn đến tình trạng dải gồ hiện lên không đều và tạo cục. Tuy nhiên, các chất làm đầy ưa nước sẽ khiến cho bọng mắt có thể tích dư thừa. Phương pháp tối ưu để điều trị bọng mắt là tiêm lượng vừa đủ chất làm đây mèm và tạo hình phù hợp. Đế ngăn chặn bất kỳ tình trạng vón cục không tự nhiên và bất kỳ vị trí gián đoạn nào, có thế đặt một miếng gac bông ngay lập tức sau khi tiêm. Do điều trị đải gồ thông qua tiêm chất 3.3 làm đầy hướng tới lớp dưới da hoặc lớp trong cơ, hiệu quả của nó kéo đài hơn việc điều trị Sự bằm tím, do sử dụng kim tiêm trong quá trình điều trị dải gô, có thể gây khó chịu cho bệnh nhân. Vì vậy, nên sử dụng một kim tiêm có kích thước 30-33 G. Ngoài ra, cần phải thận trọng để tránh các động mạch chạy gần da 3.2.3 Tác dụng phụ Ở phía trong của lớp mỡ vách ngăn, nơi nổi lên các nhánh động mạch mắt, các mạch máu có thể dày (Hình 3,22), Vị vị trí nổi lên này đánh dấu điểm bắt đầu của nhiều động mạch quan trọng chạy khăp mặt, trán, mũi và cuối cùng thông vào sâu hơn các động mạch trung tâm võng mạc, cần đặc biệt chú ý kh Thái Dương quả có thể kéo dài trong ba năm với mũi tiêm mượt hơn từ phía trán tới chỗ nhô lên của gò
110 Hình 3.22 Cấp máu lên mí mắt trên và dưới từ động mạch mắt 3. Giải phẫu lâm sàng Vùng mặt trên để tiêm chất lăm đầy - Động mạch trên ròng rọc Vị trí nối lên của nhánh động mạch mắt. Động mạch sống mũi _Động mạch góc • Động mạch mũi ngoài: Hình: 3.23 Lõm thái dương. Có thể được nhìn thấy rõ hơn khi hạ thấp đầu và nhìn lên trên E-BAGSY.C.OM
3.3 Thái Dương 3.3.1 Giải phẫu Lâm sàng Theo định nghĩa trong từ điển, vùng thái dương chỉ vùng lõm trên cạnh đầu và chứa hố thải dương. Mặt khác, thái dương chỉ khu vực nhỏ hơn xung quanh chóp trên trước và thực tế nằm ở trước thóp trên trước một chút từ quan điểm lâm sàng. Cơ thái dương chiếm hố thái dương với hai lớp cân riêng biệt trên cơ. Cân thái dương đỉnh (TPF), hay mạc thái dương nông, là một dải nằm sâu bên trong vùng da bao phủ khu vực thái dương và bao quanh động mạch và tĩnh mạch thái dương nông, và chạy tiếp xuống thành SMAS (Hình 3.24). Nằm sâu bên trong cân thái dương nông, mạc thái dương sâu hoặc mạc cơ thái dương bao quanh cơ thái dương. Lớp nông của cơ thái dương bắt nguồn từ cân này. Cân thái dương sâu bám vào đường thái dương trên và đi xuống phía dưới để phân chia thành hai lớp (Lớp nông và lớp sâu của cân thái dương sâu), hai lớp này bám vào vòm gò má. Khoang tạo thành khi cận thái dương sâu tách thành lớp nông và lớp sâu có chứa một lượng nhỏ 111 mô mỡ và tĩnh mạch thái dương giữa (Hình. 3.25). Tĩnh mạch thái đương giữa chạy trên vòm gò má khoảng 20mm, và khoảng cách này gần bằng chiều rộng của ngón trở khi đặt vào bờ trên của vòm gò má. Quan trọng là người tiêm cần phải quen thuộc với vị trí tương đối của tĩnh mạch thái dương giữa trước khi thực hiện điều trị bằng chất làm đầy, Tĩnh mạch sentinel, tĩnh mạch mí mắt dưới và tĩnh mạch quanh ổ mắt chảy vào tĩnh mạch thái dương giữa, đến tĩnh mạch thái dương nông và chảy tiếp vào hệ thống tĩnh mạch của cổ (Hình 3,25 và 3.26). Động mạch thái dương sâu đi từ các nhánh động mạch hàm trên vào cơ thái dương, nằm trong mạc thái dương sâu. Động mạch này phân nhánh vào động mạch thái đượng sâu trước và sau. Giữa xương thái dương và cơ thái dương. Sau đó nó đi lên phía trên đến hố thái dương, phân nhánh tại cơ thái dương và mạc thái dương. Lớp mạch máu nằm dưới bụng và gân của phần dưới cơ thái dương. Tuy nhiên khi mạch máu đi qua phần trên của cơ thái dương, chúng phân bố khắp cơ này (Hình 3.27). CHỈ SINH HỌC Nhánh ở trán - Nhánh đỉnh ICOM Động mạch thái dượng nông Tĩnh mạch thái dương nộng Hình.3.24 Động mạch và tĩnh mạch thái dương nông nắm trong mạc thái dương đỉnh
112 3 Giải phẫu lâm sàng Vùng mặt trên để tiêm chất làm đầy Động mạch thái dương nông -Tĩnh mạch thái dương giữa Mạc thái dương sấu Mac thái dương nông: 7971 Tĩnh mạch sentinel Tĩnh mạch quanh ổ mắt R-BACST.CON Hình. 3.25 Các lớp giải phẫu của thái dương
3.3 Thái Dương Tĩnh mạch thái dương giữa Vòm gò má Hình, 3.26: Tĩnh mạch thái dương giữa 113 3.3.2 Tiêm Các vị trí Tiêm và phương pháp Trong trường hợp tiềm chất làm đây bằng kim cannuala, cần gây tê. Tuy nhiên, rất khó để gây tê khu vực này. Có thể thử phong bế thần kinh gò má thái dương, nhưng rất có thể việc gây tê sẽ không có hiệu quả. Để giảm cơn đau có thể xảy ra, chất làm đầy có chứa lidocaine được khuyên dùng. Khi tiêm bằng kim tiêm, chất làm đầy có chưa lidocaine thường sẽ đủ để gây tê. Kim tiêm khuyên dùng khi có hiện tượng lõm từng điểm ở vùng thái dương: kim cannuala khuyên dùng cho vùng rộng hơn. Khu vực thái dương chứa nhiều mạch máu, và đã có báo cáo về trường hợp bị mù do tiêm chất làm đầy không chính xác. Mặc dù nguyên nhân chính xác chưa được biết, vẫn cần thận trọng để tránh tính trạng tiêm vào nội mạch. Khi tiêm vào khu vực thái dương bị lõm, chất làm đầy phải được tiêm ở độ sâu C HỌC Đám rối chân bướm- Động mạch và tĩnh mạch "thái dương sâu * Động mạch và tĩnh mạch thái dương nông - Động mạch hàm trên - Động mạch cảnh ngoài - Tĩnh mạch sau hàm dưới 8-BAGST.COM Hình 3.27 Sự phân bố của động mạch và tĩnh mạch thái dương sâu nằm trong cơ thái dương
