300
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Nếu bạn đã đặt một quả cầu nano ảo ở giữa nếp mí
và nếp gấp, mặt sau của quả cầu nano ở phía bên phải
sẽ vectơ lên trên, bề mặt phía trước của quả cầu nano
nằm dọc theo nếp gấp mí, bên dưới mí nếp gấp (da và
cơ vòng mi, cả hai lớp trước mắt) và hướng xuống.
Với nếp gấp cao, có thể phẫu thuật điều chỉnh phù
hợp:
Đặt lại mặt phẳng, tạo nếp mí thấp hơn, sinh lí hơn→
giảm hiệu ứng Faden, ít sụp mi → cải thiện hoạt động
của cơ nâng mi → ít BrOA
→ nếp mí sẽ tốt và tự nhiên hơn
Trường hợp video 32 là một video trình diễn đơn giản,
có hai tờ giấy, một vài kẹp giấy và một khổ giấy. Tôi cố
gắng thể hiện hiệu ứng làm suy yếu của việc kẹp các kẹp
giấy cao hơn bờ trên sụn mi, tương tự với các chỉ khâu vùi
được áp dụng qua cân cơ nâng mi. Có nghĩa là đưa ra một ý
nghĩa định tính, là thông qua bàn tay của người nắm giữ
hai tờ giấy (da và cơ cơ nâng mi), đánh giá sự khác biệt
trong nỗ lực và tăng cường chống lại giữa các tình huống
lâm sàng được trình. Thước đo bên phải của khung là
một tờ giấy được đánh dấu bằng thang đo milimét 5x. Vỏ
iPad màu đen
(bề mặt nền) được nghiêng ở 45° để bắt chước một
góc nghiêng bình thường hoặc nghiêng của mí khi mở
ra. Tỷ lệ là: khoảng dọc của mí mắt trên = 25-30 mm.
Sụn mí trên điển hình người châu Á được đại diện bởi 7
mm; 10 mm đại diện cho sụn người châu Âu hoặc một vị
trí được lựa chọn để chứng minh một nếp mí neo cao bất
thường. Hoạt động (chức năng) bình thường lên xuống ở
người châu Á là khoảng 10-12 mm để mặt giấy phía sau
được di chuyển cùng một lượng.
REFERENCES
1. Cuppers C. The so-called ‘fadenoperation’ (surgical corrections by
well-defined changes in the arc of contact). In: Fells P, eds. Congress
of the International Strabismological Association; 1976. Marseilles,
France: Diffusion Générale de Librarie; 1976: 395–400.
2. Scott AB. The fadenoperation: mechanical effects. Am Orthopt J
1977;27:44–47.
3. Guyton DL. The posterior fixation suture (mechanism and
indications). Int Ophthalmol Clin 1985;25:79–88.
4. Clark RA, Miller JM, Demer JL. Three-dimensional location of
human rectus pulleys by path inflections in secondary gaze positions.
Invest Ophthalmol Vis Sci 2000;41:3787–97.
5. Clark RA, Isenberg SJ, Rosenbaum AL, Demer JL. Posterior fixation
sutures (a revised mechanical explanation based on rectus
extraocular muscle pulleys). Am J Ophthalmol 1999;128:702–714.
6. Clark RA, Ariyasu R, Demer JL. Medial rectus pulley posterior fixation
is as effective as scleral posterior fixation for acquired esotropia with
a high AC/A ratio. Am J Ophthalmol 2004;137:1026–1033.
7. Clark RA, Ariyasu R, Demer JL. Medial rectus pulley posterior
fixation:
a
novel
technique
to
augment
recession.
J
AAPOS, 2004;8(5):451–456.
301
NÂNG CAO: TÓM LƯỢC LẠI CÁC
YẾU TỐ TẠO MÍ
Đây là chương tóm tắt những yếu tố bao trùm quan
điểm của tác giả về những biến đổi giải phẫu mà góp phần
hình thành hoặc ảnh hưởng bất lợi lên việc tạo nếp mí.
Những bản vẽ quen thuộc sẽ giúp minh hoạ quan điểm
này và những yếu tố đã được thảo luận trong những
chương về sự cải tiến, và làm thế nào những yếu tố này
có thể ứng dụng vào lâm sàng.
Tác giả liên tục bị mê hoặc bởi những yếu tố không thể
dự đoán trước của nếp mí, và một vài yếu tố trong đó có
thể được đại diện bởi những miêu tả ở trên. Chương
này sẽ tiết lộ ý nghĩa của mỗi yếu tố trong các yếu tố đó,
và sẽ quay lại những miêu tả này lần nữa khi kết thúc
chương.
NẾP MÍ TRÊN LÀ GÌ ?
Theo tác giả, một nếp mí trên có thể được mô tả như
là một nếp lõm vào trong của da mí trên ở phía trên bờ
mi mắt, và nó được định vị dọc theo bờ trên sụn mi trên.
Trong cách dùng thông thường, nếp mí trên ít được
mô tả về mặt giải phẫu, và nó có thể nhầm lẫn với bất kỳ
nếp nhăn mờ nhạt nào ở phía trên bờ mí nơi mà da trở
nên lỏng lẻo. Khe mí trên thật sự được mô tả là một nếp
mí lõm vào với hình dạng tốt dọc theo bờ sụn mi trên.
Tác giả có nhiều kinh nghiệm cá nhân về những bệnh
nhân được giáo dục tốt sẽ mô tả cái gì hình thành lên
nếp mí: từ bất kỳ cái gì mà thỉnh thoảng xuất hiện vào
buổi sáng, buổi chiều, sau một hoặc hai cốc rượu mạnh,
sau khi khóc, sau khi đọc, sau khi họ trở lại 17, 30 tuổi
hoặc bất kỳ tuổi nào, hoặc sau khi một tình nguyện viên
cố gắng sử dụng thủ thuật nhìn trợn mắt và cau mày
cùng lúc (nó sẽ bắt đầu kích thích cơ nâng mi thông qua
thần kinh sinh III, cau mày làm căng cơ vòng mi phần
quanh ổ mắt và cơ trán, gián tiếp qua thần kinh VII).
Bệnh nhân cũng sử dụng các loại keo dán, băng dính và
các loại sợi đặc biệt để tạo nếp mí. Những vị trí khác
nhau này hiếm khi là vị trí chính xác của nếp mí tự nhiên
về mặt giải phẫu.
Hầu hết những phương pháp ở trên là không tự nhiên,
và nó chỉ hỗ trợ cho tác giả trong việc cố gắng xác định
các đặc trưng của một nếp mí tự nhiên.
Đầu tiên, nếp mí tự nhiên xuất hiện ngay sau sinh, được
nhìn thấy trong hầu hết các tư thế xoay đầu và không
cần cố gắng để tạo ra nó. Nó có thể có hình dáng và độ
cao khác nhau tuỳ theo chủng tộc, nhưng giống nhau ở
những đặc trưng chung.
Thứ hai, một nếp mí thực sự có một đường nếp mờ ở
trên da mà có thể nhìn thấy khi bờ mí trên được khép
xuống dưới (hoặc khi 2 bờ mí trên và dưới chạm nhau),
vị trí điển hình của nó tương ứng với bờ trên của sụn mi
trên. Những nghiên cứu khoa học gần đây sử dụng kính
hiển vi điện tử tinh tế hơn đã có thể nhìn thấy những sợi
cân cơ nâng mi thực sự dính điểm cuối vào da nơi mà
nếp mí tự nhiên hình thành, xác định một vài giả thiết
trước đó. Khi mi mắt mở ra, vùng nền trước sụn của sụn
mi/cơ vòng mi được tăng cường cùng với da dính vào
trước sụn sẽ là một vector di động hướng lên hình thành
một đơn vị đối diện với vùng da - cơ vòng mi trước vách
ngăn cố định: lồng vào trong nếp mí, và phần nhô ra là
nếp mí. Bề mặt chung cho sự tịnh tiến này xảy ra là phần
mỡ trước cân cơ nâng, cái mà tác giả quan niệm là vùng
trượt.
