40
Phẫu thuật tạo mí mắt người châu Á
Bởi ‘không tự nhiên’, nghĩa là nếp mí có một hình dạng
thẩm mỹ không hấp dẫn trên khuôn mặt của mỗi người.
Chính là người tạo nên nếp mí hình bán nguyệt. Nếp mí
hình bán nguyệt cao thì trông sẽ không được tự nhiên trên
người châu Á. Một nguyên nhân khác cho nếp mí không
tự nhiên nếu lấy quá nhiều túi mỡ. Khi phần lớn túi mỡ
được loại bỏ thì mắt sẽ hõm sâu’đói’ thì biểu hiện không
phù hợp. Ngược lại, loại bỏ túi mỡ có thể là một bước
cần thiết trong tạo hình mí liên quan đến độ tuổi cho
những bệnh nhân người châu Âu, những người trẻ tuổi
có khoang sâu trên sụn mi. (Tất nhiên, không phải tất cả
người người châu Âu đều có khoang sâu trên sụn mivà
đối với những người có mí mắt đầy, mong muốn có túi
mỡ dự trữ .)
Nếp mí cao 8-10 mm thì coi là ‘quá cao’ đối với người
châu Á. Kết quả này là do các bác sĩ phẫu thuật cứ coi trọng
lâm sàng mà ít nghiên cứu lí thuyết về chiều cao của nếp
mí; hay theo kỹ thuật cố định trên sụn mi với khoảng từ
9-10 mm mà không xem xét đến yếu tố dân tộc, trừ khi
áp dụng cho người châu Âu thường 10 mm. Trong cả hai
trường hợp, nếp mí quá cao ở người châu Á theo lí do
sau:
Đầu tiên, người châu Á tạo mí nhỏ và chiều cao trung
bình của sụn mi trên từ 6,5-8 mm. Thứ hai, khoảng cách
giữa lông mày và bờ mi thì người châu Á nhỏ hơn châu
Âu. Do đó, nếu người ta áp dụng nếp mí từ 10-12 mm, nó
sẽ nằm giữa lông mày và bờ mi.
Khi nếp mí cao hơn chiều cao của sụn mi, lúc đó phẫu
thuật phải cắt qua lớp da dày ở gần lông mày nên khả
năng tạo sẹo phì đại sau mổ là rất cao. Kết quả lâu dài là
lông mi sẽ khó trang điểm cho mí mắt và họ dễ mặc cảm
với bản thân và mọi người xung quanh. Nó cũng liên quan
đến vấn đề chức năng sẽ được đề cập sau (Chương 21).
Nếp mí thô là khi nó quá rõ, hằn sâu và có phản ứng da
tại chỗ.
4 Nếp mí: Mục đích và tiêu chuẩn
41
(θ2 > θ1)
Nếp mí người
châu Á
Nếp mí người
châu Âu
Nếp mí
hình bán
nguyệt
Chiều cao nếp mí 10mm phụ thuộc góc cung θ2 lớn
hơn ở mí mắt châu Á hơn châu Âu θ1. Do là kết
hợp các nếp mí
q2
q1
Hình 4-2 cho thấy vị trí chiều cao tùy ý , 10mm mí mắt
trên người châu Á. Nó cho thấy nếp mí 10 mm hình bán
nguyệt, áp dụng giả thuyết cho giải phẫu mắt châu Á (bờ
mi trên với lông mi đen). Điều này sẽ được coi là nếp mí
rất cao và không phải là dạng mí điển hình của châu Á.
(có thể tạo mí tạm thời bằng băng keo hay dán keo.)
Mũi tên màu đỏ đại diện cho một đường nối hai đầu
của hình bán nguyệt cao bất thường đến nếp mí thực sự
của mí mắt châu Á. Chúng xuyên qua một góc θ2 khi nó đi
qua góc mắt. Nếu thường là người ta mở rộng mắt người
châu Âu theo chiều ngang lớn hơn 5->10%, giả sử là giữ
cùng chiều dọc (lông mi màu nâu)
42
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
với hình dạng và chiều cao hình bán nguyệt chính xác
giống nhau, đường kết thúc của nếp mí đến đường cuối
cùng (mũi tên màu xanh lá cây) sẽ tạo thành một góc
nhỏ hơn θ1 cho mắt người châu Âu.
Góc θ2> θ1
Điều này giúp giải thích lý do tại sao nếp mí bán nguyệt
áp dụng cho một bệnh nhân châu Á sẽ làm cho mí mắt
nhìn tròn hơn và rõ hơn, mặc dù nó hoàn toàn phù hợp
cho cấu trúc giải phẫu người châu Âu.
Điều quan trọng là phải nhận ra rằng có một mức độ
cao làm thay đổi cấu trúc giải phẫu mí mắt trên của người
châu Á. Nó là một quan niệm sai lầm phổ biến mà tất cả
người châu Á được sinh ra mà không có nế pmí trên
trong khi thực tế một nửa dân số châu Á không có nếp
mí tự nhiên. Đối với mỗi người, hình dạng và chiều cao
của nếp mí và sự liên quan của nếp mí đối với hình dạng
khuôn mặt phải là một phần của đánh giá tổng thể trước
khi thực hiện phẫu thuật thẩm mỹ.
SO SÁNH PHƯƠNG PHÁP
KHÂU VỚI PHƯƠNG PHÁP
RẠCH DA
Phương pháp Khâu (Khâu vùi)
Nếu một tác giả nào mô tả kỹ thuật ép da tạo mí/mí mắt
ngoài (dùng kẹp giấy, hoặc thiết bị như sợi chỉ áp bên
ngoài mí từ Nhật Bản), hoặc khâu vùi xuyên qua độ dày mí
mắt từ trước ra sau (da tới kết mạc mi) hoặc quay ngược
lại phía trước (kết mạc tới da), và sau đó xem những vết
lõm này như một mí mắt, người ta sẽ bắt chước làm nếp
mà vị trí củamí không phải lúc nào cũng sinh lý. Chỉ khâu
được sử dụng trong phương pháp khâu vùi thường là
không tiêu (không tan, như nylon); các chỉ tiêu sẽ không
hiệu quả trong các phương pháp khâu này. Kết quả tạo
mí là thụ động và đáng chú ý là không tự nhiên khi nhìn
xuống. Nếp mígiả này được tạo ra từ các đường khâu ép
bên ngoài và các mũi khâu này cài vào nhau và xuyên qua
cơ một cách sinh lí, ở 90° tại điểm nhìn thẳng và thêm một
số điểm khác. Theo tôi điều đó làm giảm chức năng bình
thường của mí mắt.
Phương pháp rạch da
Sử dụng phương pháp rạch da đòi hỏi phẫu thuật viên
phải có kiến thức sâu rộng hơn nhiều, rất thuận lợi cho
phẫu thuật viên làm chủ được các kỹ thuật và thực hành.
Phương pháp này cho phép lấy bỏ da thừa trên mắt một
mí và làm cho mắt trông lớn hơn khi mở, tạo hình dạng
nếp mí, chiều cao nếp mí, nếp mí động, nếp mí sinh lí hơn,
vết sẹo nếp mí sẽ phai dần tự nhiên (sẹo nông, giảm kích
thước) khi mắt nhìn xuống (không nhìn thấy vết khâu
trên bề mặt da), và nó có thể đạt được mà không cần
phải sử dụng các mũi khâu chỉ không tiêu như phương
pháp khâu vùi. Nó mô phỏng nếp mí tự nhiên, thông qua
các sợi cân của của cơ nâng mi gắn vào dưới da dọc theo
nơi nếp mí tự nhiên sẽ được hình thành sau phẫu thuật.
Cắt chỉ sau 7->10 ngày vì thực sự không cần phải sử
dụng mũi khâu neo, cho dù chỉ tiêu hay chỉ không tiêu.
Mô phỏng gần như là nếp mítự nhiên khi lực co đều của
cơ nâng mi dọc theo nếp mí.
Người ta có thể so sánh hai phương pháp như thể
một người đang cố gắng tạo ra nếp gấp khuỷu tay trên
cánh tay ở mô hình tưởng tượng. Phương pháp khâu có
thể được sử dụng để tạo ra một “nếp” gần như bất cứ da
nơi nào trên cẳng tay và cánh tay. Nếu áp dụng quá ngắn
hoặc thấp trên cánh tay, giống như cái kẹp cầm máu, bên
cạnh cẳng tay của khớp khuỷu tay; nó không sinh lý nhưng
bạn sẽ thấy dấu vết lằn vào giống như nếpgấp khuỷu
tay. Nếu thực hiện quá cao (trên cánh tay hoặc phần bắp
tay), nếp gấp sẽ trông không tự nhiên và có thể cản trở
chức năng co giãn của cơ nhị đầu cẳng tay. Bên cạnh đó,
vùng nhận sẽ có sự hiện diện của nó trong các mô cơ.
Bệnh nhân than phiền nếp mí khi khâu tạo mí không
như mong đợi, khi khâu tạo mí sẽ làm cho vị trí của nếp
mícao thường dẫn đến sụp mi và tạo cảm giác giật mi,
thậm chí cảm giác có dị vật trong mí mắt khi chúng ta
khâu chôn trong da. Nếu khâu thấp thì nếp mí dễ mất đi
và để lại vết sẹo lõm trên mi mắt.
Cuối cùng là vấn đề lâu dài. Người ta thường chấp nhận
rằng phương pháp khâu vùi có tỷ lệ mất nếp mí rất cao
(tỉ lệ thất bại), có thể xảy ra vì phương pháp này thường
không lấy bỏ các mô thừa và các tổ chức cản trở để tạo
mí, trừ khi chúng ta mổ 1 đường nhỏ ở giữa và phía ngoài
mí mắt thì có thể lấy bỏ đi một ít mỡ. Chỉ khâu có thể bị
lỏng ra mặc dù chúng ta đã buột rất chặt để có hiệu quả,
chúng có xu hướng cắt qua tổ chức.
Đôi khi khâu đến 3 hay 4 mũi khâu vùi có thể bị lỏng
ra và không có tác dụng, và chỗ tạo nếp mí sẽ đầy lại như
trước, vì vậy nếp mí trông không hoàn thiện hoặc mất
tính liên tục và nó không đạt được hiệu quả vĩnh viễn.
Thực tế chúng tôi đã gặp, theo lịch sử và theo quan
điểm dân số, hình dạng nếp mí tự nhiên nhất ở người
châu Á hoặc là nếp mí giảm dần ở mũi (nơi nếp mí trên
hẹp và chạm về phía góc mắt trong) hoặc hình dạng song
song, nơi mà nếp mí chạy song song theo đường lông mi
(bờ mi). Những mô tả này tất nhiên có phần tùy ý; trong
thực tế có thể có nhiều dạng trung gian giữa nếp mí song
song và nếp mí có giảm dần ở mũi - ví dụ, nếp mí có thể
gần góc mắt trong nhưng không hoàn toàn chạm vào
góc mắt trong: hầu hết là song song hay ‘nếp mí có giảm
dần ở mũi? [Đây là ý kiến cá nhân tôi rằng nếp mí như
vậy vẫn nên được coi là song song, như mí trên và dưới
luôn luôn tham gia tại góc mắt trong với bờ mi trên dốc
xuống.]
Xét về chiều cao của nếp mí (tức là chiều rộng của
phần giữa khi mí mắt mở), ý kiến cho là có một dải rất
hẹp cho sự thay đổi chiều cao nếp mí (milimet)
4
Nếp mí: Mục đích và tiêu chuẩn
43
Nó liên quan tới kích thước thực tế của sụn mi trên ở
riêng từng người (thảo luận = Chương 1) khi mở mắt. Bờ
trên sụn mi sẽ quyết định chiều cao của nếp mí ở phần
giữa mí trên. Có thể thấp hơn một chút, nhưng không cao
hơn nhiều so với mức độ ‘tự nhiên’ của mí, mà không cần
phải đi sâu vào các vùng có thể xảy ra biến chứng.
Chúng tôi sẽ xem xét lại hình dạng, chiều cao, tính liên tục
và tính bền vững như các thông số cụ thể trong chương
sau về Tư vấn.
SINH LÍ HAY ĐAM MÊ ?
Tôi muốn chia sẻ một số quan điểm cá nhân. Trong y
học, phần lớn bệnh nhân ít hiểu biết hơn bác sĩ và nhiệm
vụ của bác sĩ là tư vấn cho bệnh nhân về điều gì là đúng
đắn, bình thường và tự nhiên về kết quả điều trị và kỳ
vọng của họ. Bác sĩ đã thề với lời tuyên thệ của Hypocate
về chữa bệnh “không gây hại”. Tuy nhiên, trong phẫu
thuật thẩm mỹ, lời thề này phần nào bị giảm đi, vì lý do
gì đó, có cả bệnh nhân
cũng như bác sĩ cảm thấy năng lực và sở thích của họ
vượt trội hơn mọi người, cũng như bất kỳ sự khôn
ngoan thông thường nào.
Bên cạnh những bệnh nhân có vấn đề về rối loạn chức
năng cơ thể, cũng có những bệnh nhân thường xuyên cảm
thấy họ muốn nếp mí rất cao, và không hiểu những rủi
ro liên quan, sẽ yêu cầu tiến hành quy trình như vậy và
bác sĩ phẫu thuật đồng ý. Trong một tình huống như thế
này, điều quan trọng là các bác sĩ phẫu thuật phải có kiến
thức và có kỷ thuật để tư vấn cho bệnh nhân về những lo
ngại về phẫu thuật khi phải đối mặt với yêu cầu độc đáo
như vậy. Bác sĩ phẫu thuật không được dao động theo
cách của bệnh nhân. Điều đặc biệt quan trọng là không
đi với trào lưu hiện tại hoặc phương tiện truyền thông.
Sự khác biệt này ở mức độ kiến thức có thể bị lệch theo
một trong hai hướng, thông qua sự thiếu hiểu biết của
bệnh nhân, hoặc bệnh nhân quá hiểu biết phải đối mặt
với bác sĩ phẫu thuật thiếu kiến thức.
REFERENCE
1. Chen WPD. Asian blepharoplasty. Ophthal Plast Reconstr Surg
1987;3:135–140.
45
THẢO LUẬN VÀ TƯ VẤN
Chúng tôi đã nói đến sự đa dạng về văn hóa và sự
khác biệt ngôn ngữ giữa các dân tộc người châu Á. Về
dân tộc, những người Châu Á thường yêu cầu loại phẫu
thuật thẩm mỹ này bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn
Quốc, Philipin và Đông Nam Á. Điều quan trọng cần lưu
ý là ở các nhóm dân tộc này thường có hơn một nửa dân
số có nếp mí và bạn có thể tư vấn với bệnh nhân muốn
trông giống người châu Á hơn là trông giống người mẫu
thời trang châu Âu.
Điều quan trọng là phẫu thuật viên phải nhận thức
được cách giao tiếp và sự hiểu lầm tồn tại giữa bác sĩ phẫu
thuật và bệnh nhân1-3. Điều này đặc biệt quan trọng trong
cuộc gặp đầu tiên, luôn cố gắng tìm ra nhu cầu của bệnh
nhân và đánh giá liệu chúng ta có thể đáp ứng được hay
không.