114 của cơ - màng xương. Trong trường hợp này, mũi tiêm cần được thực hiện giữa hố thái dương và cơ thái dương. Do vùng thái dương bị lõm quá lõm a 3 Giải phẫu lâm sàng Vùng mặt trên để tiếm chất làm đày việc điều trị vùng này rất phức tạp, ngay cả với một lượng tương đối lớn chất làm đầy (Hình 3.28a, 3.29, và 3,31): Hình 3.28 Kỹ thuật tiêm chất làm đầy vào cùng lõm thái đương sử dụng kim tiêm (a) và kim cannuala (b) E-BICSY.0OM Hình 3.29 Tiềm sầu chất làm đãy vào vùng thái dương của tử thì (a) và bóc tách mẫu vật để chỉ ra vị trí của sản phẩm chất làm đày bên dưới cơ thái dương (b,c)
3.3 Thái dương 115 Hình. 3.30 Tiềm nông chất làm đầy vào vùng lôm thái dương của tử thi (a) và bóc tách mâu vật để chỉ ra vị trí của sản phẩm chất làm đầy bên dưới mạc thái dương nông và sâu (b,c) Ép vào vùng thái dương sẽ khiến cho cân khu vực này bằng kim cannuala là tương đối thái dương đỉnh dính vào đa và cần thái dương an toàn. Khi sử dụng kim cannuala, việc tiêm sầu dính vào khoảng trống hình thành bởi co gần cung gò má sẽ an toàn hơn sò với việc tiêm giữa hai cân này. Sự hiện diện của mạch máu •gần nhánh ở trán của động mạch thái dương ở khu vực này tương đối ít; do đó, đâm qua nông (Hình 3.28b, 3.30, và 3.31) E-BACSY.DOM
116 Hình 3.31 Tiêm sâu chất làm đầy vào màng xương của hố thái dương bên dưới cơ thái dương 3. Giải phẫu lâm sàng Vùng mặt trên để tiêm chất làm đầy 3.3.3 Tác dụng phụ Mạch đập của động mạch thái dương nông có thể dễ dàng cảm nhận ở phía trước tai ngoài. Khi tiêm chất làm đầy vào khu vực này, đường đi của động mạch thái dường nông cần xém xét bằng cách sờ được mạch đập của nó. Khi tiêm theo chiều dọc vào khu vực này bằng kim tiêm, cần thận trọng vì kim tiêm đâm xuyên qua nhiều lớp và có thể gây tổn thương các mạch máu và thậm chỉ cả xương thái dương. Kiểm đây dây thần kinh gò má thái dương có thế bị chèn ép với sự tăng áp lực tại chỗ mặc dù triệu chứng là không rõ ràng Lời khuyên: Điều trị thái dương bằng chất làm đầy Thái dương là khu vực dễ bị bỏ qua trong quy trình phẫu thuật thấm mỹ ở mặt. Sự cần thiết và hiệu quả của việc tiêm chất làm đầy vào thái dương có thể không rõ ràng, đặc biệt là ở phụ nữ, vì thái dương thường che bởi tóc mái tra xem có tụ máu hay không là một biện pháp phòng ngừa tốt. Mặc dù việc sử dụng cannuala Tiềm chất làm đầy vào thái dương sẽ thực an toàn hơn so với kim tiêm, việc tiêm cần hiện sau khi đánh giá toàn bộ khuôn mặt của thực hiện ở khu vực có ít hoặc không có mạch máu. bệnh nhân. Đối với người cố khuộn mặt nhìn chung là cần đối, việc tiêm chất làm đầy vào Cần phải xem xét và tránh các vị trí của thái dương có thể khiến bệnh nhân không hài tĩnh mạch sentinel và tĩnh mạch thái đương lòng. Mặt khác, bệnh nhân có vùng thái dương giữa trước khi tiêm. Đặc biệt là tĩnh mạch thái bị lõm với cung gò má cao có nhiều khả năng dương giữa chạy song song với cũng gò má đi cảm thấy rất hài lòng sau khi tiêm chất làm qua giữa các lớp nông và sâu của cần thái đầy vào cùng thái dương. Hơn nữa, một bác đương sâu. Tĩnh mạch thái dương giữa nằm sĩ phải xác định chính xác những khu vực nào cách khoảng 20mm (chiều rộng 1 đốt ngón tay) ở thái dương bị lõm. Quan trọng nhất, ở phía trên cung gõ má. Khi tiêm quá nhiều chất làm
3.3 Thái dương việc tiêm chất làm đầy nên được thực hiện để tạo ra một đường bao mịn giữa trán và gò má, Lời khuyên: Bốn lớp có thể tiêm chất làm đầy vào thái dương Nhìn chung có bốn lớp có thể tiêm khi điều trị thái dương. Lớp thứ nhất là vùng giữa cân thái dương đỉnh (cân thái dương nông) và cân thái dương sâu; lớp thứ hai là vùng giữa lớp nông và lớp sâu của cân thái dương sâu; lớp thứ ba là vùng giữa cân thái dương sâu và cơ thái dương; và lớp thứ tư là vùng giữa cơ thái dương và xương của hố thái dương. Khi tiêm vào lớp thứ nhất giữa cận thái dương đỉnh và cân thái dương sâu, nên sử dụng cannuala để hạn chế tối đa khả năng gây tổn thương đến động mạch và tĩnh mạch thái dương nông, và nhánh ở trán của dây thần kinh mặt. Việc tiêm vào nội mạch của động mạch thái dương nông phải tránh vì đây là động mạch chính cung cấp máu cho vùng trán phía trên và phía ngoài. Xoa bóp khu vực tiêm là điều quan trọng vì các nếp nhăn có thể xuất hiện do da mỏng ở khu vực thái dương. Đề giảm thiểu bầm tím và tổn thương mạch máu, kim cannuala phải đặt lên lớp trên cân thái dương sâu. Đêm mỡ thái dương nông và tĩnh mạch thái dương giữa xuất hiện ở lớp thứ hai giữa lớp nông và lớp sâu của cân thái dương sâu. Một nhánh của tĩnh mạch thái dương giữa cùng với tĩnh mạch sentinel, tĩnh mạch mí mắt dưới, và tĩnh mạch quanh ổ mắt chảy vào tĩnh mạch thái đương nông và đi vào hệ thống tĩnh mạch cổ Nếu xảy rá tình trạng tiêm chất làm đầy vào nội mạch, sự tăng đột ngột áp suất trong mạch sẽ khiến máu và chất làm đầy chảy ngược lại vào xoang hang qua tĩnh mạch quanh ổ mắt và tĩnh mạch mắt trên. Do đó, khi tiêm vào lớp thứ hai, vị trí của tĩnh mạch thái dương giữa, 2cm phía trên cung gò má, phải xác nhận 117 Nên thực hiện hút kim trước khi tiêm để tránh tiêm vào nội mạch. Khoảng trống giữa cân thái dượng sâu và cơ thái đượng là không gian tiềm năng, có thế được tạo thành bằng cách đặt đúng kim tiêm và kim cannuala đủ sâu tới cần thái dương sâu. Việc tiêm trên lớp này thường thực hiện với kim cannuala sau khi đâm vào cân thái dương sậu. Đây là lớp tương đối ít mạch và nông so với cơ thái dương. Sau khi tạo