Thứ ba, một nếp mí thật sự là một nếp mí động, nó có
đặc trưng là mờ đi khi nhìn xuống dưới (khi cơ nâng mi
được thư giãn và cơ thẳng dưới co để kéo nhãn cầu
hướng xuống), không giống như cái nếp mà phẫu thuật
viên thấy khi vết lõm của nếp mí được đính một cách tuỳ
tiện hoặc một nếp mí được nhấn bằng chỉ buộc thắt hay
buộc vòng.
C
Latt LC F afi pf gz h
s m f
Vax eypo BrPt BrOA h
=
−
+
∫
(
,
,
,
,
,
,
)
( ,
, , ( )
,
,
,
,
, h−)
302
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
FIGURE 22-1
CH 2
FIGURE 22-2
(–) Vax
Hầu hết những người có nếp mí trên sẽ biểu hiện một
nếp mí đầy đủ khi nhìn về phía trước.
Khi nhìn xuống dưới, cơ thẳng dưới và cơ chéo trên
co trong khi cơ thẳng trên và cơ nâng mi giãn (cơ nâng
mi giãn ra với chiều dài lớn nhất khi nhìn xuống dưới).
Nhìn xuống dưới làm mờ đi (cạn đi) hoặc làm biến mất
nếp mí trên (Hình 22-2) ở người sinh ra đã có nếp mí,
mặc dù vẫn còn một đường da mờ mờ.
22
Tóm lược các yếu tố tạo mí
303
ĐỘ NGHIÊNG CỦA ĐẦU VÀ NẾP MÍ
Tại sao có sự khác nhau về độ sâu của nếp mí trên
theo tư thế trước của mặt?
Nếu mí hầu như nhìn rõ ràng khi mi mắt mở và mắt
nhìn trợn lên trên - nơi mà cơ nâng mi có lẽ là co tối đa
(và chiều dài cơ là ngắn nhất). So sánh như vậy để khi
một người ngửa nhẹ đỉnh đầu hướng ra sau (trong vị trí
cằm ở phía trước) nhưng vẫn giữ cái nhìn chằm chằm
theo trục ngang; theo như sự tương quan của nhãn cầu,
làm điều này là tương tự như khi nhìn xuống dưới và
bởi vậy nếp mí ít biểu hiện và ít được nhận thấy ở
trường hợp này.
Chiều cao giải
phẫu của
nếp mí
Đường
mí
FIGURE 22-3
ĐỘ CAO CỦA NẾP MÍ
Độ rộng của nếp mí là cái gì? (Nó nên được đo và được
đặt tên là độ cao của nếp mí, từ bờ lông mi đến vết lõm
của nếp mí khi mắt nhắm). Đây là chiều cao giải phẫu
của nếp mí. (Hình 22-3)
Có phải là nếp mí có thể nhìn thấy được xỏ vào giữa
khe lớn hơn của da trên nếp mí và da trước sụn được bộc
lộ với nếp mí có vector hướng vào trong giấu bên dưới
nó?
304
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
mí, và mặc dù nhiều bác sĩ sẽ làm sáng tỏ về quan
niệm đó và sẽ tán thành nếp mí giải phẫu, một phần đáng
kể các bác sĩ khác vẫn nghĩ như bệnh nhân trình bày.
Vấn đề xảy ra không chỉ trong quá trình thảo luận trước
phẫu thuật, mà còn cả trong phẫu thuật khi mà đối mặt
với thách thức thật sự của việc xây dựng nếp mí.
Nếp mí mong đợi mà một bệnh nhân phác thảo có thể
là một vài thứ khá là thấp kém, và một bác sĩ thiếu kinh
nghiệm sẽ tin là điều này có thể đạt được trong phẫu
thuật. Một bệnh nhân có thể cũng mô tả một nếp mí có
chiều cao bất thường, và bác sĩ phẫu thuật có thể cũng
nghĩ nó có thể đạt được và đó là tự nhiên trong khi điều
này là không đúng, tạo ra một nếp mí có chiều cao như
trên về mặt bản chất là khi kết hợp với cắt bỏ mỡ một
cách đáng kể, sẽ mang đến một nếp hõm và vô số những
vẫn đề rối loạn kéo dài như đã mô tả ở chương trước.
Giới hạn chịu đựng cho những lỗi về đặt sai chiều cao nếp
mí là quá sức hẹp. Kiến thức về xây dựng nếp mí phẫu
thuật là cần phải giống với tự nhiên về sinh động học của
nó và vị trí của nó dọc theo bờ sụn mi trên để chức năng
lâu dài của nó như là một nếp mí tự nhiên đòi hỏi chúng
ta phải làm theo những định nghĩa về giải phẫu của nếp
mí. Để tạo một nếp mí hài lòng về mặt thẩm mỹ cho bệnh
nhân, người mà chỉ quan niệm nếp mí là một nếp phải
rõ ràng như chúng ta thảo luận trước đó, thì mưu mẹo
trong loại phẫu thuật mí trên này nằm ở yếu tố là làm
thế nào giữ lại được nhiều da nhất ở trên nếp mí, bởi vì
chúng ta xây dựng một nếp mí lâu dài, sinh lý chứ không
chỉ là một nếp mí được “gắn vào”.
Chiều cao nếp mí ở bề ngoài nhìn thấy được khi đo từ
bờ lông mi sẽ bé hơn 1 - 3 mm so với khi đo bằng tất cả
các con đường hướng đến đỉnh ẩn giấu của nếp mí, cái
này gọi là chiều cao nếp mí nghiêng (tilted crease height -
Tch). Nếp mí nên được xác định bởi đường nếp mờ trên
da mà chúng ta thấy khi mắt nhắm (khi không có sa nếp
mí mắc phải), và lúc đo nên xem như nó tương ứng với
chiều cao ở trung tâm của sụn mi trên; chúng ta sẽ coi
chiều cao này là chiều cao giải phẫu của nếp mí.
(Chú ý là chiều cao nếp mí nghiêng là phần thẳng đứng
của đoạn trước sụn (Hình 22-4). Khi có một nếp mí nhô
ra là x mm, chiều cao nếp mí nhìn thấy là phần thẳng
đứng của chiều cao nếp mí nghiêng Tch trừ đi phần che
khuất (bị che lấp) của nếp mí là x mm, nơi mà x có thể
là 1 - 3 mm.)
Chiều cao giải phẫu của nếp mí > Chiều cao nếp mí
nghiêng (Tch)> Chiều cao nếp mí nhìn thấy
(Nhớ rằng chiều cao giải phẫu của nếp mí là chiều cao
thực sự; nó luôn luôn lớn hơn chiều cao nếp mí nghiêng
quan sát được từ đằng trước, và cũng lớn hơn chiều cao
nếp mí nhìn thấy (cái mà chúng ta thấy khi nếp được kéo
lên)
Mọi người có nên làm theo chiều cao giải phẫu của nếp
mí như là nếp mí thật sự? Tác giả tin chắc là như vậy. Sự
mơ hồ này là cơ sở cho một vài sự nhầm lẫn giữa bác sĩ
và bệnh nhân. Hầu hết bệnh nhân sử dụng mô tả của họ
về nếp mí nhìn thấy cho cảm tưởng của họ về nếp
Hình 22-4 ■ Chiều cao nếp mí nghiêng (Tch) được giảm thêm bởi nếp gấp phủ lên; phần nhìn thấy sau đó là chiều cao nếp mí
nhìn thấy. ‘I’ đại diện cho góc nghiêng của sụn mi, da trước sụn mi hoặc cân cơ nâng mi với mặt phẳng ngang (Tch - nếp gấp =
Chiều cao mí nhìn thấy).