Thật thú vị khi quan sát thấy ở Nhật, Trung Quốc và
Hàn Quốc, rất nhiều người trẻ không có nếp mí đã trải
qua phẫu thuật tạo mí. Thông thường các bà mẹ khuyến
khích con gái của họ để thực hiện các phẫu thuật như: tạo
hình mũi, nâng vú, nâng má. Quan niệm về phẫu thuật mí
là để cải thiện vẻ đẹp của người, để ‘mở ra’ khuôn mặt
mới bằng kỹ thuật không xâm lấn, tương phản rõ ràng
với quan điểm với các phẫu thuật thẩm mỹ khác, liên
quan đến việc cấy ghép chất liệu tổng hợp trong cơ thể,
làm cho cơ thể ‘không hoàn toàn’ là bình thường.
Có thái độ hơi quá với bệnh nhân và người nhà của
họ muốn phẫu thuật mí mắt là có vấn đề nếu các bác sĩ
và bệnh nhân đã không thống nhất với nhau. Thường
thì bệnh nhân muốn đến gặp bác sĩ phẫu thuật có uy tín
và có năng lực để tư vấn, do chưa hài lòng với kết quả.
Họ phàn nàn về một “nếp mí nhỏ tự nhiên”, bác sĩ phẫu
thuật đã cho họ nếp mí to ra (Hình 5-1); Nếp mí không
đối xứng (Hình 5-2); Nếp mí bị mất theo thời gian (Hình
5-3); hoặc bác sĩ phẫu thuật đã làm cho họ bị ‘hõm’ trên
mí trên, do cắt bỏ quá nhiều túi mỡ (Hình 5-4). Bác sĩ
phẫu thuật phải tự nhận thức về những quy trình thực
hiện phẫu thuậttạo hình mí cổ điển, và áp dụng nó cho
người châu Á.
Những bệnh nhân có kết quả sau phẫu thuật không
như ý thường không hài lòng, bày tỏ ý kiến cho rằng họ
‘không nghĩ rằng nó sẽ rất đáng chú ý’. Có thể họ muốn
làm lại toàn bộ. Một vị trí nếp mí được thực hiện tốt hơn
là nếp mí tự nhiên và hình dạng của nếp mí phù hợp với
từng khuôn mặt.
46
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
• Bệnh nhân trình bày những mong muốn mà họ
muốn đạt được, cũng như phẫu thuật viên chỉ cho
bệnh nhân biết có thể đạt được tới đâu, có thể cho
phát hoạ trước trước về hình dạng và chiều cao
nếp mí khác nhau.
• Đến đặc điểm riêng trên từng khuôn mặt của bệnh
nhân, có lợi cho kích thước mí nhất định hơn những
người khác. Thảo luận các biện pháp khắc phục phù
hợp và ưu tiên kỹ thuật nào làm trước. Với kiến
thức, bệnh nhân có thể lựa chọn ưa thích về hình
dạng mí và chiều dài mí. Bác sĩ có thể tư vấn hoặc
đồng ý.
• Thảo luận về quy trình phẫu thuật: chuẩn bị các
bước trước phẫu thuật, chăm sóc ngày đầu tiên sau
phẫu thuật, tuần đầu tiên, hai tháng. Thông tin cho
bệnh nhân biết về các giai đoạn lành lành vết thương.
Thảo luận về tỷ lệ thành công tổng thể hoặc có khả
năng phải làm lại, tỷ lệ chỉnh sửa thêm tí cho hoàn
hảo. Nếu tiến hành phẫu thuật, giải thích các biến
chứng có thể xảy ra (bên dưới) và đồng ý ký vào.
• Chụp ảnh trước phẫu thuật gồm:ảnh nhìn thẳng,
nhìn lên, nhìn xuống, nhìn nghiêng. Đối với các
trường hợp sửa lại, chụp cận cảnh vết sẹo trước đó
để lưu lại. Hướng dẫn trước phẫu thuật được đưa
ra bao gồm: không dùng thuốc chống đông máu và
thảo dược.
• Tư vấn chế độ ăn uống sau phẫu thuật - những
điều không nên làm.
• Bài tập nhắm mở mắt sau phẫu thuật cho riêng
từng người: thời gian và lịch biểu.
Biến chứng tương tự như đã thấy trong bất kỳ phẫu thuật
tạo mí gồm: xuất huyết, mí mắt không đối xứng thoáng
qua, phai hoặc mờ của nếp mí, phù nề sau phẫu thuật kéo
dài, hình thành sẹo phì đại và hình thành nhiều nếp mí
Nếp mí tối ưu có thể rất đáng chú ý vì mắt là trọng tâm
của sự chú ý trong giao tiếp của con người.
Những người châu Á mà sống ở Mỹ thường có hai văn
hóa, và có nhận thức trước về việc làm thế nào để thực
hiện quy trình đó. Đây thường là lần phẫu thuật đầu tiên
của họ. Tôi nhận thấy là hầu hết bệnh nhân muốn bạn bè
của họ không biết họ đã thực hiện phẫu thuật, mặc dù có
một số ít bệnh nhân rất hân hoan và nói với mọi người
khi vết thương của họ đã hồi phục đến một mức độ mong
muốn. Một số bệnh nhân mong đợi sưng ít hoặc không
sưng sau phẫu thuật. Một số thì thích không có chỉ khâu,
trong khi một số người mong đợi không có sự can thiệp vào
mí mắt. Các bệnh nhân khác có thể mong đợi vết sưng sẽ
giảm trong một tuần. Hầu như tất cả các bệnh nhân đều
ngạc nhiên ở độ cao của nếp mí trong vài tuần đầu tiên,
và giảm dần cho tới khi lành vết thương.
TƯ VẤN
Tại phòng tư vấn, ngồi tư vấn đối diện với bệnh nhân
phải thật thoải mái, nơi chúng ta tìm được quan điểm
chung. Bệnh nhân sẽ bày tỏ mối quan tâm/mục tiêu của
mình để đạt được, có lẽ lý do để họ đến tư vấn.
Trong số các mục quan trọng của tư vấn tiếp theo là:
• Khám cơ bản về mắt: ghi lại thị lực được điều
chỉnh tốt nhất của bệnh nhân, tiền sử khô mắt,
chấn thương, sẹo hoặc sẹo, kích thước mở mí mắt
(theo chiều dọc và chiều ngang), sự phân biệt giữa
hai mắt, bất kỳ sụp mi hoặc co kéo mi mắt, có hoặc
không có nếp mí ở mỗi bên, không đối xứng, chức
năng cơ nâng mi (khi hoạt động) của mỗi mí mắt.
Có tiền sử phẫu thuật vùng mắt, ghi lại mức độ
sẹo trong mỗi lớp của mí mắt và bất kỳ nếp mí bất
thường nào, thực hiện các đánh giá khác nhau cho
tình trạng thiếu da hoặc sẹo.
5
Tư vấn
47
thuận lợi cho điều này trong một môi trường thoải mái.
Rất nhiều bệnh nhân có thể tự nhận thức về một vấn đề với
bất cứ ai mà họ giao tiếp, hoặc cần chỉ ra một tình trạng
cực đoan cần phải sửa chữa trước khi đạt được kết quả
thẩm mỹ, ví dụ sụp mi. Điều quan trọng là phải tùy chỉnh
các khía cạnh riêng của kỹ thuật cụ thể cho từng bệnh
nhân. Tôi chưa bao giờ thực hiện hai kỹ thuật chính xác
giống hệt nhau trên bất kỳ bệnh nhân nào để phẫu thuật
tạo mí mắt trên người châu Á.
Tôi cho cho bệnh nhân biết rằng nếp mí sau mổ sẽ cao
hơndự kiến, là kết quảphù nề mô. Cho bệnh nhân biết mức
độ phù nề sau phẫu thuật kéo dài ít nhất một vài tuần, và
hình dạng nếp mí có thể thay đổi từ tháng này sang tháng
khác và từ mí này sang mí mắt kia. Bệnh nhân được hướng
dẫn không mong đợi sự ổn định và hài lòng trong ít nhất
ba tháng. Tôi thấy rằng bệnh nhân hoàn toàn đồng ý quá
trình lành vết thương thông thường.
Hình dạng
Hình dạng nếp mí rõ ràng là một yếu tố quan trọng để
thảo luận trước khi phẫu thuật. Phần lớn bệnh nhân mà
tôi gặp phải đều biết những gì họ muốn về hình dạng nếp
mí và mức độ đẹp của nó. Đối với những bệnh nhân không
biết, họ được thông báo về mong muốn của nếp mí giảm
dần ở mũi hoặc nếp mí song song,
THẢO LUẬN VỀ CHIỀU CAO,
HÌNH DẠNG, LIÊN TỤC VÀ LÂU
DÀI
Mô tả hình dạng nếp mí có bốn tham số: chiều cao, hình
dạng, độ liên tục và tính lâu dài (Hình 5-5). Đây là những
thảo luận được thảo luận thêm tại buổi tư vấn.
Chiều cao
Trong chương trước, tôi đã đề cập đến chiều cao bình
thường của sụn mi trên là 6,5-7,5 mm ở phụ nữ châu Á
(hiếm 8 mm). Trên lâm sàng, nếu bố trí nếp mí cao 10mm
như được đề xuất trong một số tài liệu phẫu thuật thẩm
mỹ sẽ quá cao đối với người Châu Á 2.3. Vị trí nếp mí nên
xác định trước khi đo chiều cao giải phẫu thực sự của sụn
mi trên từng bệnh nhân, sử dụng nó như là một hướng
dẫn tương đối trong việc xác định nếp mí.
Bệnh nhân mới được tôi tư vấn đầu tiên, tôi lắng nghe
những than phiền của họ và cố gắng phân loại các mong
muốn thành các khách hàng tương đối (hoặc danh sách
mong muốn), bao gồm những điều có thể được cải thiện,
so với cải thiện hay không cải thiện. Cuối cùng các bác sĩ
phẫu thuật và bệnh nhân cần phải đồng ý cùng nhau về
những gì có lợi và cần làm cho bệnh nhân hiểu. Tôi luôn
cố gắng khuyến khích bệnh nhân nói lên tâm tư của họ,
ngay cả khi họ e thẹn, và tôi sẽ cố gắng tạo điều kiện
Chiều cao
Lâu dài
Hình dạng
Liên tục
48
Phẫu thuật tạo mí mắt người châu Á
Hình 5-6 cho thấy một bệnh nhân có chức năng hoạt
động của mắt không bình thường, test vận động nhãn
cầu thì phát hiện ra liệt cơ thẳng trên bên phải (bên trái
của ảnh). Thường thì có sự thiếu hụt trong cơ nâng mi,
cũng được kiểm soát bởi nhánh trên của dây thần kinh
vận nhãn (thn kinh III). Chức năng của cơ nâng mi có thể
bị giảm đi và điều này sẽ ảnh hưởng đến kết quả của bất
kỳ quy trình phẫu nào để tạo nếp mí mắt.
Các khuyến cáo về chế độ ăn uống sau phẫu thuật
không quan trọng cũng được cung cấp để tạo điều kiện
chữa lành vết thương sau phẫu thuật (đây là một khía
cạnh của Y học cổ truyền Trung Quốc có phần gây rối và
làm bối rối các phẫu thuật viên phương Tây).
Ở California, sự đồng ý thông báo về phẫu thuật là rất
quan trọng và chúng tôi thực hiện nó trong phòng tư vấn
cũng như các cơ sở phẫu thuật ngoại trú. Tất cả bệnh
nhân thẩm mỹ phải có tài liệu hướng dẫn đầy đủ về điều
kiện hiện tại. Điều này thường bao gồm: nhìn phía trước,
nhìn bên xiên, nhìn lên và nhìn xuống và, quan trọng
nhất nếu bệnh nhân đã phẫu thuật trước đó chưa, chụp
cận cảnh vết sẹo mổ trước hoặc mí mắt. Tất cả những
trường hợp mổ lại, chúng tôi điền đầy đủ thông tin là rất
hữu ích. Trong môi trường có uy tín, tài liệu đầy đủ thực
sự là cách làm tốt nhất.
Nếu một bệnh nhân có vẻ cực kỳ lo lắng tại phòng tư
vấn, tôi có thể cố gắng gọi cho họ vào đêm trước khi làm
thủ thuật để đảm bảo tất cả đều tốt. Vào ngày phẫu
thuật, trong khu vực phẫu thuật, tôi lại chào bệnh nhân
và nhắc lại (các) mục tiêu của cuộc mổ. Nếu có bất kỳ sự
khác biệt giữa những gì tôi đã nói với họ và những gì họ
mong đợi của phẫu thuật, tôi sẽ luôn trì hoãn phẫu thuật
cho đến một ngày khác, mặc dù điều này là cực kỳ hiếm.
Sau đây là những ví dụ về lời khuyên trước phẫu thuật
cho bệnh nhân về những kỳ vọng sau phẫu thuật:
1. Vết thương được chăm sóc bằng băng tại chỗ trong
24 giờ đầu. Người ta có thể mong đợi một mức độ
sưng nhẹ để bắt đầu sau ngày đầu tiên, với sưng
tối thiểu nhẹ trên khu vực trước vách ngăn.
2. Sưng sẽ bắt đầu giảm dần vào ngày thứ 4. Vào
ngày thứ bảy, một hình thức mí bình thường sẽ ở
mức cao hơn 40-50% so với kết quả sau cùng
và không muốn của nếp mí bán nguyệt, nếp mí (phương
Tây) xuất hiện không phù hợp trên mặt người Châu Á.
Tất nhiên,quyết định cuối cùng thuộc về bệnh nhân. Tuy
nhiên, sau khi giải thích không bệnh nhân nào muốn chọn
nếp mí bán nguyệt sau khi có hình dạng nếp mí khác
nhau và mức độ phổ biến ở người châu Á.
Liên tục và lâu dài
Đây là những mục tiêu mà tôi cố gắng đạt được trong
mọi ca phẫu thuật. Sau phẫu thuật nếp mí hình thành
liên tục dọc theo chiều rộng của nếp mi mà không có bất
kỳ đứt đoạn và nhiều nếp mí. Nếp mí vĩnh viễn sẽ tồn tại
hơn 24 tháng. Tôi đề cập đến hai yếu tố này bởi vì có
một số lượng lớn các kỹ thuật trong y văn, không thể dự
đoán được và kéo dài kết quả sau phẫu thuật.
Tôi thông báo cho bệnh nhân biết là có xác suất 5%
cần sửa lại nếu nếp mí không sâu và không đều. Đây là
một ước tính thực tế trong kỹ thuật của tôi, và hầu hết
bệnh nhân cảm thấy thoải mái với nó. Các bác sĩ phẫu
thuật khác có thể muốn thông báo cho bệnh nhân về tỷ
lệ sửa lại từ 10 - 20%.
Sau khi giải thích đầy đủ các mục tiêu đề ra, tiếp tục
giải thích về quy trình liên quan đến, trước, trong và sau
khi phẫu thuật và những mong đợi của bệnh nhân. Điều
này bao gồm việc ngừng sử dụng aspirin bắt buộc trước
khi phẫu thuật, bất kỳ công thứcthảo dược, nhân sâm và
các loại trà thảo mộc nào, các liệu pháp điều trị bằng
thuốc chống đông máu.
Đưa cho bệnh nhân một loạt hướng dẫn chi tiết trước
và sau phẫu thuật, bao gồm nghỉ ngơi trong ngày đầu tiên,
sử dụng băng ép cũng như thuốc mỡ kháng sinh, những
gì mong đợi và hướng dẫn gọi cho bác sĩ. Nhân viên của
cơ sở gọi điện theo dõi trong những ngày tiếp theo sau
phẫu thuật, để xác đinh rằng bệnh nhân ổn định và xác
nhận ngày trở lại cắt chỉ.