điểm vào bằng kim cho tới lớp cơ thái dương, kim cannuala nên chèn vào cân thái dương nông và cân thái dương sâu. Ngay sau khi đặt đầu kim cannuala vào dưới cân thái dương sâu, kim cannuala phải hướng song song với mặt phẳng cơ. Sau khi truyền một lượng đủ chất làm đầy, cần thực hiện xoa ấn bằng tay để làm đều bê mặt. Tiêm vào lớp thứ tự trên bề mặt xương của hố thái dương là tương đối an toàn, vì động mạch thái dương sâu và v.v. có xu hướng chỉ cung cấp máu vào các cơ, trong khi sự nối thông với các mạch máu khác là rất ít. Tuy nhiên, để tránh tiêm trực tiếp vào mạch máu, trước hết phải kiểm tra bề mặt xương của hố thái dương bằng kim. Một mũi tiêm an toàn hơn có thể thực hiện vào bề mặt xương sâu dưới cơ bằng cách sử dụng kỹ thuật tiêm xiên góc, sau khi chạm vào xương bằng đầu kim, thực hiện tiêm chéo góc 450. Trong khu vực này, mạch máu nằm trong cơ chứ không nằm ở bề mặt xương của hố thái dương. Vì vậy, rủi ro đối với mạch máu có thể giảm thiểu nếu thực hiện tiêm xiên góc để tiếp cận bề mặt xương. Để tiếp cận bề mặt xương của hố thái dương, nên sử dụng một mũi kim đủ dài. Tiêm vào lớp thứ tư sẽ an toàn hơn và có ưu thế là có ít khả năng gặp phải bất thường trên bệ mặt. Tuy nhiên, mũi tiên thực hiện có tính đến bất lợi là có thể cần một lượng chất làm đầy lớn hơn do áp lực từ cân thái dương sâu dính chặt om
118 Tài liệu đọc thêm Cơ mặt và cổ 1. Lee JY, Kim JN, Kim SH, Choi HG, Hu KS, Kim HJ, 3 Giải phẫu lầm sàng Vùng mặt trên để tiêm chất làm đầy 4. Lee JG, Yang HM, Hu KS, Lee YI, Lee HJ, Choi YI, Kim HJ, Frontal branch of the superficial temporal artery: anatomical study and clinical implications regarding injectable treatments. Surg Radiol Anai 2015;37(1):61-8. 5. Yang HM, Jung W, Won SY, Youn KH, Hụ KS, im HJ, Anatomical study of medial zygomatic mporal vein and its clinical implication regai ing the injectable treatments. Surg Radiol Anat Mạch máu ở mặt và cổ Dây thần kinh Ngoại biên ở Mặt và cổ 6. Won SX, Kim DH, Yang HIM, Park JT, Kwak HH, Hu KS, Kim HJ. Clinical and anatomical approach using Sihler's staining technique (whole mount nerve stain). Anat Cell Biol. 2011;44(1):1-7. Surg. 2014;40(6):618-23. 3. Lee HJ, Kang IW, Won SY, Lee JG, Hu KS, Tansatit T, Kim HJ. Description of a novel anatomical venous structure in the nasoglabellar area. J Craniofac Surg. 2014;25(2):633-5. Chin CHỈ SINH HỌC 088 616 7971 E-BAÇSECOM
Giải phẫu lâm sàng vùng Mặt giữa để Tiêm chất làm đầy 15310 4 "'. Kyle K. Seo, MD, PHD & Hee-Jin Kim, DDS, PhD (lustrated by Dr: Kwan-Hyun Youn) F-BACSY.COM © Springer Science+Business Media Singapore 2016 H.-J. Kim et al., Clinical Anatomy of the Face for Filler and Botulinum Toxin Injection. DOI 10.1007/978-981-10-0240-3_4 119
120 4.1 Rãnh lệ 4.1.1 Giải phẫu Lâm sàng Rãnh lệ là những vùng bị lỗm vào của phân quanh ổ mắt nằm ở vùng giữa khoảng 1/3, phía đưới mắt. Mí mắt đưới có thể tạo ra chỗ gợn lên trong khu vực này, tạo nên một vẻ ngoài trông mệt mỏi (Hình 4.1) Rãnh lệ hình thành ở bờ, nơi gặp nhau mà phần da tương đối mỏng từ dưới lông mày và phần da tương đối dầy từ mũi. Rãnh lệ có thể xuất hiện ở mọi đối tượng ở mọi lứa tuổi. Rảnh lệ hình thành thấy rõ vì nhiều lý do; tuy nhiên, sự giảm thể tích các mô xung quanh vùng quanh ổ mắt là lý do quan trọng nhất. Thoát vị mô mỡ ổ mắt, sự kéo căng da, và sự thay đổi thể tích các mô có thế là nguyên nhãn bồ sung. Phân tích tử thi cho thấy hai đến ba dậy chẳng giữ cơ vòng (ORL) ép cơ vòng mi sâu vào xương. Trên thực tế, khu vực quanh ổ mắt chùng xuống kết hợp với các sợi cơ phía đưới của cơ vòng mi để tạo , ra hình ảnh bị treo bởi các sợi ORL. 4 Giải phẫu lâm sàng vùng mặt giữa để Tiêm chất làm đầy Ngoài ra, có thể quan sát thấy góc nhô ra của mỡ chùng xuống phía dưới vùng quanh ổ mắt (Hình 4.2) Các ORL đóng vai trò như một chiếc neo từ cơ vòng mi đến ổ mắt. Cơ vòng mi gắn trực tiếp vào xương từ mào lệ trước viền ổ mắt trong. ORL thay thế cơ tại điểm này để chạy theo ổ mắt và kéo dài ra phía ngoài. Phần giữa của ORL gắn chặt vào phần sậu của cơ vòng mi (Hình 4.3a). Trong khi đó, phần ngoài của ORL khác với phần trong ở điểm là nó bao gồm các vách ngăn lỏng lẻo và kéo dài (Hình Chắc chẵn rằng các ORL gắn liễn với bề mặt của viền ổ mắt bao gồm nhiều chứ không phải một dây chằng duy nhất gắn kết sâu hơn tới lớp sâu của cơ vòng mi. Tuy nhiên, không có gắn kết trực tiếp nào bởi ORL vào lớp hạ bì của đã Tĩnh mạch mí mắt dưới và tĩnh mạch góc đi ngang qua khu vực gần rãnh lệ, do đó, nên sử dụng cannuala để ngăn bằm tím (Hình 4.5). Hình. 4.1 Rãnh nước mắt E-BAGSY.COM
4,1 Rãnh nước mắt 121 b Mỡ dưới ổ mắt Cơ vòng mi Dây chẳng giữ lại cơ vòng Mỡ dưới cơ vòng mi (SOOF) Dây chẳng giữ lại cơ vòng Da (bọc ở mí mắt) Cơ nâng mội trên Hình, 4,2 Mặt cắt đứng đọc giữa mí mắt dưới ở người trẻ (a) và người đã bị lão hóa (b) S Vans Vách ổ mắt Cơ vòng mi - Dây chẳng giữ lại cơ vòng 010 Hình, 4,3: Phần ngoài (a) và phần trong (b) của dây chẳng giữ lại ố mắt:
122 4 Giải phẫu Lậm sàng vùng Mặt giữa để Tiêm chất làm đầy Cơ vòng mì Dây chẳng giữ lại cơ vòng b Hình 4.4 Mặt cắt mô học của mí mắt dưới có đường viền chỗ nối mí-má bình thường (a) và vi ánh phóng đại của nó (b) CHI SINH HỌC Tĩnh mạch góc B-BAGSY.COM Hình 4.5 Tĩnh mạch mí mắt dưới Tĩnh mạch mí mắt đưới.