Chiều cao
nếp mí
nghiêng
(Tch)
I°
22
Tóm lược các yếu tố tạo mí
305
Hình 22 - 5: Một sự miêu tả cổ điển về giải phẫu ở chủng tộc da trắng, cho thấy sự hợp nhất của vách ngăn ổ mắt và cân cơ nâng mi
nằm ở một điểm cao hơn
Cơ vòng mi
Mỡ trước cân cơ nâng mi
Vách ngăn ổ mắt
Cơ nâng mi
Cơ Muller
..
Sụn mi dưới
Cơ chéo dưới
Cơ thẳng dưới
Ở người da trắng, thường có một nhãn cầu nằm sâu
và vành ổ mắt trên gồ ra nhiều hơn (hình 22 - 5), nếp
mí có thể khá cao (10-11mm) và uốn cong ra sau như
một
hình trăng bán nguyệt. Cùng với sự suy thoái do
tuổi tác của mỡ trước cân cơ nâng, nếp mí có thể
xuất hiện phẳng hơn và biến mất trong rãnh trên
sụn mi.
306
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
nền trước sụn vector hướng lên tương ứng với mô mềm
trước ổ mắt - trước vách ngăn (da, cơ vòng ổ mắt, mỡ) và
như vậy nó giúp hình thành nên nếp mí.
Ở nếp mí người Châu Á, chiều cao nếp mí thấp hơn so
với chủng tộc khác. Họ có chức năng của cơ nâng mi tốt,
sợi tận cùng của cân cơ nâng mi tốt cái mà tận cùng ở
vùng trước sụn, và một mạng lưới liên quan chặt chẽ giữa
vùng
FIGURE 22-6
22
Tóm lược các yếu tố tạo mí
307
Người Châu Á không có nếp mí (mắt 1 mí) (Hình 22-7)
có thể chỉ có chức năng cơ nâng mi từ khá đến tốt. Ở đây
mối liên quan chặt chẽ giữa mỡ/cơ/da trước vách ngăn
(vùng 2) phủ lên đoạn trước sụn bên dưới cộng thêm cơ
nâng mi (vùng 1) không giúp cho sự lõm vào của nếp mí.
Có thể là có số lượng của da và mỡ tăng cao (mỡ trước
cân cơ nâng cũng như trước vách ngăn), hoặc thậm chí là
FIGURE 22-7
Vùng 1
Vùng 2
Vùng 3
sự có mặt tăng cường của mỡ và cơ vòng mi trước
sụn làm rắc rối hơn cho sự lõm vào của nếp mí.
Yếu tố ưu thế trong loại mí này là không có sự đan vào
nhau ở phần xa của các sợi cân cơ nâng mi trong vùng
cơ vòng mi trước sụn hoặc sự dính vào da. Da và mỡ
bên dưới cuộn lại phủ lên bờ sụn mi trên là không quan
trọng. Do không có sự dính hướng đến da, nên không có
nếp mí.
308
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
nhưng không còn biểu hiện của một nếp mí ở vị trí
bình thường. Nó có thể là do sức kéo của cơ nâng mi
hiện nay phản ánh những sợi cơ nâng mi còn tốt cũng
như sức co của cơ nâng mi hiện tại, và có một sự giảm
thực sự từ 15 - 16 mm trước đây của nó khi mi mắt trở
nên ngày càng sa trễ. Nói cách khác, sức kéo lên của cơ
nâng mi này ở 11 mm biểu hiện cho một sự suy giảm
của bệnh nhân mà trước đây có một sức kéo lớn hơn
Những thay đổi của tuổi tác khác có thể ảnh hưởng đến
sức kéo lên của cơ nâng mi sẽ nằm trong những nghiên
cứu mới gần đây về sự tương quan giữa sự giảm độ
rộng khe mi theo chiều ngang với 10 năm lão hóa. Một
độ rộng bờ mí mắt ngắn hơn có thể ảnh hưởng chặt chẽ
liên quan với cơ chế đóng khép nếp mí và bởi vậy
không nên ngạc nhiên sức kéo của cơ nâng mi sẽ rớt từ
từ theo sự lão hóa (Trong phẫu thuật da thừa mi mắt,
phẫu thuật viên thường nhìn thấy thâm nhiễm mỡ của
cơ và cân cơ nâng mi bị mỏng, sự thoái hóa và sự cũng
như dây chằng góc mắt). Nói cách khác, chức năng của
cơ nâng mi là một thuật ngữ chỉ sức co cơ có suy giảm
thực sự, mặc dù chúng ta vẫn sử dụng không chính xác
sức kéo lên của cơ nâng mi, một hệ số tuyến tính, như là
một chỉ điểm cho sức mạnh ở cả 3 chiều (rộng, dài, sâu)
của cơ nâng mi và sự biểu diễn của số đo 11 mm này
như vậy chỉ ra là “chức năng cơ nâng mi bình thường”
(nó là một mẫu đơn giản mà không so sánh với chủ thể
tương tự ở quá khứ, những thay đổi theo thời gian). Bởi
vậy sử dụng và đo lường thông số này hiện nay được
dán nhãn như là “chức năng cơ nâng mi” là một lỗ hổng
thực sự trong các thuật ngữ về chức năng thật của nó
cũng như việc đặt ra một bộ quy tắc tiêu chuẩn.
Hai yếu tố trên (Latt và LC) chỉ là một ít trong những
trở ngại đầu tiên để xác định có hay không có một nếp
mí rõ ràng trên lâm sàng. Hơn thế nữa, sự nhô lên của
nếp mí chịu ảnh hưởng tích cực bởi F, afi, F, afi, pf, gz và
h, và ảnh hưởng ngược lại bởi s, m, f, tiêu cực bởi Vax,
eypo, BrPt, BrOA, h+, h−.
Khối mô mềm phía trước phủ lên vùng trước sụn bao
gồm da, cơ vòng mi và mỡ trước cân cơ nâng. Số lượng
bình thường của da (skin - ‘s’) và cơ (muscle - ‘m’) hoạt
động như là một sức nặng thụ động tương phản với lớp
sau (gồm sụn, cơ nâng mi và cơ Muller) trong vector
hướng lên; da thừa có khuynh hướng tạo thành một cái
lá chắn che tầm nhìn vào nếp mí. Cơ vòng mi thừa ở phần
trước làm giảm khả năng của đầu xa các sợi cân cơ nâng
xâm nhập vào mặt phẳng dưới da của nếp mí.
Mỡ trước cân cơ nâng mi khỏe mạnh (fat - ‘F’) trong
phần trước vách ngăn (vùng 2) hoạt động như là một
mặt phẳng trượt ít ma sát, nơi mà lá sau chạy lên phủ
thụ động qua lớp trước. Lớp sau chỉ di động khoảng 2 -
3 mm với mối tương quan với lớp trước để tạo cho một
nếp mí nhô ra.
HÌNH DẠNG CỦA NẾP MÍ
Ở người Châu Á, có hai dạng chính của nếp mí là dạng
song song và dạng giảm dần về phía mũi (xem chương
4). Nếp mí song song chạy song song và cách đều trên
mờ lông mi. Nếp song song tự nhiên là liên quan với
đường cong của bờ mi mắt mà vì thế nó uốn quanh bờ
mi tự nhiên. Ở gần điểm cuối phía trong, có nếp mí trên
ở trong hoặc là không, điểm cuối của nếp mí không hội
tụ với chỗ nối ở góc trong.