Trong hồ sơ bệnh án, tôi ghi lại cụ thể đặc điểm cấu trúc
khuôn mặt (sụp mi, cơ trán, lõm trên mí ), những gì đã
được đề cập đến cho họ (ví dụ, bờ mi trên, hõm mắt),
mong muốn và sở thích của bệnh nhân (nếp mí hơi cao,
nếp mí hơi thấp, hình dạng nếp mí được chọn theo cấu
trúc da) chúng ta thảo luận rằng, mặc dù sở thích đã nêu,
kết quả mong muốn của họ có thể đạt được. Nó cũng sẽ
được ghi nhận vào để theo dõi nếu bệnh nhân có da khô
dày, hoặc da nhờn, nhọt bề mặt, hoặc mụn trứng cá đỏ.
5
Tư Vấn
49
(Nói cách khác, Nếp mí nhìn và đo vuông góc sẽ
trông giống như 140% của những gì ban đầu được
thiết kế.)
3. Sau 2 tuần thì sưng sẽ giảm xuống 80%.
4. Phần còn lại 20% sưng sẽ mất thêm sáu tuần nữa
để giảm dần; quy tắc {80%: 2 tuần / 20%: 8 tuần}.
5. Chiều cao mí không di chuyển; nó chỉ tăng lên khi
vết thương sưng và sau đó giảm xuống dần
6. Vết thương căng trong 5-6 tuần.
7. Vết thương đang lành có thể kích thích (ngứa). Điều
này có thể tăng lên và trở nên đỏ nếu bệnh nhân ăn
thức các loại thực phẩm cay/hoặc chiên. Thực phẩm
hữu cơ như sô cô la, thực phẩm giàu cholesterol như
cá vỏ (tôm, trai, tôm hùm) nên tránh như một quy
luật chung
8. Giai đoạn vết thương (’vết thương cảm giác đang
lành’) có thể xảy ra khoảng từ 4-12 tuần. Thuốc mỡ
corticosteroid bôi tại chỗ có thể được bác sĩ kê toa
khi cần thiết.
9. Về mặt lâm sàng, sưng tối thiểu có thể kéo dài trong
6 tháng trước khi có đánh giá tổng thể.
REFERENCES
1. Chen WPD. Insights from a series on Asian blepharoplasty.
Presented at the 21st Annual Scientific Symposium of the American
Society of Ophthalmic Plastic and Reconstructive Surgery, Atlanta,
1990.
2. Chen WPD. Asian blepharoplasty. Ophthal Plast Reconstr Surg
1987;3:135–140.
3. Chen WPD. A comparison of Caucasian and Asian blepharoplasty.
Ophthal Pract 1991;9:216–222.
51
PHƯƠNG PHÁP KHÂU VÙI
Chương này cung cấp một cái nhìn tổng quan về các
phương pháp khâu vùi tạo mí (còn được gọi trong các
ngôn ngữ Châu Á như là các phương pháp ‘không xâm
lấn’ hoặc ‘không cắt’). Lịch sử và những thay đổi của kỹ
thuật này sẽ đề cập.
SỰ PHÁT TRIỂN KỸ THUẬT TẠO MÍ ĐÔI
THẨM MỸ TRONG Y VĂN NHẬT
Xuất hiện từ rất sớm y học Nhật Bản là phương pháp
khâu vùi. Năm 1896, Mikamo1 là người mô tả đầu tiên
về phương pháp khâu vùi. Mikamo thực hiện quy trình
trên một phụ nữ Nhật không có nếp mí. Các nếp mí được
thiết kế là 6 - 8mm từ bờ mi. Dùng chỉ Silk 4. 0 khâu 3
mũi trên nếp mí; khâu từ da mi xuyên qua toàn bộ lớp
da đến kết mạc mi rồi quay ngược trở lại ra da. Độ sâu
của nếp mí đã được điều chỉnh theotừng ngày cắt chỉ,
khoảng từ 2 đến 6 ngày.
Đầu năm 1926, Uchida2 đã mô tả phương pháp khâu
của mình cho kỹ thuật tạo mắt hai mí. Ông đã thực hiện
các thủ tục trên 1523 mí mắt ở 396 bệnh nhân nam và 444
nữ. Uchida mô tả hình dạng nếp mí như hình dạng quạt,
có nghĩa là nếp mí hơi tròn. Các nếp mí được thiết kế để
được 7-8 mm từ bờ mi. Khâu 3 mũi chỉ tiêu Cargut trên
mỗi mí mắt, chiều rộng mỗi mũi khâu khoảng 2 mm. Cắt
chỉ sau 4 ngày.
The first mention of an external incision method dates
to Năm 1929, khi Maruo3đề cập đến đầu tiên của một
phương pháp rạch bên ngoài, báo cáo về kỹ thuật khâu và
kỹ thuật rạch. Maruo yêu cầu rạch da qua mí mắt, cách bờ
mi 7 mm. Kỹ thuật đóng da, từ mép mổ khâu phủ da qua
bờ trên sụn mi đến kết mạc mi và ra da lại mép da còn lại.
Dùng chỉ cargut 5. 0 khâu 4 mũi dọc theo bờ trên sụn mi,
gắn bờ da vào mặt trên của sụn. Khoảng cách giữa mỗi
mũi khâu là 5-6 mm. Maruo cũng thảo luận có nên cắt bỏ
dưới da 5 mm cao hơn và thấp hơn so với đường rạch.
Năm 1933, ưu tiên cho một nếp mí cao hơn trở nên rõ
ràng khi Hata4 báo cáo phương pháp khâu vùi. Đường mí
cách bờ mi 10 mm. Hata sử dụng ba 3 mũi khâu bằng chỉ
silk 5. 0 được trang bị hai mặt, truyền chúng từ sụn mi
đến da, cố định chúng lên bề mặt da bằng nút nhỏ. Mỗi
mũi khâu cần khoảng cách 1 mm để gắn nút. Cắt chỉ sau
8-10 ngày.
52
Phẫu thuật tạo mí mắt người châu Á
và cắt bỏ hoàn toàn các túi mỡ trên ổ mắt (trước cơ
nâng mi). Mặc dù ông đã dùng chỉ Silk để khâu tạo mí
tăng cường từ da-sụn- da, nhưng ông tin rằng chỉ khâu
này không phải lúc nào cũng cần thiết. Kỹ thuật tạo hình
chữ Z để loại bỏ một nếp quạt mắt. Bài báo của Millard là
một minh họa liên quan đến các bác sĩ phẫu thuật phương
Tây và bệnh nhân châu Á trong những năm 1950.
Năm 1961, Pang19 mô tả khâu qua toàn bộ mí mắt
“trans-lid” để tạo nếp mí: dùng chỉ silk 4. 0 khâu 3 mũi
từ da đến kết mạc mi rồi ra da, cắt chỉ sau 10 ngày.
Fernandez20 Uchida21 và Khoo Boo-Chai22 cũng viết bài
về kỹ thuật rạch bên ngoài. Năm 1962, Uchida mô tả sự
hiện diện của các phần mỡ khác nhau và những thay đổi
của nó trên của người châu Á. Ông mô tả có liên quan đến
việc cắt bỏ chọn lọc các mô dưới da trước sụn, bao gồm:
da, cơ vòng mi và mỡ, mỡ trước cơ nâng mi và thậm chí
một số mỡ trước vách ngăn.
Năm 1964, Khoo Boo-Chai23-26 ủng hộ kỹ thuật khâu
xuyên kết mạc mi đơn giản hơn cho những người trẻ tuổi
với lượng mỡ và da dư ít.
Năm 1972 Mutou và Mutou27 cũng mô tả kỹ thuật khâu
vùi. Trong bài báo này, Mutou và Mutou đã làm sang tỏ
quan niệm tạo mí đôi và phương pháp ít xâm lấn cho
bệnh nhân có mí mắt mỏng và mỡ dưới da ít. Họ đã mổ
cho 4805 ca từ 1965 và1969, trong đó 90% là phụ nữ,
25% ưa thích nếp mí song song, và 75% thích nếp mí
dạng cánh quạt (tương đương với nếp mí giảm dần ở
mũi nhưng dần dần mở rộng về phía ngoài của khe mí).
Để làm cho các nếp mí giảm dần ở mũi thì các tác giả đã
khâu buột da góc mắt trong vào dây chằng. Họ giải thích
rằng: có ba sự lựa chọn cho chiều cao nếp mí: thấp nhất
4-5 mm, được gọi là ‘ mí đôi sâu’ (sâu ở đây cảm giác
giải phẫu sâu về bên trong), bình thường 6-8 mm, và
cao nhất 9-12 mm cho những người có đôi mắt to. Kỹ
thuật thực tế là khâu vòng 2 mũi khâu bằng chỉ 6-0 từ
kết mạc: mỗi mũi khâu có chiều ngang 5 mm, cao hơn 3
mm từ bờ trên sụn mi (xem Faden trong Chương 21).
Mỗi đầu lúc đó sẽ xuyên từ kết mạc mi ra da (ngang 1
mm). Một đầu xuyên ra da và tiếp tục cho xuyên dưới da
để buột với đầu còn trên da. Những vị trí mũi khâu của
các tác giả trước đây chỉ khâu 3 mũi: 1/3 trong và 1/3
giữa và 1/3 ngoài của mí trên. Chỉ khâu được vùi dưới
da một cách cẩn thận. Họ bắt đầu nhận thấy là có sụp mi
nhẹ ở hầu hết các trường hợp. Mutou và Mutou27 ban
đầu được báo cáo vào năm 1972, tỷ lệ mất nếp mí là 1,
3% ở những bệnh nhân đã trải qua khâu vòng buột
trong da. Sau đó, chỉ có hai mũi khâu được sử dụng
nhưng do tình trạng sụp mi sau phẫu thuật (yếu và rơi
mí mắt)
Trong một báo cáo toàn văn vào năm 1938, Hayashi5
mô tả hai phương pháp tạo nếp mí. Kỹ thuật khâu vùi
của ông được mô phỏng sau phương pháp của Mikamo
nhưng nó mới ở chỗ là nó được thiết kế cho một nếp mí
giảm dần ở mũi. Khâu 3 mũi trên mỗi mí mắt. Mũi khâu
giữa và ngoài thì khâu cao hơn đường mí hay sụn mi,
mũi khâu trong thì khâu bên dưới đường mí hoặc sụn
mi. Phương pháp rạch da của Hayashi là một cuộc cách
mạng, trong đó ông ủng hộ việc cắt bỏ 1 phần cơ vòng
mi trước sụn ở vị trí rạch da. Ông ủng hộ việc khâu mũi
rời da-sụn mi-da, và dùng chỉ silk 4. 0 để khâu da xen
giữa các mũi khâu trên. Nếp mí được bố trí cách bờ mi:
ở trong 5mm, giữa 6mm, và ngoài 7mm, cho nếp mí có
giảm dần ở mũi. Cắt chỉ sau 4 ngày.
Năm 1947, Inoue6 đã đề xuất cắt bỏ ‘các tổ chức liên
kết’ ở dưới da nằm giữa đường mổ và bờ mi. Khâu chỉ
silk 5. 0 để đóng vết mổ là da-sụn mi-da, cắt chỉ sau 2-3
ngày.
Năm 1950, Mitsui7 tiếp tục cải tiến quy trình phẫu
thuật tạo mí đôi khi ông mô tả việc loại bỏ mô liên kết
trước sụn, bao gồm cả cơ vòng mi và mỡ trước sụn.
Đóng vết mổ thực hiện theo hai bước: Đầu tiên, dùng chỉ
Nylon khâu 5 mũi rời nhau từ bờ dưới của mép da đến
bờ trước mặt trên của sụn mi. Thứ hai, dùng chỉ silk 5. 0
khâu da-daxen kẽ. Cắt chỉ: nylon sau 2-3 ngày, chỉ silk
sau 7-8 ngày.
Ohashi8 đã mô tả phẫu thuật tạo mí đôi bằng dao mổ
điện. Dùng đầu đốt để đốt vuông góc với da, dọc theo
đường mí cho tới khi thấy da hơi phồng lên; hai đường
vừa mổ-vừa cầm máu dọc theo nếp mí. Năm 1951, Hirose9
và Ikegami10 đã thảo luận vắn tắt về phương pháp rạch
da tạo mí nhưng không đưa ra bất kỳ thông tin mới nào
Các quy trình nêu trên chỉ được mô tả trong y văn học
Nhật Bản và không tìm thấy các tác giảphương Tây. Kết
quả là, việc xuất bản các bài viết về quy trình này trong
các tạp chí y học phương Tây trong những năm 1950
làm cho các kỹ thuật có vẻ mới về khái niệm (phương
Tây). Giữa năm 1896 và 1950, 11 bài báo liên quan đến
phương pháp khâu buột và 8 bài viết về phương pháp rạch
bên ngoài để tạo mí đôi cũng đã được công bố trong tài
liệu y học Nhật Bản. Về sau, phần lớn y văn phương Tây
mô tả các kỹ thuật khá giống với các tài liệu được mô tả
trong các y văn ban đầu của Nhật.
Năm 1954, Sayoc11-17 viết bài đầu tiên được xuất bản
trong các tài liệu tiếng Anh về kỹ thuật rạch bên ngoài.
năm 1955 Millard18 đã mô tả kinh nghiệm của ông ở Quân
đội Hàn Quốc. Vào thời điểm đó, ông cho rằng người
Hàn Quốc mong muốn ‘mắt tròn’ như người phương Tây
hơn là”mắt xếch”. Millard tin rằng người Hàn không có
nếp mílà do nhiều da và mỡ trên ổ mắt. Millard đã mô tả
làphải cắt bỏ một dải da rộng 3 mm, cắt bỏ cả bên dưới
và trên của bờ da, cắt tỉa các cơ vòng mi dọc theo mép
mổ dưới
6 Phương pháp khâu vùi 53
Một yếu tố quan trọng không được thảo luận là hầu hết
bệnh nhân trải qua các phương pháp khâu nhận ra rằng
khi nếp mí mất đi thì tốt nhất là áp dụng phương pháp
rạch da, và do đó có thể tiến hành trực tiếp để được tư
vấn với những người đang học mổ.
Nói chung, phương pháp khâu vùi luôn được coi là
một kỹ thuật tương đối không xâm lấn thường dẫn đến
ít sưng sau phẫu thuật. Bất lợi chính của nó là nếp mi có
thể mất đi theo thời gian. Đó một bất lợi đáng kể khi nó
xảy ra, làm mất thời gian, tiền bạc và công sức. (ít được
thực hiện và dự kiến ít giữ đươc lâu. Xem Chương 21 về
hiệu quả khâu tạo mí trên sụn mi, hiệu ứng ‘Faden’ gây
cản trở cơ nâng mi bị khâu cố định và hiệu quả khi dùng
chỉ không tiêu để khâu. )
Có những bài báo khác được mô tả việc sử dụng
phương pháp đường rạch nhỏ với việc loại bỏ các mô dọc
theo bờ trên sụn mi, cùng với khâu chỉ vùi. Ví dụ, tờ báo
của Lee, Baek và Chung32 mô tả việc sử dụng nylon 7-0
thông qua vết rạch da nhỏ, áp dụng nó như một hình thoi
liên tục, tạo thành ba vòng lục giác trải rộng theo chiều
rộng của nếp mí; điều này được kết hợp với việc loại bỏ
các mô (cơ, mỡ và vách ngăn). Họ áp dụng nó trong 327
bệnh nhân với một theo dõi trung bình chỉ 13 tháng.