4.1 Rãnh nước mắt 4.1.2 tiêm Các vị trí Tiêm và phương pháp Cần ghi nhớ hai lớp khi tiến hành tiêm chất làm đầy. Khi mô mềm nằm dưới ORL bị teo nghiêm trọng, chất làm đầy nên tiêm sâu vào lớp mỡ dưới cơ vòng mi (SOOF) của khoang trước gò má để khôi phục thể tích. Khi thể tích của SOOF khôi phục, chất làm đầy nên tiêm vào mô dưới da nằm ở phần trên của cơ vòng mi để tạo nên một vẻ ngoài được trau chuốt tỉ mì (Hình 4:6 và 4.22a). Thông thường, việc tiêm chất làm đầy vào lớp nông của cơ vòng mi sẽ khiến chất làm đầy bị vón cục; tuy nhiên việc điều trị bằng chất làm đầy trên rãnh lệ là một ngoại lệ, khi mà việc tiêm chất làm đầy vào lớp nông của cơ vòng mi đưa đến những kết quả lâm sàng tốt hơn. 123 Chỉ sử dụng chất làm đầy HA. Vì các chất làm đầy chứa các chất phát sinh của collagen như canxi có thể vón thành cục, cho nên không nên sử dụng các loại chất làm đây này cho bệnh nhân có da mỏng. Nên khuyến nghị dùng các chất làm đầy HA có khả năng giữ nước thấp, bởi vì các chất làm đầy HẠ có khả năng giữ nước cao có thể dẫn đến sưng phồng dại dẳng 1-2 tuần sau khi tiêm. Bên cạnh đó, cần phải khuyến cáo sử dụng chất làm đầy mềm thích hợp có độ nhớt-đàn hồi thấp để tránh vón cục. Vì nhiều mạch máu đi qua khu vực ổ mắt, cho nên, việc sử dụng cannuala được khuyến nghị đặc biệt. Điểm vào của kim cannuala phải cách điểm rãnh lệ 1 cm theo đường thẳng (Hình 4.7). Khi tiêm vào lớp SOOF, nên đặt cannuala cỡ 23-27 G; khi tiêm vào lớp nông của cơ vòng mi nên sử dụng cannuala 30 G. CI Hình: 4.6: Kỹ thuật tiêm chất làm đầy lên rãnh nước mắt sử đụng kim cannuala E-BACSY.COM
124 Hình. 4.7 Chất làm đầy được tiềm một cách phù hợp và SOOF để điều trị rãnh nước mắt của tử thi 4, Giải phẫu Lâm sàng vùng Mặt giữa để Tiêm chất làm đày - Cơ vòng mi - Sản phần chất làm đầy được nhuộm màu (màu xanh lá cây đậm) Dải cơ trong của cơ vòng mi 4.2 Rãnhgiữamá 4.2.1 Giải phẩu Lâm sàng Rãnh đưới má ám chỉ sự chùng xuống của vùng kéo dài từ khóe mắt trong đến vùng gò má trước, Rãnh mí dưới-má có thể bao gồm cả rãnh nước mắt (Hình 4.8). Bất kể lứa tuổi, rãnh mí dưới-má có thể kéo dài đến rãnh giữa má (dải Ấn Độ). Sự lõm xuống của vùng ổ mắt dưới không chỉ dẫn Hình. 4.8 Rãnh mí dưới-má đến một quầng thâm rõ rệt mà còn tạo ra vẻ ngoài mệt mỏi, già nua. Vùng gò má trước bao gồm các lớp mô sau xuống của phần trên của SOOF, do đó đệm đây: da, lớp mỡ gò má nông, cơ vòng mi, mỡ mỡ gò má có thể được chia thành phần trên dưới cơ vòng mì (SOOF), lớp cơ của cơ nâng và phần dưới bằng rãnh giữa má. Nếu sự nhô môi trên và cơ gò má nhỏ, và màng xương của ra của mỡ dưới ổ mắt kèm theo chứng sa mi hàm trên nơi các dây thận kinh dưới ổ mắt mắt dưới, rãnh lệ sẽ võng xuống nhiều hơn. xuất hiện (Hình 4.9): Trong vùng này, các dây Ở khoảng 30% người châu Á, động mạch chằng da gò má nằm đọc theo viền dưới cả cơ góc đi vòng quanh vùng gò má trước trong vòng mi (Hình 4.10). khi đi theo bờ đưới-giữa của đải cơ trong của Cơ vòng mì có vai trò phân chia đệm mỡ cơ vòng mi. Do đó, khi tiêm chất làm đây vào gò má thành lớp nông và lớp sâu, Phần của rănh giữa má, phải cần thận để tránh gây tổn lớp sâu nằm phía đưới cơ vòng mì được gọi thương động mạch này (Hình 412). Đặc biệt là mỡ dưới cơ vòng mi (SOOF) (Hình 4.11), khuyến nghị sử dụng kim cannuala. Ngay cả Sự phân bố mỡ tạo nên đêm mỡ gò má thay khi sử dụng kim cannuala, cần thận trọng để đối theo độ tuổi. Lão hóa không chỉ dẫn đến không chọc vào các mạch máu trên mặt với sự yếu đi và chùng xuống của phần đưới của áp lực quá lớn. SOOF mà còn dẫn đến sự võng xuống của đệm mỡ gò má phía trên nếp gấp mũi môi. Trong khi đó, dây chẳng gỗ má hỗ trợ và ngăn hiện tượng chùng
4,2 Rãnh mí dưới-Má 125 Cơ vòng mì - Vách ngăn ổ mắt. - Mỡ dưới ổ mát Mỡ dưới cơ vòng mì (SOOF) Dây thần kinh dưới ổ mắt - Mỡ giữa gò má nông - Cơ nâng môi trên Cơ nâng cánh mũi môi trên • SMAS •Cơ vòng môi Hình: 4,9 Các lớp giải phẫu của mặt giữa a Cơ vòng mi - Dây chẵng da gò má - b -Tĩnh mạch mí mắt dưới - Dây chẳng đa gò má S-BACSY.COM Hình 4.10 Dây chẳng đa gò má (a nhìn từ trên xuống, b nhìn chính diện)
126 4 Giải phẩu Lâm sàng vùng Mặt giữa để Tiềm chất làm đầy a Gờ ố mắt Phần thuộc mí mắt Phần thuộc ổ mắt- Cơ vòng mi SOOF Vách ổ mắt Gờ ổ mắt Hình 4.11 Giải phẫu của mỡ dưới cơ vòng mi (SOOF). (a) Giải phẫu mí mắt dưới cho thấy phần phía trên của mỡ dưới cơ vòng mi (SOOF) (b nhìn từ trên xuống) Nhánh đi vòng - Động mạch môi trên 7971 - Động mạch môi dưới Hình 4.12 Nhánh đi vòng của động mạch mặt đọc rãnh mí dưới-má E-BACST.OON: : 1F- •:=!