Trong nếp mí giảm dần về phía mũi, thường có nếp
mí trên ở phía trong là nhô ra, và phần phía mũi của nếp
mí này thường hội tụ hướng đến chỗ nối ở mép trong,
biểu hiện của nếp mí giảm dần về phía mũi chính là giảm
dần đến một điểm. Cả hai loại này là nếp mí tự nhiên và
lý tưởng ở người Châu Á.
NHỮNG YẾU TỐ DỰ ĐOÁN ĐƯỢC CỦA
NẾP MÍ
Một trong những yếu tố xác định sự hiện diện của mí
trên, thì đầu tiên và trên hết là sự có mặt hoặc vắng mặt
của sự đính vào ở phần xa của các sợi cân cơ nâng mi(the
‘Latt’ các sợi đầu xa dính vào bờ trên sụn mi). Chúng chạy
đến vùng dưới da dọc theo bờ sụn mi trên và phần dưới
của cơ vòng mi trước sụn, tận cùng như là những sợi đan
xen ở phần xa trong cơ vòng mi trước sụn. Cái này giúp
xác định bệnh nhân có hay không có nếp mí. Hơn thế nữa,
sự liên kết chặt chẽ của các sợi cân cơ nâng mà có thể
chạy vòng quanh và chèn vào trong những vách gian cơ
giúp xác định tính chặt chẽ có liên quan của cơ - da vùng
trước sụn. Cái mà di chuyển lên trên cùng với mảnh sụn
mi khi cơ nâng mi co. Phức hợp da - cơ vòng mi - mảnh
sụn mi càng gắn chặt, nếp mí càng lõm vào tốt hơn.
Thừa nhận sự hiện diện của sự đính vào như trên, sức
mạnh co của cơ nâng mi được đo gián tiếp bởi số mm
mà nếp mí được kéo lên, và có thể nói nôm na là một chỉ
điểm của “chức năng cơ nâng mi”. Nó là một phần cho
sức mạnh của cơ nâng mi, và tương quan một chút với
có hoặc không một sự kéo trực tiếp lên trên và ra sau
bình thường để đoạn trước sụn (vùng 1) có thể lồng vào
nằm đối diện với vùng trước vách ngăn (vùng 2) để cho
ra một nếp mí rõ ràng trên lâm sàng. Tác giả nhận thấy
là những điều này cùng với sức kéo của cơ nâng mi khỏi
đường cơ sở kém (dưới 10 mm) sẽ có nhiều khả năng
biểu hiện ra một nếp mí không đầy đủ. Còn với lực kéo
của cơ nâng mi 11 mm hoặc lớn hơn thì dường như sẽ
hình thành một nếp mí dễ dàng hơn.
Có phải chức năng đơn giản này xác định bởi 1 hoặc 2
mm? Hoặc có nhiều khả năng là sự tồn tại tương quan
giữa những điều đó với sức kéo lên 11 mm hoặc cao hơn
cho thấy chất lượng sức co của cơ nâng mi (levator muscle
contractility - ‘LC’) là mạnh hơn so với sức kéo lên chỉ 10
mm hoặc thấp hơn? Kịch bản sau là nhiều khả năng đúng
hơn. Có nhiều ví dụ lâm sàng như là một bệnh nhân lớn
tuổi có một nếp mí thực sự trước đó, rồi chứng da thừa
mi do tuổi tác dần phát triển và bây giờ sức kéo lên của
cơ nâng mi vẫn còn đầy đủ hơn 11 mm,
22
Tóm lược các yếu tố tạo mí
309
FIGURE 22-8
trượt một cách dễ dàng giữa hai lớp của mô, và có ít
khả năng một phẫu thuật viên có thể đạt được 2 - 3 mm
sự di chuyển tương quan giữa hai lớp này (Hình 22-8).
Ở một vài người mắt một mí (hình 22-7), phẫu thuật
viên có thể thấy mỡ trước cân cơ nâng mi rất phong
phú tại vị trí thấp hơn bình thường (bình thường là 5 -
10 mm trên bờ trên sụn mi), nó tương quan với sự vắng
mặt của nếp mí và vị trí thấp hơn của điểm gặp nhau
giữa vách ngăn ổ mắt với cân cơ nâng mi. Tác giả tin
những điều này là những yếu tố liên quan đáng giá hơn
là sự cần thiết phải cho thấy kết quả hoàn mỹ của một
thứ nhưng lại ảnh hưởng đến những thứ kia. Túi mỡ
trước cân cơ nâng mi(sau vách ngăn) có thể thỉnh thoảng
sa xuống dưới đến vị trí trước sụn (biểu hiện như là mỡ
trước cân cơ nâng hoặc sau vách ngăn ở vùng 1) và phá
vỡ bất kỳ cơ hội nào để hình thành nếp mí.
Mỡ nằm trước vách ngăn ổ mắt trong cơ vòng mi
trước sụn nên gọi là mỡ trước sụn; nói một cách nghiêm
túc, mỡ ở đây có thể là một sự tích tụ của mỡ ở trước
vách ngăn ổ mắt, hoặc mỡ trước sụn ở vùng 1. Nó cũng
có thể phá vỡ sự hình thành nếp mí. Về mặt bản chất thì
hầu hết mỡ thừa quá mức ở vùng trước sụn đều có thể
ảnh hưởng đến sự hình thành nếp mí.
Ở mí mắt trên nhiều mỡ, khối lượng kết hợp của 3
thành phần là da (s), cơ vòng mi (m), và mỡ trước cân
cơ nâng (F), có thể quá nặng để cho phức hợp sụn mi -
cơ nâng mi ở sau nâng lên được và nó có thể làm biến
mất nếp mí. Cuối cùng, điều này thậm chí có thể dẫn đến
chứng sa mi mắt mắc phải của mí trên ở một độ tuổi
sớm hơn bình thường. Dĩ nhiên, sự quá thừa của bất kỳ
thành phần nào kể trên hoặc kết hợp các thành phần có
thể dẫn đến sự vắng mặt của nếp mí. Mỡ trước cân cơ
nâng (F) khỏe mạnh có thể hỗ trợ như là một lớp trượt,
làm dễ dàng cho sự hình thành nếp mí, còn khi nó quá
thừa thì lại gây trở ngại. (Khi F thừa đến một số lượng
nào đó, nó có thể được xem như một yếu tố mẫu số, với
một chức năng đảo ngược).
Một bệnh nhân bình thường với kích thước khe mi
(palpebral fissure - ‘pf’) rộng về cả chiều ngang và chiều
dọc sẽ có khuynh hướng có một phức hệ cơ nâng mi lớn,
cơ rộng hơn và sức kéo thẳng đứng của cơ cũng mạnh
hơn. Phẫu thuật viên có thể phỏng đoán là độ rộng của cơ
nâng mi lớn hơn sẽ nối vào một cung lồi dài hơn của sụn
mi khi nó chạy hướng lên, và sự dính vào ở điểm trung
tâm của nó dọc theo bờ sụn mi trên sẽ đi ngang ở một
khoảng cách dài hơn (sức kéo lên thẳng đứng của mép
mí trên)
Trong tập hợp những ảnh hưởng tiêu cực của các thông
số này (mẫu số), chữ ‘s’ tương ứng với da mí mắt bị rớt
xuống, da mí dày và thừa quá mức. Một vài cá nhân thậm
chí còn biểu hiện da mí mắt căng, có thể quan sát được
thông qua sự đề kháng của mô khi có dung dịch thuốc tê
tại chỗ được tiêm vào da mí mắt của họ trước phẫu thuật.