Từ năm 1970 đến 1990, đã có ít nhất hàng chục bài báo
mô tả các phương pháp rạch bên ngoài. Trong số đó, bài
báo của Zubiri33 năm 1981 mô tả phép đo kích thước
chiều dọc của phần trên của sụn mi như một cách để
hướng dẫn vị trí của vết rạch mí. Nó xấp xỉ một vị trí nếp
mí thực sự và cũng là phương pháp tôi ưa thích. Năm
1995, sách phẫu thuật tạo hình mí đôi ở người châu Á:
Atlas phẫu thuật đã xuất bản, và đã có ít nhất hơn 40 đề
tài gồm tạo hình góc mắt trong, cũng như mô tả đường
rạch nhỏ, hay các dạng rạch “một phần” hay các dạng cố
định nếp mí gồm cố định ‘da-vách ngăn’ và cố định ‘cơ
vòng mi- cơ nâng mi’
Năm 1973 Mutou đã thay đổi kỹ thuật này bằng cách
sử dụng một mũi khâu duy nhất. Theo dõi sụp mi sau
mổ phản ảnh hiệu ứng Faden (giảm chức năng co của cơ
nâng mi), mà tôi thảo luận trong Chương 21, điều này là
do mũi khâu đặt cao, cũng như sử dụng các chỉ khâu
không tiêu để gắn phần trước và phần sau của sụn mi.
Phương pháp khâu vùi có ưu điểm: tương đối không
xâm lấn và thường ít sưng sau phẫu thuật (ít thời gian
nghỉ dưỡng). Nhược điểm chính là nếp mí có thể mất đi
theo thời gian (Hình 6-1). Tôi sẽ thảo luận sâu thêm về
tác dụng của khâu vùi trong Chương 21.
Năm 1979, Bác sĩ Yukio Shirakabe28 đã cải tiến phương
pháp khâu ép có nút chặn của Hata4 (1933); phương pháp
của ông bao gồm: rạch da bên ngoài tiếp theo bóc tách
da ra khỏi vùng trước sụn mi, đóng da và cố định nếp mí
bằng dùng sáu mũi khâu nylon 4-0, với mỗi đầuchỉ của
mỗi cặp thì gắn một nốt (12 nốt).
Trong bài báo của họ năm 2000, Homma và các đồng
nghiệp29 báo cáo rằng Mutou có tỷ lệ nếp mí thoái triển
là 3, 4% trong 1457 bệnh nhân trong 7 năm từ1986. Họ
chỉ ra rằng kỹ thuật này có thể áp dụng cho những bệnh
nhân có tổ chức mỡ ít hoặc chỉ nề nhẹ. Họ trích dẫn những
thuận lợi gồm: ít sưng sau phẫu thuật, không cần cắt chỉ
và sẹo không rõ. Quy trình gồm: lật sụn mi trên ra, dùng
chỉ nylon 7.0 xuyên qua kết mạc tại điểm 3 mmtrên bờ
trên sụn mi. Nó đi qua kết mạc khoảng 5 mm. Đầu thứ
nhất xuyên qua kết mạc 1mm liền kề và xuyên ra trước
da mi. Đầu tiếp theo xuyên từ kết mạc ra da. Đầu thứ
nhất sau đó xuyên dưới da tới gặp vị trí đầu thứ hai trên
da, hai đầu buột lại tạo nút chặn ở trên da.
Các tác giả khác, bao gồm Tsurukiri30 đã báo cáo tỷ lệ mất
nếp mí là 10%. Satou và Ichida31 tỷ lệ thoái lui là 16, 8%.
Homma và các đồng nghiệp29 cho rằng tỷ lệ mất nếp mí
cao hơn ở những người có da mí dày hoặc có mỡ dưới
da nhiều. Họ thừa nhận khó khăn trong việcđánh giá tỷ
lệ mất nếp mí vì bệnh nhân thường không quay trở lại
để theo dõi, và thường họ tìm bác sĩ khác để sửa lại khi
quy trình mổ đầu tiên không khả quan.
54
Phẫu thuật tạo mí mắt người châu Á
CÁC KỸ THUẬT KHÂU VÙI
Trong kỹ thuật khâu vùi, phương pháp kết hợp cân cơ
nâng mi dọc theo bờ trên sụn mi và mô dưới da, mà
không có sự cắt bỏ da, mặc dù có xuyên kim qua da, kết
mạc hoặc vết rạch da nhỏ.
Tôi đã phân loại tất cả các phương pháp khâu này đã
được xuất bản bằng ngôn ngữ châu Á và trong tài liệu y
học tiếng Anh thành sáu biến thể khác nhau, tùy thuộc
vào đường vào và đường ra cho mỗi đoạn khâu (Phụ lục)
Nói chung, gây tê tại chỗ bằng thuốc tê lidocaine
hydrochloride (Xylocaine). Lật mí mắt trên lật ra và khâu
ba mũi khâu đôi được đặt từ phía kết mạc xuyên qua bờ
trên sụn mi (Bước 1). Một trong ba lựa chọn thay thế
sau đây có thể được thực hiện để hoàn thành kỹ thuật
khâu qua kết mạc.
6 Phương pháp khâu vùi 55
2
2
3
Da
Cơ vòng mi
Cơ nâng mi
Cơ Müller
Kết mạc mi
1
1
2
2
3
Cách 1: Kỹ thuật khâu toàn bộ
(Hình 6-2)
Sau khi đi qua kết mạc với mí mắt lật ra, cả hai đầu của
đường khâu đi qua bề mặt da
(Bước 2); Sau đó một đầu xuyên qua dưới da để thoát
ra tại vị trí mà đầu kia sẽ ra da (Bước 3). Hai đầu được
buột lại và chôn dưới da.
56
Phẫu thuật tạo mí mắt người châu Á
Da
Cơ vòng mi
Cơ nâng mi
Cơ Müller
Kết mạc mi
3
Khoảng rạch da
2
2
3
Khoảng rạch da
2
2
1
1
Cách2: Kỹ thuật khâu
toàn bộ với các vết mổ
nhỏ (Hình 6-3)
Sau mỗi đầu kim đi qua kết mạc (Bước 1 như trong phần
trước), một đầu của chỉ khâu xuyên qua mí mắt và thoát
ra qua một khoảng rạch da (Bước 2). Đầu kia đi qua da
bên cạnh tới khoảng rạch da và xuyên lại dưới da để tham
gia khâu vào mũi đầu tiên, một lần nữa thoát ra ngoài qua
khoảng rạch da (Bước 3)
Hai đầu của đường khâu được buột lại và chôn dưới da
(xem Khoo Boo-Chai24). Như trong Cách1, mũi khâu đè vào
cơ Müller, cơ nâng mi và một ít cơ vòng mi trước sụn, tạo
ra một vết sẹo giữa các tổ chức dưới da dọc theo bờ trên
sụn mi và cân cơ nâng mi-cơ Müller. Cách này được sử
dụng phổ biến nhất trong số các phương pháp khâu vùi.
6 Phương pháp khâu vùi
57
A’
B’
B
A
LA
M
C
1
3
2
2
4
Hình 6-4 (trên) cho thấy phương pháp của Khoo Boo-
Chai cách đây 50 năm. Trong phương pháp Boo-Chai, chỉ
2 kim điển hình được sử dụng là nylon 5. 0 hoặc 6. Đoạn
đầu tiên (1) liên quan đến việclật kết mạc và xuyên nó
qua một vài milimet (A′-B′), thường cao hơn vài milimet
so với bờ mi trên. Đoạn thứ hai (2) xuyên cây kim
58
Phẫu thuật tạo mí mắt người châu Á
về phía da, hướng dọc theo bờ trên của sụn mi (B′ - B).
Tương tự như vậy đối với đầu khác của đường khâu, đoạn
thứ ba (3) đi từ A′ - A. (Nếu hai đầu lúc này buột vào với
nhau trên da, nó sẽ nén đầy đủ độ dày: qua cơ Müller, cân
cơ nâng mi, cũng như cơ vòng mi, lệch nhau theo chiều
trước sau. Nó cũng vô tình tạo ra hiệu ứng Faden (xem
Chương 21) tại mỗi vị trí của B′ - B và A′ - A, và sự co lại
theo chiều ngang của cân cơ nâng mi ở A′ - B ′). Trong
thực tế, kim thứ hai thoát ra khỏi da tại A được khâu lại
(4) dưới da để vượt qua B, thoát ra ở một vùng da
nhỏ đã mở ở đó. Các đầu chỉ được buột chắc chắn và
nút buột nhỏ vùi vào vết mổ. Theo truyền thống, các
phương pháp khâu sử dụng ba mũi khâu: trong, giữa và
ngoài.
Hình 6-4 (dưới) Mặt cắt ngang của phương pháp Khoo
Boo- Chai. Lưu ý vị trí của đường khâu chôn vùi bao
gồm: cơ nâng mi hoạt động (màu hồng) ở điểm cao hơn
bờ trên sụn mi, cùng với cơ vòng mi đang giãn ra (màu
xám).
6 Phương pháp khâu vùi
59
Vị trí chiến lược
của chỉ khâu cơ
vòng mit tạo ra
nếp mí
2
1
Exit
Đầu vào của cả 2 kim
Da lõm vào
Da
Cơ vòng mi
Cơ nâng mi
Cơ Müller’
Kết mạc mi
Cách3: Kỹ thuật khâu xuyên
cơ-kết mạc (Hình 6-5)
Không đâm xuyên qua da, một đầu của mũi khâu xuyên
qua cơ Müller và cân cơ nâng mi đến mặt phẳng dọc
theo bờ trên sụn mi. Kim còn lại trong mặt phẳng dưới
da; khâu được đảo ngược qua cùng một tổ chức và thoát
qua kết mạc. Các kim khác ở phía kết mạc sau đó xuyên
dưới
kết và gặp mũi đầu tiên trên bề mặt kết mạc (Bước 2).
Buột hai đầu của đường khâu lại và chôn dưới kết mạc
phía bờ trên sụn mi. Một số bác sĩ phẫu thuật thích cắt ra
một miếng nhỏ sụn mi và chôn nút khâu vào đó để ngăn
ngừa kích thích giác mạc hoặc kết mạc.
Có ba cách khác nhau của phương pháp khâu vùi, tiếp cận
từ phía da. Đây là như sau
60
Phẫu thuật tạo mí mắt người châu Á
Đường rạch nhỏ trước
1
2
1
2
1
Da
Cơ vòng mi
Cơ nâng mi
Cơ Müller
Kết mạc mi
Cách4: Kỹ thuật khâu trong cơ
và da (không xuyên thủng kết
mạc) (Hình 6-6)
Hai vết rạch nhỏ được thực hiện ở phía da ở mí mắt.
Khâu nylon 6. 0 hoặc poly-propylene được xuyên từ vết
mổ đầu tiên qua cân cơ nâng mi và cơ Müller.
Mũi khâu lúc đó xuyên qua 1 đoạn ngắn ngắn dọc theonếp
mí đã vẽ trước khi quay ngược lại ra da thông qua vết
mổ nhỏ (Bước 1). Mũi khâu xuyên dưới da và đâm ra chỗ
mũi khâu đầu tiên; sau đó buột lại và chôn dưới da (Bước
2). Mutou và Mutou27 sử dụng hai trong số những đường
khâu này để tạo thành nếp mí.
6 Phương pháp khâu vùi
61
Cách 5: Kim xoắn và phương pháp
nén (Khâu xuyên dưới da và trong
sụn mi với kim xoắn ốc) (Hình 6-7)
Một biến thể thứ 5 đã được báo cáo bởi Yang34 ở Trung
Quốc, theo đó một số vết mổ nhỏ dọc theo bờ trên sụn
mi. Một cây kim xoắn ốc (hoặc công cụ tương đương như
kim lấy tủy răng số 6 trong nha khoa) được xoay qua
mặt phẳng dưới da và
sau đó là mặt phẳng dưới cơ vòng mi dọc theo mặt trước
sụn mi trên (Bước A), đầu tiên từ đường rạch bên ngoài,
và sau đó đến đường rạch trong. (Mặt phẳng dọc theo bờ
trên sụn mi sẽ chứa mặt trước của phần bán tận cơ nâng
mi trên bờ mặt sụn mi). Dùng chỉ silk 4. 0 để đóng vết
mổ một cách liên tục, lấy một chút sụn mi và quay trở lại
phía da, chọn một trong hai bước B hoặc C để khâu. Cùng
lúc đó, một nửa phần của ống thông cao su rộng khoảng
2mm được khâu xuyên qua vùng trước sụn. Để tạo ra các
vết sẹo qua các mũi khâu
Da
Tổ chức dưới da
Cơ vòng mi trước sụn
Sụn mi
Khâu chạy
dưới da
Khâu chạy
vòng dưới da
A
B
C
62
Phẫu thuật tạo mí mắt người châu Á
để ép các ông thông cao su tạo nên việc đính cân cơ
nâng mi với tổ chức dưới da là hình thức tạo nếp mí.
Ban đầu, các tác giả báo cáo rằng những lợi ích gồm:
giải quyết nhanh chóng phù nề và sưng sau phẫu thuật,
không vết rạch da, và nó đã có hiệu quả
trong 100 trong số 102 trường hợp được theo dõi 3 năm
sau phẫu thuật. Chống chỉ định bao gồm bệnh nhân béo
phì quá mức, thiếu hoặc thừa da quá nhiều. Nó không
thích hợp ở những bệnh nhân bị co rút mí mắt, nếp mí
quá lộ hoặc các trường hợp đã mổ thất bại.
6 Phương pháp khâu vùi
63
Thượng bì
Lớp bì
Cơ vòng mi trước sụn
Cân cơ nâng mi
Kết mạc mi
Xuyên qua da
Xuyên qua sụn mi
Lớp bì
Cơ vòng mi trước sụn
Cân cơ nâng mi
Sụn mi
Sụn mi
1
2
3
A
B
C
Cách 6: Kỹ thuật khâu da-sun
(Hình 6-8)
Song,35 (Trung Quốc), đã báo cáo sự thay đổi, trong đó
ông dùng lưỡi dao số 11 để rạch trong-giữa-ngoài ở
trên da mi bằng hai vết dài 3-5 mm; các vết rạch đi sâu
xuống sụn mi. Một đầu kim khâu xuyên từ da đến bề
măt của sụn mi, và ra da tại vết rạch da
thứ hai (Bước 1). Kim thứ hai đi qua cùng một vết rạch
da ban đầu được thực hiện bởi kim khâu đầu tiên, lần này
khâu xuyên trong da và thoát ra qua vết rạch da thư 2, vị
trí mũi kim thứ nhất ra da (Bước 2). Các chỉ khâu được
buột lại và chon dưới da (Bước 3). Khâu 3 nốt như thế
vào bờ trên của sụn mi. Điều quan trọng là xuyên mũi kim
trong da chứ không phải dưới da dẫn đến nếp mí phai đi
sau khi thực hiện.
64
Phẫu thuật tạo mí mắt người châu Á
gồm cản trở hoặc mệt mỏi khi mở mắt. Sửa lại không
phải quá khó như phương pháp mổ rạch da bên ngoài;
chỉ khâu chôn vùi có thể được loại bỏ, như trong Hình
6-9 và 6-10.