4.2 Rãnh mí dưới-Má 4.2.2 Các vị trí Tiêm và phương pháp Tiêm Độ sâu của mũi tiêm chất làm đầy là độ sâu của khoang trước gò má trong lớp SOOF (Hình. 4.13a and 4.22). Mặc dù người ta thường nói và cơ gò má nhỏ. Thứ nhất, các chất làm đầy nên tiêm sâu vào lớp SOOF để làm đầy tất cả các phần bị hóp của khoang trước gò má. Thứ hai, các chất làm đầy nên tiêm vào lớp dưới da phía trên cơ vòng mi. Nên tiến hành tiêm chất làm đầy theo nguyên tắc là, trước tiên, tiêm chất làm đầy ngay tại phần trung tâm của khu vực bị lõm nhiều nhất và phần chất làm đầy còn lại sẽ tiêm tương ứng ở 127 phía trên và phía dưới phần trung tâm để tạo ra độ cong tự nhiên. ^ Việc sử dụng kim cannuala được khuyến nghị do có nhiều mạch máu ở vùng này. Thông thường, điểm đặt kim cannuala phải được đặt thẳng đứng cách phần dưới của rãnh giữa má 1cm. Trong hầu hết các trường hợp, vị trí bắt đầu tiêm tượng ứng với điểm nơi mà đường vuông góc bắt đầu từ khóe mắt ngoài giao với đường nằm ngang đi qua bờ dưới của cánh mũi (Hình 4.13b,c), Tuy nhiên, vị trí bắt đầu tiêm nên điều chỉnh theo chiều dài và hướng của rãnh giữa má. Khi tiêm vào lớp SOOF vì mục đích khôi phục thể tích, nên sử dụng chất làm đầy HA kết hợp với kim cannuala 23-27 G. Kkíicmh cõnnuala quyết định tùy thuộc vào sản phẩm làm đầy. Thay vì chất làm đầy có chứa canxi Khoang trước gò má Tĩnh mạch mí mắt dưới b HỌC 971 E-BHOSY.COM Hình 4,13 Khoang trước gò má phía dưới cơ vòng mi (a) và các kỹ thuật tiêm chất làm đầy cho và rãnh mí dưới-má sử dụng kim cannuala (b, c)
128 vá các chất phát sinh của collagen, chất làm đầy HÀ có thể tan rã là lựa chọn an toàn nhất. 4.3 Rãnh mi dưới-gò má 4.3.1 Giải phẫu Lâm sàng Rãnh mi dưới-gò má hình thành dọc gờ ổ mắt bên ở phía dưới giữa cạnh ngoài của mí mắt 4 Giải phẫu Lâm săng vùng Mặt giữa để Tiềm chất làm đầy 4.3.2 Các vị trí Tiêm và phương pháp tiêm Nên chèn kim cannuala cách góc mắt ngoài 0,5 cm (Hình 4.15). Nên dùng kim cannuala 30 G để làm đầy rãnh này. Trước tiên, nên tiêm chất làm đầy sâu vào mặt trong của vách ngăn ổ mắt để làm tăng thể tích tổng thể. Nếu thể tích tạo ra không đủ sau khi tiêm sầu, nên tiêm chất làm đầy ở phía trên cơ vòng mi một chút. 4.4 Nếp gấp mũi môi gò má có thể hình thành do sự nhô ra của mỡ dưới ổ mắt và sự tích tụ của ụ mỡ gò má 4.4.1 Giải phẫu Lâm sằng (Hình 4.14). Rãnh mũi môi bắt đầu ở rãnh cánh mũi và rãnh cánh mũi-má chạyxuống dưới bên cạnh môi trên. Rãnh mũi môi không phải là một nếp nhăn đơn giản, mà là một đường cong ba chiều độc đáo ở chỗ nó là kết quả của một nếp nhãn hình thành làm ranh giới trong của đệm mỡ gò má do sự chèn ép đa của cơ nâng môi trên và cơ gò má lớn dọc theo mũi môi. Kết quả là, rãnh mũi môi có thể được định nghĩa là một trong những thành phần tự nhiên của khuôn mặt chứ không phải là một rãnh hình thành do lão hóa (Hình 4,16) Hình. 4.14 Rãnh mi dưới-gò mã GHI SI! Các cơ nâng môi trên, chẳng hạn như cơ nâng cánh mũi môi trên (LLSAN), cơ nâng môi trên Hình. 4,15 Kỹ thuật tiêm chất làm đầy cho rãnh mi dưới-gồ mả sử dụng kim cannuala E-BACSY.COM
4.4 Nasolabial Fold (LLS), cơ gò má nhỏ (Zmi), gắn vào da tại rãnh mũi môi dọc theo đường lên môi trên và cơ vòng môi (Hình. 4.17), Rãnh mũi môi có thể sâu, dài và rõ rệt hơn do sự võng xuống của da và đệm mỡ gò má, sự teo lại của mỡ má sâu bên trong, và các thay đổi trong cấu tạo mỡ (Hình 4.16). Tuy nhiên, sự gắn kết của các cơ nâng môi trên vào da trên rãnh mũi môi làm cho mỡ gò má không chảy thêm xuống tận đưới rãnh mũi môi, nhưng sẽ làm cho rãnh mũi môi tự nhiên trở nên tệ hơn. Bên cạnh đó, chuyển động cơ lặp đi lặp lại cùng với tuổi tác có thể tạo ra rãnh mũi môi trên da. Trong khoảng 77% người châu Á, các động mạch trên mặt chạy ngang hơi hướng đến mặt Hình, 4.16 Nếp gấp mũi môi 1S21I Cơ nâng cánh mũi môi trên. m88 6 129 trong của nếp gấp mũi mội (Hình, 4.18): do đó, nên cẩn trọng để tránh nguy cơ tiêm nội mạch khi tiêm chất làm đầy vào vùng này. Ngoài ra, trong khoảng 56% (kiểu mũi môi (37%) và kiểu trán (18.6 %), Hình. 1.43) người châu Á, một phần động mạch mối trên và động mạch mũi bên có tiếp xúc với cơ vòng môi tại mặt trong của nếp gấp mũi môi. Nên cần trọng khi tiêm nông phía dưới nếp gấp mũi môi do có thể sẽ bị bầm tím nặng Động mạch mặt và các nếp gấp mũi môi ở người châu Á ở 93,3% người châu Á, động mạch mặt chạy gàn nếp gấp mũi môi. Hình 4.19 mô tả động mạch mặt trong mối quan hệ với nếp gấp mũi môi. Động mạch mặt nằm ở phía ngoài, cách cánh mũi 3.2$4.5 mm; động mạch cũng nằm cách góc môi 13.5 ‡ 5.4 mm. Với 42,9% người chấu Á, (nasal division} của động mạch mặt chạy ngang qua mặt trong của rãnh mũi môi; ở 23,2% người châu Á, (nasal division) của động mạch mặt chạy ngang qua mặt ngoài của rãnh mũi môi. Ở các trường hợp còn lại (33,9%), động mạch mặt chạy ngang qua rãnh mũi môi (Hình 4,19), Ở 43% người châu Á, động mạch mặt trèo lên trên cách rãnh mũi môi 5mm. Ở 30% người châu. Á, nhánh đi vòng của động mạch mặt (loại II) chạy dọc theo rãnh mí đưới-má và chuyển hướng sang phía trong tại -khu vực dưới ổ mắt (Hình 4.20). Khoảng cách trung bình được thể hiện trong Hình 4,20. Cơ nâng môi trên. Cơ gò má nhỏ. Cơ gò má lớn. Nếp gấp mũi môi. B-BAGST.CÓM Hình 4.17 Sự chèn ép đa của các phần của cơ nâng môi trên và nếp gấp mũi môi