Nó cho thấy một sự tái hấp thu quá chậm của thuốc tê
tiêm, cũng như sự nỗ lực lớn hơn mức cần thiết để tạo
nếp của phẫu thuật tạo nếp mí bất chấp những bước phụ
thêm để tăng cường sự hình thành nếp mí. Bởi vậy da
lỏng lẻo sẽ tăng thêm tải trọng, còn da chặt sẽ tăng thêm
sự đề kháng.
Chữ ‘m’ tương ứng với khối thừa quá mức của cơ vòng
mi, và sự mở rộng của lớp cơ vòng mi có nền ở trước
sụn hoặc trước vách ngăn. Mỡ có thể cũng bện vào nhau
trong những sợi cơ vòng mi.
Chữ ‘f’ đại diện cho mỡ nằm trong vùng trượt cái mà
ở trạng thái tự nhiên gây trở ngại hơn là thuận lợi. Tình
trạng lâm sàng này thường được quan sát thấy trong
phẫu thuật ở những người mắt 1 mí, nơi mà thay vì nhìn
thấy mỡ hình cầu, chúng ta lại thấy những bộ phận mỡ
vô định sa xuống dưới, hoặc những cụm khảm của những
giọt mỡ kém định hình mà không có ranh giới rõ ràng ở
nơi mà vách ngăn nằm trước cân cơ nâng. Nó có thể xảy
ra như vậy trong những ca phẫu thuật lần đầu; còn trong
phẫu thuật mí mắt sửa lại, toàn bộ vùng trượt là một mảng
sẹo chắc. Xác xuất để có một nếp mí tự nhiên là hy vọng
vào hàm đảo ngược của ‘f ’ (tưởng tượng nó như một loại
mỡ thừa có hại), hoặc tỷ lệ với 1/f . Việc xây dựng nếp
mí là dễ dàng hơn nếu mỡ (f) có hại này là tối thiểu hoặc
không có.
310
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
FIGURE 22-9
(+) Vax
Cơ nâng mi co tối đa khi nhìn ngược lên trên; ở đó
nếp mí xuất hiện là sâu nhất (chúng ta có thể xem như
góc trục nhìn của bệnh nhân (visual axis angle - ‘Vax’)
ở vị trí nhìn ngược lên tối đa này là góc dương lớn nhất
so với trục nhìn thẳng - góc zero) (Hình 22-9).
22
Tóm lược các yếu tố tạo mí
311
góc zero) là một góc âm lớn nhất. Với góc Vax âm này, sự
lõm vào của nếp mí nên cạn đi hoặc giảm đi một cách tự
nhiên. (Hình 22 - 10).
Cơ nâng mi ở tình trạng nghỉ nhất khi mắt nhìn xuống,
với cơ nâng mi cũng như cơ thẳng trên đều ở tình trạng
nghỉ. Ở đó góc trục nhìn (đo từ một điểm tùy ý của
FIGURE 22-10
(–) Vax
312
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Khi một người có nếp mí tự nhiên đang nhìn thẳng với
một mức nhìn chằm chằm (đặt là Vax giá trị zero), nếp
mí là có biểu hiện tối ưu nhất, không quá sâu cũng không
quá nông (Hình 22-11). Điều tương tự nên được nhìn thấy
ở những nếp mí động do phẫu thuật tạo nên.
Góc quan sát của người khám (examiner’s angle of
observation - ‘ao’) cũng nên ở cùng mức độ và vuông
góc với mặt thẳng đứng của bệnh nhân (với mặt phẳng
trán của bệnh nhân vuông góc với sàn nhà và đường giới
hạn trán - cằm của đầu bệnh nhân được sắp thẳng hàng
giống như một đường dây); đây là góc quan sát zero của
người khám (zero ao), đang nhìn thẳng về phía trước.
FIGURE 22-11
CH 2
22
Tóm lược các yếu tố tạo mí
313
Điều này tương tự như khi yêu cầu bệnh nhân thu cằm
của họ hướng vào phía xương ức trong khi đang nhìn
thẳng, với người khám quan sát từ vị trí ngang mức đó,
về cơ bản sẽ đặt mắt của bệnh nhân ở vị trí nhìn ngược
lên tương quan với ổ mắt của nó.
Nếu người quan sát đang đứng ở một vị trí quan sát
cao hơn (Hình 22-12), và bệnh nhân cũng đang nhìn lại
người khám ở một vị trí cao hơn, nếp mí sẽ xuất hiện sâu
hơn do bệnh nhân đang nhìn lên với một góc Vax dương
cũng như góc quan sát là dương (+ao) từ người khám.
FIGURE 22-12
(+) Vax
(+) ao
CH 1
314
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
CH 3
(–) Vax
(–) ao
FIGURE 22-13
Nếu bệnh nhân ngồi ở một vị trí cao hơn người khám,
người khám ở vị trí thấp hơn và đang nhìn lên (góc ao là
âm) và bệnh nhân đang nhìn xuống (góc Vax là dương),
nếp mí trông sẽ nông hơn (Hình 22-13).
Bởi vậy có hay không lược đồ góc Vax hoặc ao, thì giá
trị dương trong mỗi cái là liên quan với một độ sâu của
nếp mí, và giá trị âm của mỗi cái là liên quan với một độ
nông của nếp mí. Cho mục đích nghiên cứu, nếp mí nên
luôn luôn được đánh giá với một giá trị góc Vax hoặc ao
là zero.
Ở những bệnh nhân lớn tuổi với chứng sa mí mắt phức
tạp, chúng ta thường nhìn thấy cái gì là một nếp mí vị trí
bình thường ở thời tuổi trẻ của người đó cuối cùng sẽ đi
đến một nếp mí cao hơn, ít rõ ràng hơn với sự khởi phát
của chứng sa mi mắt. Có 3 lý do là:
- Có một sự yếu của toàn bộ hệ thống cơ và cân cơ nâng
mi (hệ thống nâng của nếp mí) cũng như sự đính của nó
vào bờ sụn mi trên
- Sự yếu của tổ chức cơ vòng mi trước sụn và trước
vách ngăn gần khu vực phía trước của vùng sụn mi trên
(sự kéo lên của đường mí ít đi)
Do sự rớt của mức mặt phẳng mí mắt trên (gây ra góc
Vax âm trên bộ phận này của bệnh nhân) và một sự lõm
vào nông hơn của nếp mí
Sự yếu của cơ vòng mi ở giữa bờ sụn mi trên và da
phủ lên nó dẫn đến làm yếu đi sự đính của các sợi cân
cơ
nâng mi ở đầu xa tới da dọc theo đường mí ban đầu.
Một vài nhánh của cân cơ nâng vẫn còn ở trên vùng mở
rộng này và cuối cùng dẫn đến nếp mí di chuyển
(‘migrated crease’) lên cao hơn (một sự nhầm tên). Nếp
này là nông hơn và không phải là một nếp mí giải phẫu
thực sự bởi vì nó không có sự lõm vào trước đây ở vị trí
cao hơn này.
Không may thay, nhiều bệnh nhân Châu Á mắt 1 mí
có một vị trí đầu hơi ngửa sau rất dễ nhận thấy. Điều này
là tương tự với khi nhìn chằm chằm xuống dưới nhẹ, cơ
nâng mi của họ có xu hướng hướng nhiều hơn về vị trí
thư giãn, và làm giảm hơn nữa sức kéo ở bờ sụn mi trên
và phần trước sụn. Tác giả không biết chắc chắn là tại
sao lại có điều này, nhưng những yếu tố sau đây có thể
liên quan:
- Ở bệnh nhân mắt một mí, nếp mí ở trước sụn của họ
có khuynh hướng che khuất 5 - 10o lên vùng nhìn phía
trên của họ, và vị trí đầu ngửa ra sau này là một sự di
chuyển bù trừ để cải thiện tầm nhìn.