Hình 6-9 trong lúc mổ (từ vị trí của phẫu thuật viên ở
đầu bàn mổ) của mí mắt trên bên phải, và cho thấy một
sợi chỉ khâu tổng hợp dài vài milimet tại bờ trên sụn mi ở
bệnh nhân than phiền là mỏi mí khi mở mắt và một cảm
giác cào gãi (ông này đã phẫu thuật bằng phương pháp
khâu mà không có tác dụng dẫn đến không có nếp mí).
Một sợi chỉ nylon màu đen bị vùi (Hình 6-10) chạy liên
tục qua lại như một kẹp tóc hình chữ U, và mỗi chiều dài
đo gần 30 mm (hơn một inch). Nó đã được loại bỏ, và
một nếp mí được tạo lai theo phương pháp được mô tả
trong Chương 8, 9 và 18. Các triệu chứng than phiền của
bệnh nhân được giảm đi.
Chọn 3, 4 và 6 cho 1 đường vào và ra tại 1 điểm trên
mí trên. Chọn 4, 5 và 6 cho kỹ thuật xuyên qua dưới da.
Chọn 5 và 6 liên quan đến khâu trong sụn. Mặc dù các kỹ
thuật khâu vùi này không làm cho vết da rộng ra, nhưng
5 trong số 6 lựa chọn (ngoại trừ Cách 3) đòi hỏi nhiều vết
rạch rach qua da hoặc xuyên kim qua bề mặt da; tất cả
các mũi khâu trên là chỉ không tiêu và là một hình thức
khâu đính các tổ chức vào cân cơ nâng mi.
Ưu điểm chính của phương pháp khâu vùi là mí mắt
hồi phục nhanh chóng. Tôi thường thấy những bệnh nhân
đã phẫu thuật như thế một vài năm trước đó. Một vài
người có cảm giác không hiệu quả và cảm giác như có dị
vật trong cơ thể. Những người khác có thể thấy tác dụng
phụ tăng dần theo thời gian. (Những điều này được đề
cập trong Chương 15 và 21). Các triệu chứng khác
6 Phương pháp khâu vùi
65
REFERENCES
1. Mikamo K. A technique in the double eyelid operation. J Chu-
gaishinpo 1896.
2. Uchida K. The Uchida method for the double-eyelid operation in
1,523 cases. Jpn J Ophthalmol 1926;30:593.
3. Maruo M. Plastic construction of a ‘double-eyelid’. Jpn Rev Clin
Ophthalmol 1929;24:393–406.
4. Hata B. Application of eyelid clamp and beads in ‘double-eyelid’
operation. Jpn Rev Clin Ophthalmol 1933;28:491–494.
5. Hayashi K. The double eyelid operation. Jpn Rev Clin Ophthalmol
1938;33:1000–1010, 1098–1110.
6. Inoue S. The double eyelid operation. Jpn Rev Clin Ophthalmol
1947;27:306.
7. Mitsui Y. Plastic reconstruction of a double eyelid. Jpn Rev Clin
Ophthalmol 1950;44:19.
8. Ohashi K. The double eyelid operation using electrocautery. Jpn
Rev Clin Ophthalmol 1951;46:723.
9. Hirose K. The double eyelid operation. Jpn Rev Clin Ophthalmol
1950;45:374.
10. Ikegami T. Brief discussion on the double eyelid operation. Jpn Rev
Clin Ophthalmol 1951;46:706–707.
11. Sayoc BT. Plastic construction of the superior palpebral fold. Am
J Ophthalmol 1954;38:556–559.
12. Sayoc BT. Simultaneous construction of the superior palpebral fold
in ptosis operation. Am J Ophthalmol 1956;41:1040–1043.
13. Sayoc BT. Absence of superior palpebral fold in slit eyes (an
anatomic and physiologic explanation). Am J Ophthalmol 1956;
42:298–300.
14. Sayoc BT. Surgical management of unilateral almond eye. Am J
Ophthalmol 1961;52:122.
15. Sayoc BT. Blepharo-dermachalasis. Am J Ophthalmol 1962;
53:1020–1022.
16. Sayoc BT. Anatomic considerations in the plastic construction of a
palpebral fold in the full upper eyelid. Am J Ophthalmol 1967;
63:155–158.
17. Sayoc BT. Surgery of the oriental eyelid. Clin Plast Surg
1974;1:157–171.
18. Millard DR Jr. Oriental peregrinations. Plast Reconstr Surg 1955;
16:319–336.
19. Pang HG. Surgical formation of upper lid fold. Arch Ophthalmol
1961;65:783–784.
20. Fernandez LR. Double eyelid operation in the oriental in Hawaii.
Plast Reconstr Surg 1960;25:257–264.
21. Uchida J. A surgical procedure for blepharoptosis vera and for
pseudo-blepharoptosis orientalis. Br J Plast Surg 1962;15:271–276.
22. Boo-Chai K. Plastic construction of the superior palpebral fold.
Plast Reconstr Surg 1963;31:74–78.
23. Boo-Chai K. Further experience with cosmetic surgery of the
upper eyelid. In: Broadbent TR, ed. Transactions of the Third
International Congress of Plastic Surgery. Amsterdam: Excerpta
Medica; 1964:518–524.
24. Boo-Chai K. Some aspects of plastic (cosmetic) surgery in orientals.
Br J Plast Surg 1969;22:60–69.
25. Boo-Chai K. Aesthetic surgery for the oriental. In: Barron JN, Saad
MN, eds. Operative plastic and reconstructive surgery, Vol. 2.
Edinburgh: Churchill–Livingstone; 1980:761–781.
26. Boo-Chai K. Surgery for the oriental eyelid. In: Lewis JR Jr, ed.
The art of aesthetic plastic surgery, 2nd ed. Boston: Little, Brown;
1989:611–617.
27. Mutou Y, Mutou H. Intradermal double eyelid operation and its
follow-up results. Br J Plast Surg 1972;25:285–291.
28. Shirakabe Y, Kinugasa T, Kawata M, Kishimoto T, Shirakabe T.
The double eyelid operation in Japan: its evolution as related to
cultural changes. Ann Plast Surg 15(3):224–241, 1985. [A historical
summary paper.]
66
Asian Blepharoplasty and the Eyelid Crease
29. Homma K, Mutou Y, Mutou H, Ezoe K, Fujita T. Intradermal
stitch for orientals: does it disappear? Aesth Plast Surg
2000;24:289–91.
30. Tsurukiri K. Double eyelid plasty: reliability and unfavorable
results to the patients [Abstract]. J Jpn Aesth Plast Surg 1999;20:38.
31. Satou H, Ichida M. The reliability of buried double eyelid opera-
tion and the assessment of unfavorable results at our clinic. Panel
discussion at the annual meeting of the Japan Society of Aesthetic
Plastic Surgery, Gifu, Japan, October 1998.
32. Lee YJ, Baek RM, Chung WJ. Nonincisional blepharoplasty using
the debulking method. Aesth Plast Surg 2003;27:434–437.
33. Zubiri JS. Correction of the oriental eyelid. Clin Plast Surg
1981;8:725–737.
34. Yang PY. Double eyelid operation by the twisted needle and compres-
sive suturing technique. Chin J Plast Surg Burn 1987;3:191–192.
35. Song RY. Further discussion on the improved suturing technique
for double eyelid operation. Chin J Plast Surg Burn 1990;6:96–97.
[Intradermal and intratarsal suturing technique.]
67
PHƯƠNG PHÁP RẠCH DA BÊN NGOÀI
Khảo sát các bài báo cáo khác nhau trong tài liệu về
phương pháp rạch da bên ngoài cho thấy rằng có sự thay
đổi lớn trong kỹ thuật và thích hợp khi lấy bỏ cả da và cơ
vòng mi sau khi rạch da. Tương tự như vậy, một số phẫu
thuật viên thích mở vách ngăn ổ mắt và lấy bỏ mỡ trước
cân cơ nâng mi.
Nhiều phẫu thuật viên thích đường mổ nhỏ (hoặc mổ
một phần), và sự khác biệt hơn nữa trong cách tạo nếp
mí được thực hiện cố đinh: da- cân cơ nâng mi-da, phần
dưới cơ vòng mi - cơ nâng mi, da - vách ngăn cũng như
da-sụn mi-da. Mỗi kỹ thuật đều có ưu và nhượt điểm
riêng cần được cân nhắc theo từng kỹ thuật, tính thẩm
mỹ và mức độ liên quan, mức độ thoải mái và sự chấp
nhận của bệnh nhân. Ví dụ: khi rạch da phải chính xác,
tinh tế tại vị trí nếp mí. Phẫu thuật viên cảm thấy thoải
mái với kỹ thuật đó và quá trình lành vết mổ tốt, và có
thể ít quan tâm đến quá trình lành vết mổ. Mở vách
ngăn ổ mắt sẽ cảm thấy thoải mái với các điểm giải
phẫu và thấy rõ vùng trước cân cơ nâng mi và dọc bờ
trên sụn mi. Nhìn chung, khi rạch da bên ngoài thì các
phẫu thuật viên cảm thấy thoải mái hơn với khả năng
dự đoán và tính lâu dài. Quy trình này, không cần mũi
khâu vùi mà vẫn tạo được nếp mí hằng định, bệnh nhân
rất thoải mái nhìn lên-xuống, không nghe than phiền về
mắt nhắm không kín hay cảm giác có dị vật trên mí.
Những phẫu thuật viên dùng phương pháp một phần,
vết rạch chỉ 5-8 mm, lấy bỏ các mô mềm thông qua vết
mổ nhỏ thì khó khăn hơn so với rạch da toàn bộ, mặc dù
vết mổ thường rộng hơn. Nhược điểm: nếp mí xuất hiện
sâu hơn ở phần giữa mí so với bên trong và bên ngoài.
Kỹ thuật đóng da, lựa chọn rất nhiều chất liệu khâu.
Cách phổ biến để thực hiện đóng vết mổ là:
1. Da- cơ nâng mi- da (hoặc da- sụn mi- da), và
2. cân cơ nâng mi đến mặt phẳng dưới da (hoặc bờ
trên sụn mi [STB] đến mặt phẳng dưới da).
68
Phẫu thuật tạo mí mắt người châu Á
KỸ THUẬT DA - CƠ NÂNG MI- DA
Trong kỹ thuật đầu tiên này, tác đề xuất, mũi khâu thứ 1:
khâu qua bờ da dưới (Hình 7-1), mũi khâu thứ 2: khâu
qua phần tổ chức sợi của cân cơ nâng mi dọc theo bờ
trên sụn mi. Nếp mí được tạo ra do đính tổ chức dưới da
dọc bờ trên cơ nâng mi với cân cơ nâng mi, giống cài tự
nhiên của cân cơ nâng mi. Năm 1960, Fernandez1 đã mô
tả kỹ thuật này và cho rằng nó tạo ra một ‘nếp mí động và
nông’ (Hình 7-2), trái ngược với khâu da - sụn mi - da, có
xu hướng tạo ra nếp mí ‘tĩnh’ (Hình 7-3) (xem báo cáo1954
của Sayoc2).
Cân cơ nâng mi
Bờ trên
sụn mi
Sụn mi
0. 12 mm nhíp
7 Phương pháp rạch da bên ngoài
69
A
B
70
Phẫu thuật tạo mí mắt người châu Á
Ông sử dụng chỉ nylon 6-0 khâu 3 mũi từ cân cơ nâng
mi tới bờ dưới da của cơ vòng mi. (Chỉ khâu không tiêu)
Yoo8 đã mô tảcách tạo dạng nếp mí đơn giản bằng
cách cắt tỉa mỡ trước sụn và các “mũi khâu” sẽ loại bỏ
không gian chết được hình thành sau khi loại bỏ mỡ,
nhưng không gắn vào cơ nâng mi hay trước sụn. Yoo giả
định rằng việc giảm mô mềm giữa cơ nâng mi và da là
một yếu tố quan trọng trong sự hình thành nếp mí hơn
so với cố định cơ nâng mivào da. Ông ta dùng chỉ silk 6.
0 khâu 3 mũi để đóng vết mổ. Về lý thuyết, ba mũi khâu
rời dùng để đóng da, cơ vòng mi và tổ chức trước sụn mi;
tuy nhiên, chức năng của 3 mũi khâu này là không chắc
chắn để đóng hết những khoảng chết (như Yoo) sau khi
lấy tổ chức mỡ, bờ dưới và trên vết mổ, cơ nâng mi dọc
theo bờ trên sụn mi. Kết quả là mặt phẳng chắc chắn
trước sụn sẽ cho phép tạo thành nếp mí, và theo đó thì
cân cơ nâng mi sẽ dính dọc theo bờ trên sụn mi
CƠ NÂNG MI ĐẾN MẶT PHẲNG
DƯỚI DA
Trong kỹ thuật thứ hai này, tác giả dùng chỉ nylon 6.
0 khâu vùi, hoặc Dexon (polyglycolic) hoặc Prolene
(polypropylene) để tạo ra sự kết dính giữa cân cơ nâng
mi và mô dưới da dọc theo bờ trên sụn mi (Hình 7-4).
Theo Fernandez, 1 cũng tạo ra nếp mí ‘Động’, nhưng sâu
và vĩnh viễn hơn so với phương pháp đầu tiên, nhưng
không quá sâu. Có thể là kết quả của mô cố định với chỉ
khâu Prolene chôn ở một mức độ sâu hơn. Vào năm 1974
và 1977, các báo cáo của Sheen3, 4 đã mô tả kỹ thuật cố
định trên sụn mi cho những người châu Âu khi tạo mí,
khâu cân cơ nâng mi đến cơ vòng mi và mô dưới da.
Năm 1976, Putterman5 và Weingarten6đã báo cáo áp
dụng khâu từ bờ trên sụn mi đến mặt dưới da (Hình 7-5).
Park7 cũng đã công bố kỹ thuật khâu cân cơ nâng mi với
cơ vòng mi trong phẫu thuật tạo mí đôi ở người châu Á
7 Phương pháp rạch da bên ngoài
71
Trong 60% bệnh nhân lấy bở lớp mỡ trước sụn sẽ có
xu hướng dính lớp cơ vòng mi và cân cơ nâng mi tại phần
trước sụn. Theo dõi 512 bệnh nhân trong hơn 3 năm. Các
tác giả đã báo cáo là có ưu điểm: ít phù sau phẫu thuật, ít
khó chịu và ít hài lòng nếp mí. Vẫn chưa rõ liệu những vỏ
bề mặt của vách ngăn luôn phát hiện được - và liệu rằng:
chúng ta vẫn làm nhưng chưa nhìn thấy chúng - và vai
trò của việc loại bỏ các mô thừa trước sụn đã thực sự góp
phần vào thành công của sự hình thành nếp mí ở đa số
bệnh nhân.
Năm 1993 Flower,10 mô tả quy trình tạo hình mí mắt và
cách cố định nếp mí ở người châu Á và châu Âu. Ông đã
thảo luận các thách thức khi tạo nếp mí -da phía trước sụn
còn thừa mà nhăn. Giải pháp của ông liên qua đến lượng
da thừa vẫn còn phía trước sụn là (vị trí đường rạch mí)
so với chiều cao sụn mi, loại bỏ da theo bờ trên sụn mi,
và tạo lại đường rạch mới chính xác tại nếp mí bằng cách
đính da mặt trước sụn mi
Ngoài ra, vẫn còn có sự xuất hiện của các yếu tố cản trở
khác cho sự hình thành mí như: quá nhiều tổ chức thừa
trước cân cơ nâng mi và trên sụn mi, cơ vòng mi dày, mỡ
dưới cơ vòng mi, vách ngăn và túi mỡ di chuyển từ trong
ra trước cân cơ nâng mi. Trong số 48 bệnh nhân được
báo cáo bởi Yoo, một số bức ảnh cho thấy sự thoái triển
đáng kể (giảm) chiều cao của nếp mí sau mổ 1-2 năm.