130 Hình 4.18 Nhánh động mạch mặt bên đưới nếp gấp mũi môi (đường nét đút) 4 Giải phẫu Lâm sằng vùng Mặt giữa đề Tiêm chất làm đầy Cơ nâng cánh mũi môi trên Động mạch mặt Cơ gò má nhỏ - Nếp gấp mũi môi NHÌ B (42.9 %) 088 616 7971 C (23.2 %) Hình 4.19 Vị trí động mạch mặt liên quan đến nếp gấp mũi môi ở quẫn thể người Hăn Quốc và Thái Lan D (19.6 %) B (14.3%) B-EAOST.COM
p hinh 4.4 Nếp gấp mũi môi 131 Midline V2 V1 - HL 0Oc 12.9 .-17.4 28.8 35.2 ...34.8-- .. 39.2- Hình. 4.20 Vị trí nhánh đi vòng của động mạch mặt. V1 đường thăng đứng chạy qua điểm chính giữa giữa khôe mắt trong và khoe mắt ngoài, V2 đường thắng đứng chạy qua khóe mắt trong, HL đường nằm ngang chạy qua khốe mắt trong của cả hai bên, A điểm chuyến hướng của đường cong động mạch mặt, B điểm giao nhau giữa động mạch mặt với V1, C điểm giao nhau giữa động mạch mặt với V2 (00c cơ vòng mi) 44.2 INH HOC tiêm Các vị trí tiêm và phương pháp Trước khi tiêm rãnh mũi môi, bác sĩ nên tưởng tượng rãnh mũi môi như là một tam giác cân. Tam giác này bao gồm một đường cơ sở từ điểm xuất phát của rãnh mũi mỗi tới biên dưới của cánh mũi, và cạnh dài phía trên của tam giác là rãnh mũi-môi. Cạnh dài còn lại phía đưới của tam giác là vùng lõm dưới rãnh mũi môi. Nên tiêm các chất làm đậy với mục đích điều chỉnh thể tích vùng lõm dưới của tam giác cân với đường viền của lớp mỡ ở phía trên của tam giác này (Hinh 4.21) Trước tiên, cần tiến hành phục hồi thể tích với chất làm đây trong hố nanh (Hình 4.22); sau đó tiêm chất làm đầy lùi lại Hình 4,21 Kỹ thuật tiêm chất làm đầy cho nếp gấp mũi môi sử dụng kim cannuala
132 4 Giải phẫu Lâm sàng vùng Mặt giữa đề Tiêm chất làm đầy a Tiêm dưới da đối với rãnh nước mắt Tiêm sâu đối với rãnh mí dưới-má ở khoang trước gò má Tiêm sâu đổi với nếp gấp mũi môi Hình 4.22 Các mặt phẳng thích hợp để tiêm chất làm đầy lên vùng mặt giữa (a) và hai mặt phẳng tiêm có khả năng an toàn để nâng nếp gấp mũi môi (b) từ một vị trí tiêm nằm trong cách nếp gấp mũi môi 1-5 mm. Khi tiềm vào hố nanh, nên tiêm E-BAGSY.CON! ngay trên màng xương. Ở phần trong của nếp gấp mũi môi, thực hiện tiêm trên lớp nông
4.4 Nếp gấp mũi môi 133 Động mạch mặt nhuộm màu (màc hánh tà cây đựng - nằm trong nếp gấp mũi môi Hình 4.23 Tiêm chất lăm đầy trên nếp gấp mũi môi của tử thi có sử dụng kim cannuala (tiêm sâu) cơ vòng môi (Hình 4.23). Tiêm vào hạ bì cũng có thể là một phương pháp điều trị phối hợp hiệu quả khi rãnh này trên mặt quá rõ (Hình hơn nữa, động mạch không được bảo vệ từ lớp cơ bên dưới lớp mỡ nông. Động mạch thường nắm bên cạnh góc miệng (Hình 4.24). Tiêm chất làm đầy trong vừng này có thể làm đứt động mạch mặt theo sau đó là tụ Điều trị Nếp nhăn mũi môi và động mạch máu nhiêu, bâm tím, phù nề trên diện rộng. Mặt bằng chất làm đầy Cần xem xét đến hiện tượng tụ máu nếu xảy Động mạch mặt là điểm quan trọng cần thận ra vết sưng ngoài đột ngột trên má hoặc nếu trọng. Thiếu máu cục bộ của động mạch mặt bệnh nhân biểu hiện ra nổi lên đa hình hạt do tiêm vào nội mạch hoặc dồn nén ngoài sồi và hạt dẻ trong quá trình tiêm chất làm mạch có thể dẫn đến hoại tử da. Đây là một đày. trong những tác dụng phụ thường gặp nhất Để ngăn ngừa tác dụng phụ nêu trên, bác khi tiêm chất làm đầy. Động mạch mặt là sĩ phải thường xuyên nhận thức được sự có một mạch máu chính trên mặt đi ra từ động mặt của nhánh động mạch mặt dưới da mặt mạch cảnh ngoài. Người ta biết là nên tiến trong quá trình chọc kim tìm điểm vào; do hành phía trước trên từ vùng trước cơ cắn đó, bác sĩ phải thận trọng để đảm bảo rằng phía trước góc hàm đưới đến phần tiếp giáp kim nhẹ nhàng xuyên qua da khi tạo điêm của mũi. Động mạch mặt phân ra các nhánh vào cho kim cannuala. Hơn nữa, cần sử dụng của môi dưới, môi trên, mũi ngoài, và động kim cannuala có kích thước lớn, tối thiểu là mạch góc trên mặt. 27G, để giảm nguy cơ chọc vào hoặc làm tổn Ở mặt dưới, động mạch mặt nằm sâu hơn thương các mạch máu. Hơn nữa, đầu kim cơ bám da cổ và cơ hạ góc miệng. Do động cannuala phải đi vào mặt trong trên gần phía mạch tiếp tục đi lên phía trên, nó chạy giữa mũi trước tiên, và sau đó phải chầm chậm cơ cười và cơ gò má lớn ngay trước đệm mỡ tiêm lùi chất làm đầy sau khi má. Trong vùng này, động mạch mặt không bao giờ đi cùng bởi bất kỳ cơ nào. Tại vị trí này, động mạch mặt cho thấy bê ngoài dạng như con rắn, con heo