Hoặc có thể nó cùng xảy ra với chứng sa mi mắt âm thầm
hoặc thậm chí là chứng sa mi mắt tối thiểu. Từ khi sinh
ra, những người này đã chọn tư thế đầu hơi ngửa sau để
làm rõ tầm nhìn của họ. Họ thường khá ngạc nhiên khi
điều này được chỉ ra trên hình chụp nghiêng hoặc qua
gương.
Một nếp mí được tùy ý đặt quá thấp (h-) thông qua
một đường rạch ở thấp cũng sẽ gây ra những ảnh hưởng
tiêu cực đến kết quả, bao gồm thất bại trong tạo nếp mí,
sự mờ dần và biến mất nếp mí sau đó, sẹo đường rạch là
thấy rõ và không dễ dàng để giấu đi, cũng như nếp mí bị
chia ra từng đoạn. Chiều cao nếp mí lý tưởng (h) là nằm
trong đường phù hợp với giải phẫu tự nhiên sẽ dẫn đến
kết quả tốt nhất và ít nguy cơ biến chứng nhất. Bởi vậy
ở đây, h nằm trên đường đỉnh (tử số), h+ và h- có thể là
yếu tố bất lợi, và được đặt ở mẫu số.
Thỉnh thoảng ở bệnh nhân, chúng ta thấy được sự mở
rộng của khóe mắt ngoài, cho thấy sự mỏng của cuống
trên và dưới của dây chằng khóe mắt ngoài. Thường
chúng ta sẽ thấy chỗ này tròn và da dạng mạng lưới
mỏng phủ lên góc khóe mắt ngoài. Nếp mí trên sẽ ít lõm
vào ở phía ngoài như là kết quả của sự yếu tương ứng
phần ngoài của cơ nâng mi. Cơ vòng mi trước sụn, ở nơi
đính vào vành ổ mắt ngoài, cũng bị yếu tương ứng, cùng
với sự dính của sụn mi vào góc mắt ngoài - Ở phần ngoài,
nếp mí sẽ lõm vào yếu do sự yếu của phức hợp sụn - cơ
nâng mi.
Tại điểm cuối đối diện, là khóe mắt trong, một bệnh
nhân với chứng sa mí mắt bên trong cũng là kết quả của
sự mở rộng của sừng trong cơ nâng mi và sự di chuyển
ra phía ngoài của mảnh sụn mi, điển hình cho thấy một
sự mất lõm vào tương tự của nếp mí.
Một sự mở rộng phủ lên vùng khóe mắt ngoài của mí
mắt trên điển hình sẽ dẫn đến sức nâng của cơ nâng mi
kém hiệu quả ở phần cuối ngoài của nếp mí. Sự yếu của
cơ nâng mi đi kèm với xuất huyết sau phẫu thuật trong
cơ vòng mi có thể đưa đến vị trí sa mi mắt mắc phải. Nếp
mí lúc này xuất hiện là nông hơn và như một đoạn nhỏ
xa hơn từ mép lông mi.
Có một sự hiểu biết toàn diện về những thông số sinh
lý trong sự hình thành nếp mí, những yếu tố cần nhấn
mạnh và những yếu tố làm nhiễu của nó, sẽ cho phép
phẫu thuật viên điều chỉnh vừa vặn theo nhu cầu của
mỗi bệnh nhân và từ đó đặt ra một giải pháp phẫu thuật
lý tưởng với mỗi yếu tố trong các yếu tố trên trong trí
óc. Phẫu thuật tạo nếp mí ở người Châu Á vì thế nên lựa
chọn những khả năng để cho phép phẫu thuật viên có sự
đánh giá trong lúc phẫu thuật, và sửa chữa những yếu tố
thích hợp đó một cách đầy đủ để tối ưu hóa sự hình thành
nếp mí.
Sự tiến bộ hiện nay của những kỹ thuật phẫu thuật
tạo hình mí mắt ở người Châu Á được sử dụng bởi tác
giả đã cho phép những sửa chữa và đánh giá như vậy, và
là một trong nhiều lý do cho ưa thích những kỹ thuật
đường rạch bên ngoài hơn là những phương pháp khâu
buộc trích dẫn trong lịch sử.
Quay lại công thức đã mở ra trong chương này, công thức
cho phép chúng ta xem xét tất cả các yếu tố đóng vai trò
trong việc tạo nếp mí.
Thật vậy, thậm chí sau khi phẫu thuật tạo một nếp mí
trên thành công, bệnh nhân thường làm cạn đi nếp mí
mới của họ mà không hề biết khi họ vẫn mang thói quen
ngửa đầu nhẹ ra phía sau trước đây. Nếp mí động được
hình thành tốt có thể không lõm vào đầy đủ trừ khi đường
cằm trán của bệnh nhân là thẳng đứng và mặt hoàn toàn
ở tư thế mặt phẳng trán. Điều được chờ đợi là nếp mí động
nên nông hơn khi nhìn xuống. Tác giả thường khuyên
bệnh nhân của mình trước phẫu thuật để họ hiểu đầy đủ
và thay đổi thói quen sau phẫu thuật, đó là một tư thế
đầu tối ưu và vị trí mặt để cho thấy nếp mí với điểm mặt
nhìn thẳng về phía trước (nơi mà đường cằm trán vuông
góc với sàn nhà). Bệnh nhân thường mất khoảng vài tháng
để điều chỉnh hoàn toàn tư thế đầu về vị trí bình thường
hơn.
Vị trí mắt tương quan (eye position - ‘eypo’) của nhãn
cầu trong ổ mắt là ảnh hưởng tinh tế hơn đến kết quả có
thể xảy ra của nếp mí. Một con mắt ở vị trí hướng về
trước nhẹ thì mí trên sẽ có cơ nâng mi ở vị trí tương đối
bằng phẳng hơn (ngoại trừ những bệnh nhân có mắt lồi
do bệnh tuyến giáp thì có cơ nâng mi của họ thường bị
kích thích quá mức, hoặc xơ hóa và ngắn lại khi nó bình
phục). Khối lượng thụ động của lớp cơ - da phía trước ít
hơn khi nó phân tán phủ lên một mặt phẳng ngang hơn,
dẫn đến trọng lượng ít hơn cho mỗi vùng bề mặt. Vị trí
nhãn cầu phía trước thì nếp mí thường có khuynh hướng
hơi nông hơn một chút.
Lông mày cũng góp phần hỗ trợ tự nhiên cho phần
trên của mí trên, như cơ trán ảnh hưởng lên phần quanh
ổ mắt mí trên (vùng 3) của cơ vòng mi (hình 22 - 7).
Khi có chứng sa lông mày (brow ptosis - ‘BrPt’ hoặc
brow droop - lông mày rũ xuống), nếp mí có thể trở thành
tấm khiên che bớt hoặc xóa hoàn toàn tầm nhìn do khối
mô mềm của lông mày như một trận tuyết lở xuống. Lông
mày có thể trở nên quá hoạt động (‘BrOA’) trong chứng
sa lông mày phức tạp, hoặc trong chứng sa thứ phát do
đính nếp mí quá cao vào cơ nâng mi. Trong những tình
trạng này, nếp mà được đính ở trên đỉnh của nếp mí bị
nâng lên một phần do sự hoạt động quá mức của lông
mày và lúc này nếp mí thật sự có thể bị nhìn thấy, trong
khi ở một vài ca nó xuất hiện ít lõm hơn (nông hơn) bởi
vì lớp da - cơ vòng mi ở trước cũng bị kéo lên một cách
thụ động.