Năm 1997, Lee, Park, ShinvàSong,9 đề xuất đính vách ngăn
ổ mắt vào da để tạo nếp mí. Có ý kiến cho rằng có lớp
facia trước vách ngăn, nơi mà cân cơ nâng mi cùng với
vách ngăn cài vào nhau ở trước sụn mi. Ở người châu Á,
thấy rằng mỡ trước cân cơ nâng mi và vách ngăn nằm
dưới đường kết hợp của vách ngăn và cân cơ nâng mi,
các tác giả ủng hộ kỹ thuật cố định da-vách ngăn, nơi mà
vách ngăn được tách khỏi cân cơ nâng mi, sau đó được
khâu vào da. Vách ngăn không phải lúc nào cũng mở
nhưng phần dư của vách ngăn bên dưới chỗ kết hợp sẽ
lật xuống khâu vào da cơ trước sụn.
72
Phẫu thuật tạo mí mắt người châu Á
2. Dùng Vicryl 6. 0 để khâu bờ trên và dưới của da
vào bờ trêm sụn mi với bờ tự do của cân cơ nâng
mi. Không sử dụng chỉ nylon hoặc không tan.
Lý do cho việc kết hợp các cân cơ nâng micơ nâng mi,
theo Flower, là cố gắng giữ được sức căng của da vừa
phải trên mặt trước sụn mi. Bởi cùng một lý luận, ông ta
đính vạt da trước sụn đến sụn để ngăn chặn sự kéo quá
mức của cân cơ nâng mi trên vùng da trước sụn, kết quả
là lông mi lộn ra và thấy rõ kết mạc mi. Tác giả nói rằng
bệnh nhân thường trải qua một số mức độ sụp mi, khi
nhìn lên. Ông cho rằng sự phục hồi hoàn toàn đòi hỏi mất
2-3 năm, nhưng nói chung bệnh nhân trông rất thích sau
phẫu thuật 2 tuần.
Các khái niệm về mí”động” so mí “tĩnh” là khá tinh tế:
Ở bệnh nhân có nếp mí tự nhiên, cho dù người châu Á
hoặc châu Âu, khi nhìn thẳng về phía trước thì thấy nếp
mí rõ (Hình 7-6A). Nhìn xuống, còn chi phối bỡi co cơ
thẳng dưới (và chéo trên) trong khi đó cơ thẳng trên, cơ
nâng mi, cơ chéo dưới đang giãn ra. Khi nhìn xuống dưới
thì ít nhìn thấy mí đôi (Hình 7-6B). Một nếp mí hiện diện
khi co cơ nâng mi và mất đi khi cơ nâng mi giãn ra (nhìn
xuống) được gọi là mí “động”.
Đối nghịch, khi tạo nếp mí mà khi nhìn xuống vẫn thấy
nếp mí thì gọi là mí tĩnh.
Điều này thường thấy khi chúng ta khâu bờ dưới da
vào bờ trên sụn mi và bờ trên da (bờ dưới da - STB - bờ
trên da; Hình 7-3A, B) và ở những bệnh nhân đã trải qua
phẫu thuật khâu vùi (xem Chương 6).
Trong thực tế thực tế, vấn đề này không bao giờ được
xác định rõ ràng vì chúng ta không phải lúc nào cũng
thấy một nếp gấp tĩnh do kết quả của việc đóng da-sụn
mi-da; cũng không phải chúng ta luôn thấy một nếp mí
động khi chúng ta thực hiện da-cơ nâng mi-da, hoặc cân
cơ nâng mi cơ nâng mi với mặt phẳng dưới da.
Tóm lại, tôi ủng hộ các phương pháp rạch bên ngoài
11-15 vì tôi tin rằng đó là một kỹ thuật chính xác và lâu dài
hơn. Tôi loại bỏ một lượng ít hay nhiều, dựa trên đánh
giá mắt của bệnh nhân. Vách ngăn ổ mắt được mở bên
trên ngang qua vết mổ; và dựa trên đánh giá lâm sàng,
số lượng mỡ ít hay nhiều mà ta cắt tỉa nhưng không bao
giờ cắt bỏ hoàn toàn. Để tạo nếp mí động và nông, tôi
thích tạo mí bằng dùng chỉ không tiêu, không phản ứng
da, khâu da-cơ nâng mi-da. Tôi không dùng kỹ thuật khâu
vùi bằng bất kỳ loại chỉ nào, không khâu qua cơ nâng mi
(xem hiệu ứng Faden trong Chương 21).
vào cân cơ nâng mi và sụn mi. Bản chất là chọn cả hai
sụn mi và cân cơ nâng mi.
Trong kỹ thuật của Flower, sụn mi được lật ngược ra
và đo chiều cao sụn từ bờ mi. Nó được đánh dấu trên
mặt da với khoảng cách tương tự, thêm 2 mm nữa là
nếp mí thực tế. Theo quy tắc mổ của Flower: mí trên
bình thường là phải có khoảng 26-30 mm từ giữa lông
mày và bờmiđể tạo mí đôi hoàn hảo. Như vậy, chỗ cuộn
vào của nếp gấp da khoảng 10 mm, từ nếp mí đến trán
tối thiểu là 12 mm, và 3-6 mm da có thể nhìn thấy được
ở trước sụn; 1-2 mm được phép cho độ cong của mi gấp
khi nó uốn cong theo nếp mí. Nếu số lượng da mi ít hơn
26-30 mm sẽ có vấn đề lớn với nếp mí, cũng như vị trí
lông mày bị hạn chế và sẽ thiếu da khi đóng da mi.
Lượng da mí mắt nhô ra và cản trở tầm nhìn mong
muốn của phần da trước sụn nó được đó bằng thước
caliper, hoặc ước tính bằng mắt; điều này được tăng gấp
đôi (× 2) để loại bỏ số lượng da. Có thể làm điều này tại
các điểm khác nhau dọc theo mí mắt. Flower đã thảo
luận về việc xử lý mỡ và ¼ ngoài mắt, và có thể dịch
chuyển mỡ đến phần trong của mắt. Ông tin rằng cắt tỉa
các mô liên kết trước sụn và mỏng cơ vòng mi ở mặt
dưới da trước sụn giúp giảm phù nề sau phẫu thuật
trong khu vực đó và để tạo ra một bề mặt da mịn màng
như là kết quả là da và cơ vòng mi sẽ dính vào mặt
trước sụn mi.
Trong phương pháp này, mặt phẳng giữa cơ vòng mi
trước sụn và đầu xa của cân cơ nâng mi sự chèn qua cơ
bề mặt trước của sụn mi trên, nơi nó được tách ra bằng
kéo phẫu thuật đẩy xuống tới bờ mi. Bất kỳ sự gắn kết
bên dưới nào của các sợi cân cơ nâng mi tới da thì cũng
sẽ bị cắt ngang. Mô liên kết chắt chắn trước sụn, gồm
nhiều phần cơ vòng mi trước sụn, có thể cắt bỏ bằng kéo
trên bờ mặt phía trước của sụn mi. Da của vạt da trước
sụn(cạnh da bên dưới) được khâu dưới da với bờ trên
của sụn mibằng chỉ Vicryl 6. 0. Flower thường áp dụng
ba hoặc bốn mũi khâu như thế để tạo nếp mí mới. (Việc
cắt tỉa tổ chức trước sụn và cắt bỏ một ít phần trước của
cân cơ nâng mi sẽ thay đổi phía sau cạnh tự do, điều này
không có nghĩa là cân cơ nâng mibị cắt ngang hoàn toàn.)
Ngoài ra, các bờ trên và dưới của da được đóng lại bằng
khâu liên tục với chỉ không tiêu, kết hợp với dính vào cơ
nâng mi ở mỗi mũi khâu.
Phương pháp thay thế đóng da của Flower là:
1. Dùng chỉ khâu nylon khâu mũi đơn, kết hợp tất cả
các lớp lại với nhau: bờ dưới da, bờ trên sụn mi, bờ
tự do của cân cơ nâng mi, và bờ trên của da. Không
dùng Vicryl để khâu mũi đơn: da-sụn mi-cơ nâng
mi.
7 Phương pháp rạch da bên ngoài
73
A
B
74
Phẫu thuật tạo mí mắt người châu Á
REFERENCES
1. Fernandez LR. Double eyelid operation in the Oriental in Hawaii.
Plast Reconstr Surg 1960;25(3):257–264.
2. Sayoc BT. Plastic construction of the superior palpebral fold. Am
J Ophthalmol 1954;38:556–559.
3. Sheen JH. Supratarsal fixation in upper blepharoplasty. Plast
Reconstr Surg 1974;54(4):424–431.
4. Sheen JH. A change in the technique of supratarsal fixation in
upper blepharoplasty. Plast Reconstr Surg 1977;59(6):831–834.
5. Putterman AM, Urist MJ. Reconstruction of the upper eyelid
crease and fold. Arch Ophthalmol 1976;94:1941–1954.
6. Weingarten CZ. Blepharoplasty in the Oriental eye. Trans Am
Acad Ophthalmol Otol 1976;82:442–446.
7. Park JI. Orbicularis–levator fixation in double-eyelid operation.
Arch Facial Plast Surg 1999;1:90–95.
8. Yoo Hyun Bang. The double eyelid operation without supratarsal
fixation. Plast Reconstr Surg 1991;88(1):12–17.
9. Lee JS, Park WJ, Shin MS, Song IC. Simplified anatomic method
of double-eyelid operation: septodermal fixation technique. Plast
Reconstr Surg 1997;100(1):170–178.
10. Flowers RS. Upper blepharoplasty by eyelid invagination – anchor
blepharoplasty. Clin Plast Surg 1993;20(2):193–207.
11. Chen WPD. Asian blepharoplasty. Ophthal Plast Reconstr Surg
1987;3(3):135–140.
12. Chen WPD. A comparison of Caucasian and Asian blepharoplasty.
Ophthalmic Pract 1991;9(5):216–222.
13. Chen WPD. The concept of a glide zone as it relates to upper lid
crease, lid fold, and application in upper blepharoplasty. Plast
Reconstr Surg 2007;119(1):379–386.
14. Chen WPD. Beveled approach for revisional surgery in Asian
blepharoplasty. Plast Reconstr Surg 2007;120(2):545–552.
15 Chen WPD, Khan J. Color atlas of cosmetic oculofacial surgery
(with DVD), 2nd edn. Philadelphia: Elsevier-Science/Saunders,
2010.
75
PHẪU THUẬT TẠO HÌNH MI CHÂU Á I:
VECTOR ĐẦU TIÊN
3. Các bước phẫu thuật:
• Vẽ và xác định nếp mí
• Vectơ đầu tiên - mặt phẳng phẫu thuật và mở
vách ngăn ổ mắt (Chương 8)
• Cắt tỉa mỡ (tiếp tục chương 9)
• Vectơ thứ hai - cắt bỏ cơ vong mi và vách ngăn
• Cắt tỉa dọc theobờ trên sụn mi và vùng trước
cân cơ nâng mi
• Tạo hình nếp mí
• Đóng da.
CHUẨN BỊ THUỐC VÀ
DỤNG CỤ PHẪU THUẬT
Bệnh nhân được uống diazepam 10 mg (Valium) và
Vicodin 5 mg (acetaminophen và hydrocodone) 60 phút
trước khi phẫu thuật. Cho bệnh nhân nằm ngửa và đặt
đường truyền tĩnh mạch và theo dõi điện tâm đồ. Dụng
cụ đo nồng độ O2 PaO2 (khí máu động mạch) cho bệnh
nhân. Thở O2 qua mũi 1-2 lít/phút.
PHA THUỐC TÊ VÀ TIÊM
Chuẩn bị hỗn hợp 2 loại thuốc tê được:
Đầu tiên: 1 ml xylocaine 2% với epinephrine pha loãng
1: 100 000 được pha loãng 10 × với 9 ml nước muối
sinh lí. Hỗn hợp này hiện nay có độ pH gần hơn với
tính trung lập vì nó đã được pha loãng với tác dụng
đệm của nước muối sinh lí. Epinephrine được pha
loãng thành 1: 1 000 000. (Dán nhãn là ‘Pha loãng’).
Thứ hai: 5 ml 2% lidocaine (Xylocaine) có chứa
1: 100 000 pha loãng epinephrine được rút ra. Dán
nhãn là “Đã pha đầy đủ”).
Nhỏ thoa thuốc tê tại chỗ, 0,5% proparacaine
hydrochloride, trên mỗi mắt để tạo sự thoải mái trước
khi chuẩn bị phẫu thuật và trải săng.
Sử dụng kim số 30 hoặc 32, chích 0,1- 0,2 ml thuốc
tê được pha loãng vào dưới da dọc theo bờ trên sụn mi
Chữ Hán Nhật Bản (chữ Hán) và chữ viết Hiragana biểu thị ‘kỹ thuật tạo
mí mắt’. (Kazuko Chin)
Tôi tin rằng kỹ thuật rạch ngoài đã sửa đổi cho phép
kiểm soát tốt nhất và linh hoạt để đạt được mục đa tạo
mí đôi tối ưu. Điều này dựa trên việc thiết lập một điểm
chuẩn cao để đạt được chiều cao nếp mí lý tưởng, với
hình dạng nếp mí thích hợp, liên tục của đường mí và độ
bền của nếp mí (ít nhất vài năm).
Các bước tiến hành như sau:
1. Chuẩn bị thuốc và dụng cụ phẫu thuật
2. Thuốc gây mê
76
Phẫu thuật tạo mí mặt người châu Á
(Hình 8-1). Đợi vài phút, thuốc mê có hiệu lực và có
thể quan sát thấy da vùng gây tê trắng do phản ứng co
mạch của hỗn hợp thuốc gây tê epinephrine pha loãng
(Hình 8-2)
Sau đó tiêm 2% lidocaine với epinephrine vào mặt
phẳng dưới cơ vòng mi dọc theo bờ trên sụn mi, thường
dưới 0,5 ml cho mỗi mí.
Mục đích của việc tiêm thuốc tê tại chỗ bằng 2 lần là
để cho tiêm lần thứ 2 được ít đau hơn ở vùng cần phẫu
thuật vì 2% lidocaine có tính axit. (Có thể thêm natri
bicarbonate vào hỗn hợp 2% để giảm buốt khi tiêm)
Hình 8-1 ■ Ban đầu, tiêm dưới da thuốc tê được
pha loãng, hỗn hợp cân bằng độ pH.
Hình 8-2 ■ Trắng vùng da mí mắt do epinephrine trong hỗn hợp gây mê
Đối với bệnh nhân có giảm đau ngưỡng thấp, có thể
gây tê cục bộ vùng dây thần kinh trán.
Dùng kim 30G, chích 0, 5ml gây tê vùng trên ngoài ổ mắt
tới giữa ổ mắt. (Chích vào thần kinh trán khi cần thiết.) Có
thể dùng thuốc an thần hoặc thuốc giảm đau tĩnh mạch.