134 4. Giải phẫu Lâm sàng vùng Mặt giữa đề Tiêm chất làm đầy Cơ gò má lớn - Đệm mỡ má Phần cuộn lại của động mạch mặt - Cơ cười Hình 4:24 Phần cuộn lại của động mạch mặt giữa cơ cười và cơ gò má lớn không bao phủ cờ Hình, 4.25 Hai vùng nguy hiểm trong khi tiêm chất làm đầy đối với nếp gấp mũi môi (hộp màu xanh lá vùng phận nhánh của động mạch môi. trên, vòng tròn màu tím phần còn lại của động mạch mặt không bao phủ cơ) 15 mm CHI 088 115 mm- nhận thấy là không gây ra tổn thương mạch Sau khi động mạchmôi trênphân nhánh từ động máu. Cách tiêm này giúp ngăn không cho chất mạch mặt, nó chạy phía trên đường viên môi làm đầy thấm vào bất kỳ mạch máu bị tổn đưới cơ vòng môi, với độ sâu tối thiều là 3mm. thương nào. Sau đó nó chạy dưới đường viền môi trước khi Vùng bên phía trên tính từ góc miệng là đến gặn điểm cao nhất của cung Cupid. Phải cần một vùng nguy hiểm khác khi tiêm chất làm thận khi tiêm kim tiêm vào vùng này hoặc khi đầy vào rãnh mũi môi. Nhánh môi trên là tạo điểm vào chơ kim cannuala bằng kim tiêm... phần cung cấp chính của môi trên. Trong hầu Do đó, khi tiêm chất làm đây vào rãnh mũi môi, hết các trường hợp, động mạch môi trên phân các vị trí tiêm nên đặt cách điểm kết thúc nếp nhánh từ động mạch mặt và điểm phân nhánh gấp mũi môi 1 cm hoặc vị trí cách bên 1 cm và của nó nằm trong hình vuông cạnh 1,5 cm ở dưới 1 cm tương ứng từ góc môi. mặt bên phía trên của góc môi (Hình 4.25).
4.5 Má hóp Kích thước của kim cannula phải thay đổi trong khoảng 23-27 G theo loại chất làm đầy được sử dụng (Hình. 4.22 ). 4.5 Má hóp 4.5.1 Giải phẫu Lâm sàng Sự l ng của máchkhng chỉ tạo ra về b ngoài lão hóa và mệt mỏi mà còn dẫn đến sự nhô lên của võm gò má. Trong số các quần thể người châu Á ưa chuộng má căng tròn, điều trị bằng chất làm đầy đối với má hóp khá là phổ biến. Hơn nữa, sự lõm xuống của má trước dẫn đến sự đặc biệt dễ nhận thấy của nếp gấp mũi mội bằng cách trùng khớp má với nếp gấp mũi môi (Hình 4,26). Má bao gồm phần da, lớp mỡ dưới da, cơ mặt và SMAS, đệm mỡ má, cơ mút và niêm mạc miệng (Hình 4,27). Mỡ trong má có thể chia thành lớp nông của mô mỡ trên cơ mặt và đệm mỡ má sâu vào các cơ mặt. Đệm mỡ miệng (đệm mỡ Bichat) là một trong vài mô mỡ được 135 bao trong vỏ nang. Đệm mỡ này là đệm mỡ sâu nằm giữa cơ mút và một số cơ nông, Phần dưới của đệm mỡ má có trong khoang má. Mô mỡ bao gồm các tiểu thùy nhỏ, và hai mô mỡ có thể phân biệt được ngay cả khi dùng mắt thường. Đệm mỡ má bao gồm thận trung tâm (Thùy má) năm sát với cơ mút; mặt bên được bao quanh bởi cơ nhai, một vài trong số các cơ mặt, và tuyến mang tai (Hình 4.27 và 4.28). Không nên nhầm lẫn với mô mỡ gò má nằm dưới da má. Các phần mở rộng của đệm mỡ má nằm ở hố chân bướm khẩu cái (thùy), hố thái dương (thùy), và khoang má (thùy). Từ góc nhìn thẩm mỹ, thân trung tâm và các vùng mở rộng vô cùng quan trọng vì chúng chiếm 50% trong tổng mỡ má và teo mỡ má theo độ tuổi làm má hóp thêm trầm trọng. Đệm mỡ má được nâng đỡ bởi cơ cười, và sự lão hóa của cơ cười thường dẫn đến sự chúng xuống của má trước và rãnh môi- má (Hình 4.28). 4.5.2 chèn Các vị trị chèn và phương pháp Hai lớp tiêm có khả năng là lớp mỡ dưới da và đệm mỡ má (Hình 4.29a). Do việc tiêm vào đệm mỡ má đòi hỏi một lượng lớn chất làm đầy dù cho má hóp là do teo mỡ má, việc tiêm chất làm đầy vào đệm mỡ má không thường khuyến khích trừ trường hợp má hóp nghiêm trọng. Do tính chất chặt khít và rắn chắc của đệm mỡ má, việc tiêm chất làm đầy có thể làm cằm đôi trầm trọng thêm trong một số trường Vùng tiêm lý tưởng cho má hóp là vùng từ rãnh mũi môi đến cơ cằm và vùng từ phần dưới của vòm gò má đến điểm chảy xệ của má. Trong trường hợp này, khuyến cáo sử dụng kim cannuala vì vùng mục tiêu rộng. Vị trí vào của kim cannuala phải được đặt cách bên 1 cm và dưới góc miệng (góc môi) 2 cm (Hình 4.29b). Dù các chất dẫn xuất của collagen chẳng hạn như chất làm đầy có chứa canxi có thể được sử dụng, việc sử dụng chất làm đầy HA có thể giáng hóa được khuyên dùng. Hình 4.26 Má hóp
136 4 Giải phẫu Lâm sàng vùng Mặt giữa để Tiêm chất làm đầy * Cơ thái dương Vom gò mà Đệm mỡ má Cơ gò má lớn Đệm mỡ nông Cơ mút Cơ cười Tĩnh mạch mặt - Đệm mỡ mã Cơ cắn Hàm dưới Tuyến mang tai Hình: 4.27 Mặt cắt vành (a) và mặt cắt ngang (b) của đầu cho thấy đệm mỡ má E-BACSY.COM 20 .329 ALAS