Cuối cùng, và có ý nghĩa quan trọng nhất, là vị trí đặt
nếp mí, tức là chiều cao của nếp mí (crease height - ‘h’).
Phẫu thuật viên sẽ chú ý là chiều cao nếp mí vừa làm dễ
dàng (‘h’ ở trong tử số) vừa gây cản trở (h+ hoặc h- trong
mẫu số) trong những cách khác nhau. Chiều cao tối ưu
(optimal height - ‘hopt’) giống với nếp mí sinh lý thường
là tương đương với chiều cao của phần giữa sụn mi trên.
Một nếp mí quá cao (h+) sẽ có nguy cơ gây ra chứng hở
mi, làm lớn vùng trước sụn và chứng sa mí mắt thứ phát
bên cạnh những rối loạn thẩm mỹ khác.
C
Latt LC F afi pf gz h
s m f
Vax eypo BrPt BrOA h
=
−
+
∫
(
,
,
,
,
,
,
)
( ,
, , ( )
,
,
,
,
, h−)
316
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
và trục ngang (mỗi cạnh này sẽ xấp xỉ khoảng 5 mm,
tức là 7 mm ×1/√2). Bởi vậy nếp mí đo được 7 mm lúc
này trình diện với người khám (hoặc bệnh nhân nhìn qua
gương) sẽ chiếm 5 mm chiều cao thẳng đứng tại trục của
nó (chiều cao nếp mí nghiêng), và chỉ khoảng 2 - 4 mm
(chiều cao nếp mí thấy rõ) khi một nếp gấp phủ lên nó
bị trừ ra 1 - 3 mm. Bởi vậy, khá là bình thường khi một
bệnh nhân mắt 1 mí hỏi về một nếp mí 3 mm như là kết
quả cuối cùng được ưa thích của họ. Người thực hành
phải nhận thức rõ là cần phải đặt nếp mí ở vị trí 7 mm.
Câu hỏi như là có hay không một vài yếu tố liên quan
với sự phát hiện tỷ lệ thất bại cao (nếp mí bị mờ đi) sau
phẫu thuật trong số những bệnh nhân với sức kéo lên
của cơ nâng mi ở khoảng giáp gianh (khoảng 9 - 11 mm),
hoặc sự liên quan của chứng sa mi mắt tối thiểu đến nhẹ
ở những bệnh nhân mắt một mí, là khó khăn hơn để phác
họa.
Chương này tổng hợp tất cả những khái niệm được thảo
luận trong cuốn sách này và mở rộng hơn. Một vài thứ
có thể là quá bí mật, nhưng tác giả hy vọng với hầu hết
người đọc nó cung cấp một công thức mang đến những
khái niệm đi cùng với nhau trong việc lập kế hoạch chặt
chẽ của phẫu thuật tạo nếp mí và như vậy có thể giúp ích
trong việc chăm sóc bệnh nhân.
REFERENCES
1. Collin JR, Beard C, Wood I. Experimental and clinical data on the
insertion of the levator palpebrae superioris muscle. Am J Ophthal-
mol 1978;85:792–801.
2. Chen WPD. Concept of triangular, rectangular and trapezoidal
debulking of eyelid tissues: application in Asian blepharoplasty. Plast
Reconstr Surg 1996;97(1):212–218.
3. Chen WPD. The concept of a glide zone as it relates to upper lid
crease, lid fold, and application in upper blepharoplasty. Plast
Reconstr Surg 2007;119(1):379–386.
4. Chen WPD. Beveled approach for revisional surgery in Asian
blepharoplasty. Plast Reconstr Surg 2007;120(2):545–552.
Chú giải cho công thức là: C đại diện cho xác suất hình
thành nếp mí và tỷ lệ với phép tổng của những yếu tố
cho phép biến đổi bao gồm sự đính và sức co của cơ
nâng mi, mỡ trước cân cơ nâng, các sợi cân cơ nâng
mi, kích thước khe mi, sự nguyên vẹn của vùng trượt
với mỡ bình thường khỏe mạnh, và vị trí đặt chính xác
tối ưu của chiều cao nếp mí; Nó bị ảnh hưởng bất lợi
bởi những yếu tố trong mẫu số, bao gồm cấu trúc và
số lượng của da, cơ mí mắt, sự hiện diện của mỡ đã
thành sẹo, góc trục nhìn âm của bệnh nhân, vị trí nhãn
cầu, chứng sa lông mày và hoạt động bù trừ quá mức
của lông mày, và độ lệch cao hoặc thấp quá mức so với
chiều cao nếp mí chuẩn.
GIẢI THÍCH THÊM CHO CHIỀU
CAO NẾP MÍ
Nếu chúng ta có một bệnh nhân đang nằm ngửa và đo
chiều cao nếp mí khi mí mắt nhắm, chúng ta sẽ có được
vị trí chính xác của một nếp mí giải phẫu, thường là nằm
dọc theo bờ trên sụn mi trên. Chúng ta hãy cho là chiều
cao nếp mí giải phẫu là 7 mm ở người Châu Á với một
nếp mí tự nhiên. Khi bệnh nhân ngồi dậy và mặt ở tư thế
thẳng đứng, bệnh nhân nhìn thẳng về phía trước, nếp mí
là biểu hiện tối ưu và rúc vào bên dưới nếp gấp mí mắt
của nó. Vùng nền sụn mi trên là nghiêng ra sau theo một
hướng chéo. Chiều cao giải phẫu nếp mí đo được là 7 mm
(da trước sụn) có thể được xem là đang nằm nghiêng trên
cạnh huyền của một tam giác vuông góc 45o, trong khi
hai cạnh còn lại của tam giác hình thành nên trục dọc
317
NHỮNG QUAN ĐIỂM TIẾN BỘ
CỦA NẾP MÍ NHƯ LÀ CÁC ĐIỂM
NỐI NHAU
Tóm lại các chương đã qua, tôi trình bày suy nghĩ hiện
tại về chức năng sinh động học của nếp mí mắt.
Vào 1993, lần đầu tiên khi tôi đang chuẩn bị xuất bản
atlas về phẫu thuật tạo mí người châu Á, cuối của chương
đầu tiên, tôi đã cho rằng mắt mí mắt giống như Vạn Lý
Trường Thành, từ ngoài vũ trụ, một phi hành gia chỉ có
thể quan sát một đường nằm trên bề mặt của hành tinh,
trong khi thực tế thì bức tường nằm uốn khúc dọc theo,
bao phủ địa hình rất khác nhau và với pháo đài nằm rải
rác cách nhau 80-120m. Những tiền đồn được xây dựng
với các chức năng khác nhau: bên trong có các phần phụ
khác nhau phục vụ như là khu ngủ, kho chứa ngũ cốc,
kho vũ khí, nơi trú ẩn động vật, tín hiệu và trạm chỉ huy.
Tương tự, nếp mí mắt thay đổi một cách tinh tế khi bạn
đi qua chiều rộng của mí mắt. Nó được gắn vào các mô
khác nhau như độ cong của bờ mi, sụn mi và dây chằng
góc mắt đối diện đi vào hoạt động.
Với mí mắt được sinh ra tự nhiên, có các kỹ thuật khác
nhau mà bạn có thể áp dụng trong các phần của mắt một
mí khi bạn tạo (hoặc thêm) một nếp mí tự nhiên, liên tục
xuyên qua mí mắt trên với bề ngoài của nó hiển thị như
một dòng đồng nhất. (Chúng tôi đã thảo luận độ sâu của
nếp mí và độ nghiêng, nếp mí rõ ràng so với chiều cao mí
nghiêng, cũng như với hình thái trước sụn mi khác nhau
trên bề rộng của mí mắt). Ở đây chúng ta đang thảo luận
về tính chất của nếp mí đối với độ cong của mắt.