Vùng mặt và mí mắt được chuẩn bị để phẫu thuật. Nhỏ
thêm 1 giọt thuốc tê tại chỗ, dùng tetracaine hydroclorua
để giữ tê giác mạc lâu hơn. Để loại bỏ cảm giác sợ bị giam
giữ thường xảy ra khi trải săng mổ qua mũi đến giữa mặt,
thở O2 qua mũi. Bảo vệ giác mạc bằng kính áp tròng đục
trên mỗi mắt.
Ưu điểm
• Việc sử dụng dung dịch gây mê pha loãng giúp:
• Giảm đau khi tiêm
• Giảm khối lượng gây mê cần thiết để tiêm
• Ít tạo ra sự biến dạng mí mắt hơn do tăng thể tích
và giảm chảy máu; nó cho phép bác sĩ phẫu thuật
tập trung vào vùng phẫu thuật.
• Sử dụng không khí trong phòng được cung cấp
qua đường hô hấp hoặc oxy lưu lượng thấp
giúp giảm cảm giác sợ hãi của bệnh nhân.
CẨN THẬN
• Không sử dụng khí oxy trong một hệ thống mở tiếp
xúc với máy đốt đơn cực hoặc lưỡng cực vì có thể
gây cháy và bốc cháy.
• Đo oxy mao mạch để độ bão hòa oxy trong máu
động mạch PaO2. Thuốc giảm đau trước phẫu thuật
và trong phẫu thuật có thể dễ dàng kiểm soát ngưng
thở ở bệnh nhân nhạy cảm.
8 Phẫu thuật tạo mí I: Vector đầu tiên
77
Dùng cây tăm nhúm với xanh methylene để vẽ tạo mí.
Chiều cao nếp mí được vẽ cẩn thận trên mặt và ở phần
giữa của mí mắt.
Điểm này nằm phủ qua bờ trên sụn mi và sẽ là điểm
thích hợp cho chiều cao mí, dọc theo1/3 trong của mí
mắt, bố trí hình dạng nếp mí: giảm dần ở mũi, song
song, chếch lên ở đuôi mắt. Đối với những bệnh nhân đã
có nếp mí, bạn vẫn nên đo chiều cao sụn mi để xác nhận
rằng nếp mí rõ ràng bạn đang thấy thực sự là đường mí
chính xác để sử dụng, cho dù bạn đang có kế hoạch bảo
tồn hoặc tăng thêm nó.
CÁC BƯỚC PHẪU THUẬT
Đo chiều cao sụn mi
Chiều cao sụn mi được xác định ở giữa nếp mí; hình
dạng được xác định bằng cách vẽ từ 1/3 trong đến 1/3
ngoài mắt ở đường vẽ dưới, tùy sở thích của bệnh nhân.
Lật mí trên ra và đo chiều cao sụn mi ở giữa mí bằng
thước caliper (Hình 83). Chiều cao này thường là từ 6, 5
đến 7, 5 mm ở châu Á. Thay đổi: thấp, trung bình và cao.
Hình 8-3 ■ (A) Chiều cao sụn mi đo bằng cách lật mí trên ra và đo ở giũa. (B)Nếp mí giảm dần ở mũi. Phần ngoài hơi chếch nhẹ
lên.
Nếp mí chếch lên trên ra ngoài
Chiều cao sụn mi ở giữa
Nếp mí giảm dần ở mũi
B
A
78
Phẫu thuật tạo mí mặt người châu Á
Thiết kế nếp mí giảm dần ở
mũi (Hình 8-4)
Tại góc mắt trong: đường vẽ bắt đầu ngay đỉnh góc mắt
trong hay là ngay nếp quạt mắt.
Hình 8-4 ■ (A) Nếp mí giảm dần ở mũi; ra ngoài
song song với bờ mi. (B) Nếp mí giảm dần ở mũi,
ra ngoài thì hơi chếch lên.
A
B
Ở 1/3 ngoài thì tùy sở thích của bệnh nhân là muốn nếp
mi song song hay hơi chếch nhẹ phần đuôi mắt.
8 Phẫu thuật tạo mí I: Vector đầu tiên
79
Ưu điểm
• Dùng cây tăm đè nhẹ lên da tại đường rạch dưới (vị
trí nếp mí mới), hướng dẫn bệnh nhân nhìn lên trên
ngay cả trước khi vết rạch bắt đầu để đánh giá mức
mí có thể xuất hiện như thế nào. (Lưu ý rằng kể khi
đã tiêm thuốc tê thì nếp mí sẽ xuất hiện sưng hơn
và xa bờ mi hơn.)
• Dùng đầu của cây tăm vẽ và vẽ lại chính xác, so với
các bút đánh dấu thông thường có sẵn trong phòng
mổ.
• Khi phẫu thuật tạo mí người châu Á, đường rạch
dưới sẽ xác định hình dạng và chiều cao của nếp mí
tạo ra sau phẫu thuật. Một dải da dài khoảng 2 mm
sau đó được đánh dấu ở trên và song song với đường
rạch dưới này. Đường trên của vết rạch này được
nhập lại với đường rạch dưới tại: góc mắt trong,
kết hợp với bất kỳ nếp mí nào đã có. Da ở đoạn này
được cắt bỏ ít hơn 2 mm so với phần giữa của nếp
mí.
• Đo lại và xác nhận các đường rạch là rất quan trọng.
Thiết kế nếp mí song song
(Hình 85)
Đo chiều cao bờ trên sụn mi và vẽ bề rộng của mí mắt
theo kiểu song song (cách đều từ bờ mi).
Để tạo độ bám dính thích hợp, cần lấy bỏ ít mô dưới da
ở bờ trên sụn mi. Một dải da đo khoảng 2 mm sau đó được
đánh dấu ở trên và song song với đường rạch dưới.
Ưu điểm
Trong thiết kế nếp mí song song, nếp mí có xu hướng
hội tụ về phía góc trong của mắt, do đó dễ biến nó thành
một nếp mí giảm dần ở mũi. Tôi thường cố ý vẽ các nếp
mí giảm dần ở mũi trước và sau đó sử dụng nó như là
một hướng dẫn trực quan để quyết định làm thế nào
một nếp mí song song nên được thiết kế gần 1/3 trong
của mí trên, để nhắc nhở bản thân mình để song song.
Cẩn thận
• Phía trong nếp mí song song thì không nên quá xa
góc mắt trong.
• Đầu trong đường mí không được đi quá qua góc mắt
trong (chiều dọc) cho cả nếp mí giảm dần ở mũi và
nếp mí song song.
• Đầu ngoài, thiết kế mí không được đi quá góc mắt
ngoài.
80
Phẫu thuật tạo mí mặt người châu Á
A
Đường trên
Đường dưới
B
Hình 8-5 ■ (A) Thiết kế nếp mí song song. (B) Thiết kế một nếp mí song song bao gồm các đường rạch trên và dưới.
8 Phẫu thuật tạo mí I: Vector đầu tiên
81
Đối với một bác sĩ phẫu thuật thuận tay phải và
ngồi ở đầu bàn, đối với mí trên bên phải, tốt nhất
nên bắt đầu từ trong; và cho nếp trên bên trái có
thể bắt đầu từ bên ngoài của đường rạch.
• Dùng đầu đốt lưỡng cực jeweler để cầm máu kỹ.
Điều này cho phép các bác sĩ phẫu thuật để giảm
bớt phù nề mô và lộ rõ mặt phẳng tổ chức, do đó
duy trì phẫu trường rõ ràng. Hơn nữa, nó cho thấy
rõ các phần giữa 2 đường rạch.
CẨN THẬN
Dễ dàng rạch quá sâu và gây chảy máu từ cơ cơ
vong mi, sẽ sớm tạo thành tụ máu và gây móp méo đường
rạch cũng như mặt phẳng rạch, làm khó phân biệt giữa
mỡ, cơ vong mi, vách ngăn ổ mắt và cân cơ nâng mi dọc
bờ trên sụn mi. Cũng có thể dẫn đến sụp mi thoáng qua
sau phẫu thuật (dễ xảy ra với phương pháp khâu buột,
vì kim được xuyên qua toàn bộ chiều dày các lớp của mi
mắt, sáu đoạn khi sử dụng ba bộ mũi khâu. )
Đường rạch da
Vết rạch sau đó được thực hiện bằng cách sử dụng một
lưỡi dao số 15 (Bard - Parker) rạch dọc theo các đường
trên và dưới (Hình 86), chỉ rạch qua da và đến cân cơ
vòng mi. Dùng đầu đốt lưỡng cực Wetfield để cầm máu.
Có trường hợp không cần cắt bỏ một dải da; Tuy nhiên,
tác giả cho rằng nó tạo điều kiện cho việc loại bỏ các lớp
tiếp theo của các mô dưới da, do đó cho phép hình thành
nếp mí đầy đủ. Lúc này, chúng ta thấy: bờ trên sụn mi
phần trước sụn và phần cơ vòng mi trên sụn, có thể phần
cuối cùng của vách ngăn, và các sợi cuối của cân cơ nâng
mi nằm bên dưới vách ngăn.
ƯU ĐIỂM
• Điều quan trọng là phải ổn định sụn mi, da và tổ
chức phần mềm phủ qua khi rạch liên tục, đặc biệt
là dọc theo đường rạch; đây là một bước quan trọng
để tạo nếp mí.
• Đường rạch liên tục có thể được thực hiện ba bước
để có thể kiểm tra lại từng đoạn.
Hình 8-6 ■ Dùng dao số 15 rạch đường
trên và dưới
82
Phẫu thuật tạo mí mặt người châu Á
Hình 8-7 ■ (A) Bờ trên da mí kéo lên, dùng dao điện mono chế độ thấp nhất cắt qua vách ngăn, . (B) Mở vách ngăn ổ mắt dọc
theo đường rạch trên. Khi vách ngăn mở có thể thấy mỡ trước cân cơ nâng mi.
B
A
Túi mỡ trước cân
cơ nâng
mi
Da/cơ vòng mi
vạt kéo ngược
xuống
8 Phẫu thuật tạo mí I: Vector đầu tiên
83
Vector đầu tiên (Đoạn mặt phẳng
qua mặt trước của mí mắt): Vát qua
cơ vong mi dọc theo đường rạch
trên và mở vách ngăn
Sau khi rạch da ban đầu, người ta có thể sử dụng các
ngón tay trái để kéo bờ đường rạch trên lên cao, sau đó
dùng đầu đốt lưỡng cực đốt vùng cơ nâng mi trước sụn,
biết rằng đường rạch trên chỉ cách bờ trên sụn mi khoảng
2-3 mm, châm đầu đốt tại những chỗ mà vách ngăn hòa
lẫn với cân cơ nâng mi (Ở người châu Á, vách ngăn ổ
mắtcó thể tham gia vào cân cơ nâng mi ở mức thấp 2-3 mm
trên bờ trên sụn mi). Việc sử dụng đầu đốt lưỡng cực để
đễ dàng tiếp xúc với vách ngăn. Lúc này, có thể thấy túi
mỡ. Khi mở vách ngăn ở giữa mí mắt, ta thấy ngay một
túi mỡ phòi ra (xem hình 87B). Dùng kéo Westcott cắt
vách ngăn dọc theo đường mổ trên; dùng móc kéo vạt da-
cơ vòng mi - vách ngăn xuống dưới dọc theo bờ trên sụn
(Hình 87AB).
ƯU ĐIỂM
Luôn nghiêng đầu kéo lên trên khi cắt vách ngăn. Mục
đích là để tránh tổn thương mạch máu ở túi mỡ, và các
túi mỡ, cũng như các thùy của tuyến lệ ở phía trên ngoài.
CẨN THẬN
• Khi mở phần trong vách ngăn, cơ nâng mi có thể bị
tổn thương.
• Khi mở phần ngoài vách ngăn, tuyến lệ có thể bị
tổn thương.
• Tránh sử dụng đầu đốt đơn cực ở phần trong gần
mũi trong ổ mắt, tránh vùng lồi câu của cơ chéo trên,
dễ liệt dây thần kinh IV, nhìn xoắn đôi.
• Tránh đốt qua tuyến lệ ở vùng trên ngoài mặt trước
trần ổ mắt, có thể ảnh hưởng đến tiết nước mắt.
REFERENCES
1. Tenzel RR, Hustead RF, Schietroma J, Hustead J. The best trick I
learned this year. Presented at the Annual Scientific Symposium of
the American Society of Ophthalmic Plastic and Reconstructive
Surgery, New Orleans, 1986.
85
PHẪU THUẬT TẠO HÌNH MI CHÂU Á I:
VECTOR THỨ 2
Tiếp tục mô tả kỹ thuật tạo hình mí ở người Châu Á được
sử dụng, chương này đi sâu vào xử lý cấu trúc lớp giữa
của mí mắt khi tiếp xúc với khoảng trước sụn (ở giữa).
Chương này sẽ xem quy trình để đóng da tạo mí mắt.
Hình 9-1 cho thấy mặt phẳng trước cân cơ nâng mi đã
được chuẩn bị sẵn sàng để tạo nếp mí.
86
Phẫu thuật tạo mí mặt người châu Á
A
B
MỞ VÁCH NGĂN
Xoay ngược tổ chức trên cân cơ
nâng mi xuống dọc theo bờ trên
sụn mi.
Dùng móc Blair kéo vết mổ rộng ra (da và cơ vòng mi)
(Hình 9-2A); Dùng kéo Westcott
để tách túi mỡ ra khỏi cơ vòng mi và tổ chức bên dưới.
Túi mỡ ở giữa bị dính vào bên dưới gần các sợi cơ nâng
mi bỡi các dây chằng (Hình 9-2B).
9 Phẫu thuật tạo mí II: Vector thứ 2
87
Đặt lại vị trí túi mỡ sao cho lấp đầy khoảng trống giữa
trước cơ nâng mi đến bờ trên ổ mắt (hốc mắt).
Hình 9-3, Dùng móc Blair kéo vạt da-cơ lên trên (Bác
sĩ nhìn phẫu thuật từ đầu bàn). Nhìn rõ các mạch máu
chạy dọc theo cơ nâng mi, và các mạch máu nằm trong
túi mỡ (chạy ngang theo bờ mi).
ƯU ĐIỂM
• Sau khi tách túi mỡ ra khỏi các tổ chức giữ nằm phủ
qua cơ vòng mi, an toàn nhất là dùng tăm bông để
tách túi mỡ.
• Không nên cố lấy cho sạch túi mỡ, trừ khi túi mỡ có
tác động đến sự hình thành nếp mí. Nếu túi mỡ cản
trở tới việc hình thành nếp mí dọc theo bờ trên sụn
mi thì dùng đầu đốt lưỡng cực Wetfield để đốt nó.
CẨN THẬN
• Khi kéo vạt cơ - da lên tránh dùng kéo chọc sâu
vào phía sau.
• Sau khi kéo vạt cơ - da lên, tránh cắt bất kỳ túi mỡ
nào đan xen vào bên dưới của dải cơ; điều này có
thể gây ra chảy máu các mạch máu trong túi mỡ,
cũng như giảm thể tích túi mỡkhông mong muốn
88
Phẫu thuật tạo mí mắt người châu Á
RẠCH MỘT PHẦN TÚI MỠ
(Hình 9-4)
Thỉnh thoảng, bệnh nhân có mí mắt rất đầy (mắt húp),
túi mỡ ở giữa bị sa xuống thấp đến chỗ bám của cơ nâng
mi. Điều này có thể ảnh hưởng đến bất kỳ nỗ lực nào để
tạo thành nếp mí. Ở những bệnh nhân này, thay vì dùng
đầu đốt lưỡng cực để đốt cho túi mỡ co lại, phải rạch túi
mỡ ra để nó lộ ra trên phẫu trường.