4,5 Má hóp 137 a ... - Cơ gò má lớn - Đệm mỡ má - Cơ cười -CORE 1QC Thùy thái dương -Thùy chân bướm - hàm dưới Đệm mỡ má Thủy má • Cơ cười - Cơ cắn. Hình: 4.28 Đệm mỡ má và thùy của đệm mỡ má (a, b) E-BACST.OON
138 4 Giải phẫu Lâm sàng vùng Mặt giữa để Tiêm chất làm đãy ,1 cm INH HỌC 08/616 7971 Hình 4.29 Kỹ thuật tiêm chất làm đầy đối với má hóp (a) và các mặt phẳng tiêm dưới da thích hợp (b) 4.6 Lõm dưới gò má Dây chẳng da cơ căn tạo thành từ bờ dưới của vòm gò má đến bờ trước của cơ căn (Hình 4.6.1 Giải phẫu lâm sàng 1.25). Dây chăng này là một trong những dây chẳng giữ giả và gắn với phần da bao phủ Lõm đưới gò má dẫn đến gò má bị nhô ra. SMAS và má. Theo độ tuổi, dây chẳng này trở Điều trị bằng chất làm đầy đối với lom đưới nên lỏng lẻo, và SMAS bao phủ cơ cắn chùng gò má đề nghị cho những ai muốn có một xuống. Điều này cũng dẫn đến sự chùng xuống khuôn mặt đầy đặn với gò má đỡ nhìn thấy của toàn bộ vùng má. hơn (Hình 4.30)./o
C99 4'1"9 4.7 Mũi 139 chất dẫn xuất của collagen chẳng hạn như chất làm đầy chứa canxi, nhưng chất lằm đầy HÀ là an toàn nhất. 4.7 Mũi 4.7.1 Giải phẫu Lâm sàng Mũi, nằm ở phần trung tâm của khuôn mặt, đóng vai trò thấm mỹ quan trọng trong việc tạo ra sự hài hòa cân đổi giữa mắt và miệng (Hình, 4.32). Đối với những người châu Á có sống mũi tương đối thấp thì việc tiêm chất làm đầy thay vì phẫu thuật tạo hình mũi có thể là phương pháp đơn giản và hiệu quả cho việc nâng mũi. Dù các chất làm đầy có lợi thế là ít xâm lấn hơn so với phẫu thuật, lượng chất làm đầy sẽ giảm dần theo thời gian bằng cách Hình 4,30: Lõm dưới gò má phân giải một cách tự nhiên, và cần phải tiêm định kỳ để duy trì kết quả lâm sàng. Về vấn đề an toàn, các tác dụng phụ chẳng 4.6.2 tiêm hạn như có thắt mũi có thể xảy ra sau Các vị trí tiêm và phương pháp phẫu thuật không liên quan đến quy trình tiêm chất lặm đầy; tuy nhiên, hiệu quả thầm mỹ của các phương pháp điều trị Độ sâu của việc tiêm chất làm đầy phải là ở bằng chất làm đầy hạn chế ở chỗviệc tiêm mô mỡ dưới da trên cơ cắn. Vùng tiêm có thể chất làm đầy không thể làm cho đầu mũi xác định bởi các thông số sau: vòm gò má tù sắc nét hơn hoặc làm mũi lớn nhỏ đi, (trên), 1/2 giữa cơ cắn (dưới), và bờ trước và loại bỏ chỗ lồi, và thu hẹp mũi rộng. Tuy bờ sau của cơ cắn (lần lượt là trước và sau). nhiên, trong số các quần thể người châu Tiêm chất làm đầy nên tiến hành để tạo ra sự Á có nhu cầu nâng mũi, việc tiêm chất làm đầy thường là phương pháp thay thế má đến giữa cơ cắn. Vị trí vào của kim cannuala phải đặt ở vị trí giao nhau giữa đường thẳng đứng vẽ từ góc mắt ngoài và đường xiên vẽ từ góc miệng đến thích hợp cho quy trình phẫu thuật xâm lấn. Vì các tiêu chí về vẻ đẹp thấm mỹ thay đổi đối với các quần thể khác nhau nên rất khó để đưa ra một góc mũi lý tưởng được cho là hấp Khó có thể tăng khối lượng [chất làm đầy] đối với lõm đưới gò má, do mô liên kết dày đặc bên dưới da. Trong vùng này, có rất nhiều cấu trúc mạc cứng chặc, và việc tiêm nhiều chất làm đầy có thể dẫn đến các nhấp nhô không mong muốn và phình ra trong quá trình cử động. Một phương pháp khả thi là phá vỡ sự gắn kết của các cận dày đặc bằng kim tiềm nhọn và tiêm chất làm đầy sau đó; tuy nhiên, có thể có vết thâm tím và ống tuyển mang tai bị thương tổn (Hình 4,31). Có thể sử dụng; dẫn nhất. Tuy nhiên, nó giúp ghi nhớ một loạt các góc mũi đem đến cho con người ta vẻ ngoài hấp dẫn: góc mũi trán, 115-130°; góc mũi mặt, 35-30°; và góc mũi môi, 90-110° (Hình 4.33), Người châu Á thương có da dày hơn và mô dưới da nhiều hơn sơ với người Da trắng. Từ góc độ thẩm mỹ, có nhiều mô mềm trong mũi giúp giảm đến mức thấp nhất vẻ ngoài nhấp nhô đễ xảy ra ở người Da trắng hơn. Khi điều trị các trường hợp đặc biệt chẳng hạn như mũi khoằm, bác sĩ phải ý thức được rằng chỗ nối giữa xương mũi (rhinion) là vùng mỏng nhất
140 Hình 4.31 Kỹ thuật tiêm chất làm đầy đối với lõm dưới gò má (a) và các mặt phẳng tiêm dưới đa thích hợp (b) 4 Giải phẫu Lâm sàng vùng Mặt giữa để Tiêm chất lăm đãy... 7971 Từ góc độ lầm săng, mô dầy dưới da ở các Tớp cấn, lớp mỡ sâu, và màng xương hoặc quần thể chậu Á là một điểm cần thận trọng măng sụn (Hình 4.34). Lớp cân nằm giữa bởi vì tiêm không đúng cách có thể dẫn đến lớp mỡ nộng và lớp mỡ sâu. Các cơ gần mũi tiêm vào nội mạch các sản phẩm chất làm nối với nhau bởi SMAS (lớp cân cơ nông) đầy trong lớp dưới da. bao quanh vùng mặt. Mô mềm của mũi bao gồm da, lớp mỡ nông,
4.7 Mũi Hình 4.32 Các mốc nhân chủng học trên mũi Đỉnh mũi C Góc mũi trán Điểm giữa hai đầu lông mày 115-130° Gốc mũi Góc mũi mãt Gai mũi trước 90-110° 36° Điểm cằm Góc mũi mặt Hình. 4.33 Các góc mặt lý tưởng 141 Gốc mũi Chỗ nối giữa xương mũi Cánh mũi Gai mũi trước 134C5Y.CON