Những mạch máu nổi lên trên túi mỡ đốt bằng đầu
đốt lưỡng cực, sau đó cắt bằng đầu đơn cực khoảng 2-3
mm; dùng đầu lưỡng cực đốt lặp lại 2-3 lần nữa trước
khi hoàn thành.
Nếu bệnh nhân lớn tuổi có da thừa nhiều thì thường
thấy có lõm nhẹ vùng mí trên, không nên lấy bỏ hoàn
toàn túi mỡ sẽ gây hõm mắt và gây nhiều nếp mí thừa ở
vị trí mà chúng ta muốn tạo mí. Thay vì cắt bỏ túi mỡ,
người ta nên đặt nó lên trên.
ƯU ĐIỂM
• Chia túi mỡ ra từng thùy và cắt bỏ từng bước để giảm
kích thước. Không phát hiện ra chảy máu bên dưới
thì máu sẽ chảy vào trong gây hậu quả rất nghiêm
trọng là máu tụ hậu nhãn cầu và mù mắt.
• Khi tuyến lệ bị sa xuống trông giống như các thùy
mỡ. Nếu nhận ra nó thì phải treo nó vào phía sau ở
mặt trên ngoài của trần ổ mắt.
CẨN THẬN
• Điều quan trọng là phải xác định rõ ràng túi mỡ
góc trong, túi mỡ giữa với tuyến lệ.
• Cắt ngang qua tuyến lệ sẽ gây khô mắt tùy theo
mức độ.
A
B
9 Phẫu thuật tạo mí II: Vector thứ 2
89
Vector 2:Rạch vạt cơ da(Da,Cơ
vòng mi, phần bên dưới còn lại
của vách ngăn) dọc theo bờ trên
sụn mi (Figure9-5)
Tay trái cầm dụng cụ kẹp cuối đầu ngoài vạt cơ-da để
nhất lên ở mí mắt trên bên phải (hoặc đầu trong của mí
mắt trên mí bên trái), dùng đầu đốt đơn cực cắt dọc theo
một mặt phẳng giữa cơ vòng mi và bờ trên sụn/ chỗ gặp
nhau của cơ nâng mi.
ƯU ĐIỂM
• Khi rạch qua vạt cơ, cơ vòng mi sẽ chảy máu. Lúc
này, hãy kiểm soát tốt những mạch máu mới chảy
bằng đầu đốt lưỡng cực, sẽ tốt hơn khi cắt hết dải
cơ rồi mới quay lại cầm máu. Theo quan điểm của
tôi, nó làm giảm phù nề và máu tụ.
• Có một xu hướng đi nông với điểm bắt đầu góc mắt
trong của mắt trái trong giai đoạncắt bỏ của dải cơ,
để lại quá nhiều cơ vòng mi. Một nếp mí cố định
không đủ ở 1/3 trong của mí là 1 nếp mí không rõ.
CẨN THẬN
• Phải cẩn thận tránh cắt vào phần cài vào của các
sợi bán tận của cơ nâng mi.
• Tránh cắt qua cung mạch máu trên sụn mi, có thể
chảy máu và gây sưng nề và sụp mi thứ phát sau
phẫu thuật
Thảo luận thêm
Cắt bỏ một dải da là không cần thiết trong mọi trường
hợp; tuy nhiên tôi rằng nó tạo điều kiện cho việc loại bỏ
các tổ chức nằm bên dưới mi mắt để tạo thành nếp mí tốt.
Vạt cơ da dọc theo bờ trên sụn mi có kích thước khoảng
2-3 mm. Nó thường chứa nhiều cơ vòng mi hơn da, do
đó nó giống như một hình thang trong mặt cắt ngang, với
hẹp hơn của hai mặt phẳng song song là da bên ngoài,
và mặt đối diện dài hơn là các sợi cơ vòng mi.
Vectơ 2 được cắt vuông góc với bề mặt da mí mắt,
dọc theo đường rạch da (đường mí tương lai).
Mục đích của loại bỏ và làm mỏng tổ chức thừa là mặt
phẳng trước sụn dọc theo cơ vòng mi. Mặt phẳng trước
sụn gồm tất cả các tổ chức phía trước cơ nâng mi: gồm
vách ngăn ổ mắt, mỡ trước vách ngăn, cơ vòng mi trước
vách ngăn (cơ vòng miở trên cho đến bờ trên sụn mi),
mỡdưới da(nếu có) và da. Mặt phẳng được loại bỏ đồng
nhất và sâu như nhau, theo khái niệm như là một khối
mô hình thang ở mặt cắt ngang.
Hình thang gồm các mô chỉ liên quan đến 2 vec-tơ (di
chuyển): đầu tiên là một mặt phẳng hơi vát qua cơ vòng
mi cho đến vách ngăn (Chương 8), và thứ hai khi cắt
ngang cơ vòng mi dọc theo đường mí bằng vạt vách ngăn-
tổ chức cơ. Do đó chảy máu có thể xảy ra trong hai bước
này - giảm thiểu khả năng mí bất thường và sự khác biệt
về chiều cao nếp mí ngay sau phẫu thuật.
Nếu da, cơ vòng mi và vách ngăn được loại bỏ từng lớp,
các bước bổ sung cần thiết (đường trên và dưới của vết
rạch - cắt cơ vòng mi và mở vách ngăn) có thể chảy máu
nhiều hơn, cũng như tại giao diện giữa các lớp khi loại bỏ
chúng (da từ cơ vòng mi, cơ vòng mi từ vách ngăn và vách
ngăn từ cơ nâng mi). Khả năng chảy máu được giảm bớt
bằng cách sử dụng vạt hình thang cho mặt phẳng trước
cơ nâng mi.
90
Phẫu thuật tạo mí mắt người châu Á
Có một số biến thể ‘trung gian’ của phương pháp
rạch bên ngoài:
1. Một số bác sĩ phẫu thuật thích giữ nguyên vách ngăn
và chỉ rạch 1 đường nhỏ ở giữa để lấy túi mỡ. Một
thách thức là túi mỡ cần lấy bỏ chủ yếu là túi giữa
và túi ngoài vì thế nếp mí sau khi tạo sẽ không đều.
2. Một số tác thích rạch da 5-8 mm bằng 3 đường rạch
trên nếp mí, và qua vách ngăn thực hiện lấy túi mỡ
có chọn lọc và khâu buột tạo mí cổ điển. Đường
rạch có thể kết hợp với nhau từ 15->24mm (từ 3 vị
trí này). Thấy 3 mối chỉ khâu trên 3 vết thương để
tạo mí hay trên nếp mí thấy các nốt chỉ trông như
các mắt của cây tre.
3. Có tác giả thích rạch da 5-8 mm, mở vách ngăn để
lấy túi mỡ bằng cách kéo túi mỡ ngoài và trong qua
vết mổ. Tạo nếp mí ở phần giữa của mí mắt và cố
định nếp mí như các phương pháp rạch da. Nhìn
những ảnh lâm sàng đã mô tả phương pháp này,
tuy nhiên thấy xuất hiện nhiều nếp da hơn đường
rạch da. Phải có kinh nghiệm tạo nếp mí rõ ở giữa,
ở trong và ở ngoài thì ít rõ hơn.
Cắt tỉa bờ dưới vết mổ
(Cơ vòng mi)(Hình 9-6)
Theo các bước trước đó, cắt bỏ một lượng nhỏ cơ vòng
mi trước sụn cũng như các sợi cơ vòng mi dày, xen kẽ
với túi mỡ trước sụn mi. Nó nằm ngay trên bờ trên sụn
mi, nơi tạo ra một nếp mí. Trong trường hợp này, chúng
tôi khuyên bạn nên loại bỏ dải mô nằm dưới cơ vòng mi
dày 2-3 mm dọc theo bờ dưới vết mổ (Hình9-6). Nó làm
cho bờ dưới vết mổ sẽ mỏng hơn.
Một số bác sĩ phẫu thuật thường lấy bỏ toàn bộ các
mô dưới da bao gồm tất cả các sợi cơ, chỉ có da phủ trên
bề mặt trước của sụn mi. Do lo ngại rằng các sợi bán tận
của cân cơ nâng mi chưa cài vào da. Trong thực tế, mặt
phẳng trước sụn mi của người châu Á, có rất ít sợi cơ
nâng mi đính vào da.
B
A
Inferior edge of pretarsal
cơ vòng mi muscle
Kinh nghiệm của tôi, loại bỏ mô trước sụn mi chỉ khi
có quá nhiều tổ chức thừa ảnh hưởng đến quá trình tạo
mí. Tôi Không nên cắt bỏ nhiều tổ chức ở trước sụn mi,
sẽ dẫn đến phù nề kéo dài sau phẫu thuật và có nguy cơ
tạo nhiều nếp mí không mong muốn (Hình 5-4). Hơn
nữa, vùng trước sụn (giữa lông mi và nếp mí) hơi đầy tí
thì nhìn tự nhiên hơn cho người châu Á (hình 1-13).
ƯU ĐIỂM
Chỉ nên cắt bỏ mô trước sụn mi khi tổ chức mỡ trước sụn
dày ảnh hưởng đến phẫu thuật tạo mí.
CẨN THẬN
Để lại các mô thừa dọc theo bờ dưới vết mổ sẽ ảnh hưởng
đến sự hình thành nếp mí hoặc nếp mí sẽ mờ dần theo
thời gian.
9 Phẫu thuật tạo mí II: Vector thứ 2
91
vết mổ, giống như giải phẫu tự nhiên của nếp mí. (Vì
đóng phần da phía trên với da phía dưới, điều này được
tranh cãi rất nhiều về việc kết dính của bán tận cơ nâng
mi với bờ da dưới hay cả bờ da trên và dưới. )
Dùng chỉ không tiêu 6-0 (silk hoặc nylon) để kết nối
bờ da dưới và bờ da trên với cơ nâng mi dọc theo bờ trên
sụn mi. Các mũi khâu này buột rời nhau (Hình 9-7A).
(Thật thú vị khi tranh luận xem liệu có bao gồm bờ da
dưới với mô dưới da hay chỉ mô dưới da với cân cơ nâng
mi, theo phương pháp của tôi thì các chỉ khâu được cắt
bỏ. phương pháp thứ 2 là đính tổ chức dưới da với cơ
nâng mi bằng khâu vùi với không tiêu.)
TẠO NẾP MÍ VÀ ĐÓNG DA
Trải săng phẫu thuật đến giữa trán của bệnh nhân,
sau đó nới lỏng ra để giảm lực kéo lên trên vết mổ, sụn
mi và mí mắt. Mí trên phải phủ qua hết lớp sụn-cơ nâng
mi. Mặt trước của mí (da, cơ vòng mi, vách ngăn) được
“tái thiết lập”phủ qua túi mỡ tự nhiên và các tổ chức bên
dưới của cơ nâng mi, cơ Müller, kết mạc mi và sụn mi.
Yêu cầu bệnh nhân nhìn lên và xuống để kiểm tra xem
nếp mí có đủ rõ chưa.
Đối với nếp mí động, các sợi cuối của cân cơ nâng mi ở
bờ trên sụn mi phải cài trực tiếp vào mặt phẳng dưới da
của của đường rạch dưới
A
B
C
Cơ nâng mi
Tổ chức dưới da của
bờ dưới vết mổ
D
92
Phẫu thuật tạo mí mắt người châu Á
có thể áp dụng khâu 3 mũi với chỉ Vicryl 5. 0
khâu xuyên qua tổ chức dưới sụn dọc theo bờ trên
sụn mi (vị trí: 1/3 trong, 1/3 giữa và 1/ngoai của mí
mắt) và thoát từng mũi khâu ở mép da dưới. Các chỉ
khâu sau đó được buột lại với nhau. Sau một tuần,
cắt chỉ hoàn toàn khỏi bề mặt da để lại chỉ Vicryl,
khoảng 2-3 mm/nốt chỉ là nhiều nhất.
• Kiểm tra nếp mí đối xứng hai bên khi hoàn thành
khâu da. Đo chiều cao mí bằng thước. Nếu có sự
khác biệt, tốt hơn là cắt thêm bên nếp mí cao 0,5-1
mm ở bờ da dưới. Đây là quy tắc chung và chỉ nên
áp dụng với riêng từng bệnh nhân.
CẨN THẬN
• Kiểm tra xem mắt có bị hở mi lộn mi trên thứ phát
không nếu các lớp mí mắt không được phép nằm
tự do tới mặt phẳng tự nhiên trước khi đóng vết
mổ (đặt lại lớp trước và sau trước khi đóng vết
thương).
• Cơ nâng mi không tham gia hình thành nếp mí thì
nếp mí sẽ thành nếp mí một phần hoặc mất đi theo
thời gian.
• Nếp mí quá sâu hoặc cao có thể dẫn đến một nếp
mí cao hoặc sụp mi thứ phát, mắt hở mi thứ phát,
rất khó khăn để nhìn lên hay nhìn xuống.
• Bệnh nhân bị sụp mi thì có xu hướng hình thành
nếp mí không tốt. Tốt nhất là tiến hành sửa sụp mi
trước và quay lại sau để tạo nếp mí.
• Các túi mỡ dọc theo bờ trên sụn mi sẽ làm mất nếp
mí.
Khâu ở giữa nếp mí, sau đó khâu 2 hay 3 mũi ở trong
và 3 mũi ở ngoài. Với 5 hoặc 6 mũi khâu tạo mí, phần
còn lại của vết rạch có thể khâu liên tục bằng nylon 6. 0
hay 7. 0. Điều này là cơ hội tốt nhất cho sự hình thành
một nếp mí động (Hình 9-7D). (Chương 7, một nếp mí
động của mí mắt là một nếp mí được tạo ra bằng
phương pháp phẫu thuật: mờ đi khi nhìn xuống, giống
như nếp mí tự nhiên. Nếp mí tĩnh vẫn hiện rõ khi nhì
xuống và được coi là ít thích hơn).
Một số bác sĩ phẫu thuật thường áp dụng các mũi khâu
chỉ không tiêu dọc theo bờ trên sụn mi, cố định bờ dưới
củacơ vòng mi trước sụn đến cơ nâng mi. Phương pháp
này có xu hướng tạo ra nếp mí tĩnh. Nhiều năm sau phẫu
thuật, có bệnh nhân than phiền là họ cảm giác có dị vật
bên trong lớp cơ của mí mắt. Sau đó phải lấy bỏ đi.
ƯU ĐIỂM
• Nên khâu tăng cường ở đầu trong của nếp mí vì bán
tận phía trong của cơ nâng mi thì gồ ghề. Khi khâu
vào khu vực này là tổ chức bán cân thay vì cân của
cơ nâng mi.
• Ở một bệnh nhân có nếp quạt mắt, nếu hình dạng
nếp mí mà chúng ta chọn là dạng nếp mí giảm dần ở
mũi, đường mí có thể nên bắt đầu từ nếp quạt này.
• Khi áp dụng các mũi khâu tạo nếp mí, mỗi mũi khâu
với cơ nâng mi phải dọc đều theo bờ trên sụn mi
và không khâu quá cao để ngăn chặn sự hình thành
một “nếp mí cao, thô và bán nguyệt”.
• Kỹ thuật tùy chọn: Làm sâu thêm nếp mí (rất bất
thường và chỉ được thực hiện tốt theo chỉ dẫn),