Điều gì về các vectơ đối lập xuyên qua chiều dài của
mí mắt ? Nói cách khác, các lực tác dụng dọc theo nếp mí
cho phép lớp trước (lớp vách ngăn) trượt xuống tương
ứng với lớp sau của cơ nâng mi và sụn mi khi mí mắt mở
ra như thế nào?
Tôi thích khái niệm hóa nếp mí như biểu hiện bên
ngoài của chuỗi chuỗi các điểm (điểm = điểm duy nhất
trong không gian). Trong hình 23-1, các chấm màu vàng
có kích thước khác nhau đại diện cho các điểm có vectơ
lực với cường độ khác nhau tác động lên chúng. Mỗi chấm
màu vàng (Hình 23-2) đại diện
318
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
cho một điểm phóng đại (vectơ), trong đó vector màu
đỏ là phù hợp với sự co của cơ nâng mi, và mũi tên màu
xanh, trọng lượng sẽ kéo lớp da-cơ ở phía trước xuống
dưới khi cơ mặt ở trạng thái nghỉ. Lưu ý rằng hướng của
vec-tơ màu xanh có thể thay đổi từ 45° so với đường
ngang, đến gần như thẳng đứng (90°) nếu đặc điểm
khuôn mặt tương đối bằng phẳng, như thường là trường
hợp mắt người Châu Á.
Chúng ta hãy khái niệm rằng mỗi điểm là một thang
điểm ảo nano (như xoay vòng bi nano, hay định nghĩa
toán học của một điểm trong không gian) bị chặn bởi các
lực vectơ đi theo hướng ngược lại (nghiêng ở mặt sau và
nghiêng) -trên mặt trước của nó). Chuỗi điểm này giống
như một chuỗi các hạt có kích cỡ nano nằm giữa hai lớp
vỏ trên ở một vị trí gần dọc theo bờ trên sụn mi. Khi cơ
nâng mi hoạt động (‘ON’ dây thần kinh III) và mí mắt
mở, có một tín hiệu ức chế thần kinh của cơ vong mi xảy
ra cùng lúc (dây thần kinh VII), biến nó thành ‘OFF’. Trọng
lượng của lớp da và cơ vòng mi giãn ra và thoải mái trượt
xuống một cách đồng bộ, và bao phủ một phần da trước
sụn và trở thành nếp gấp của mí mắt. Sự pha trộn chính
xác giữa lớp ở phía sau đi lên và lớp da-cơ vòng mi đi
xuống và xảy ra bên trong mí mắt, và biểu hiện bên ngoài
của nó ở bên da là nếp mí mắt. Sự thay đổi giai đoạn là
nơi các điểm ảo (hoặc quả bóng nano ảo) được đặt. Các
mặt phẳng- trượt tạo điều kiện bởi mỡ trong không gian
ở giữa mà tôi đã gọi là vùng trượt (xem Chương 17).
Một câu nói khôn ngoan tương tự là ‘một trận tuyết lở
có thể bắt đầu với trọng lượng thêm của một bông tuyết’.
Chúng ta có thể thấy
23 Những quan điểm tiến bộ của nếp mí như là các điểm nối nhau
319
A
B
điều này một cách dễ dàng bằng cách quan sát các lớp
cát màu mịn bị mắc kẹt trong chất lỏng giữa hai tấm kính.
Khi chúng ta xoay tấm kính, chúng ta có thể thấy các đụn
cát lật nhào, và trượt khi các lớp trên đỉnh đạt được cát
nhiều hơn một chút.
Trong việc bắt chước một nếp thông qua phẫu thuật,
điều quan trọng là phải nhận ra điều này. Để tạo ra nó
chính xác, vị trí của nếp mí dọc theo nơi những có những
điểm thay đổi
(chuỗi điểm) tự nhiên có thể xảy ra (phẫu thuật làm
sạch những tổ chức cản trở tạo mí) nên là mục tiêu quan
trọng nhất. Độ lệch từ nó có tác dụng phụ sinh lý và chức
năng đáng kể.
Hình 23-3 cho thấy hình ảnh trước và sau phẫu thuật,
sau khi trải qua quá trình tạo mí người châu Á do tác giả
khác thực hiện. Màu vàng khái niệm các điểm được dán
để hiển thị vùng trước sụn thấp hơn vectơ chống lại vùng
trước vách ngăn chùn xuống
320
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Khái niệm này có thể giải thích tại sao khi khâu vùi
qua mà chỉ khâu bao quanh cơ nâng mi, hoặc nếp mí đính
cao trên cân cơ nâng mi, thường dẫn đến các vấn đề bao
gồm chiều cao nếp mí và sụp mi mắc phải (Hình 23-4)
Lưu ý các điểm chức năng bị hạn chế trong giới hạn khi
khâu vùi.
23 Những quan điểm tiến bộ của nếp mí như là các điểm nối nhau
321
Ở đây chúng ta thấy rằng bất kỳ thay đổi tạo thành một
điểm xoay bình thường sẽ bị mất đi khi đường khâu vùi
xuyên qua mặt trước cơ vòng mi, được cho là giãn ra,
và cơ cơ nâng mi ở phía sau đang cố nâng mí mắt (Hình
23- 5).
Một hiệu ứng cố định giống như Faden được tạo ra
trên mí ở ít nhất ba vị trí cao do vị trí của ba đường may
cố định bị chôn vùi. Khâu ép tạo ra một lực kéo bị động
(tăng trở kháng) lên chức năng co của cả hai cơ nâng mi
và Müller. (Trong trường hợp này, hiệu ứng Faden ở
bên trong à bên ngoài của vị trí cố định - cả mặt trước
và mặt phẳng dưới của cân cơ nâng mi, được thấy trong
Hình 23-5 dưới dạng một lớp màu hồng. Vị trí cố định
thường cách bờ trên sụn mi vài mm.)
Nhìn hình phóng đại (Hình 23-5) cho thấy sự cản trở
được tác động lên 2 hai vec tơ. Đính trên vị cao sẽ làm
giảm tác dụng hiệu quả của co cơ nâng mi.
Lực co (nâng) được biểu thị bằng mũi tên vectơ xanh
song song với mặt phẳng cơ nâng mi bị giảm đi. Đường
đi của cơ nâng mi giảm đi. Tải được tăng lên khi có nhiều
mô được xếp chồng lên nhau.
Bao gồm nhiều cơ vòng mi hơn và cân dưới da nằm
trong vòng chỉ khâu sẽ ảnh hưởng đến cơ vòng mi lúc nghỉ
(dây thần kinh VII off) và trọng lực sẽ cho phép để nếp
gấp hình thành trên nếp mí, dẫn đến vector màu xanh kéo
xuống. Có một lực cản trở hoặc giữ lại ở mặt trước sụn
mi, và ít mô có thể đi xuống. Chiều cao nhìn thấy là phóng
đại, và chúng ta thấy sụp mi. Lớp cơ vòng mi màu xám sẽ
ngăn chặn sự đổ xuống của nếp gấp do trọng lực tại vị trí
mong muốn dọc theo bờ trên sụn mi, nhưng bị cản trở ở
điểm cao hơn - kết quả là nếp mí cao, hoặc nếp mí nông
mờ là kết quả cuối cùng khi chỉ khâu tổ chức bị lỏng ra.
Trong trường hợp nặng, chúng ta có thể thấy mắt nhắm
không kín.
322
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
THAY ĐỔI CHỨC NĂNG
CỦA CÁC ĐIỂM
Có nhiều cách thay đổi các điểm dọc theo nếp mí không?
Câu trả lời chắc chắn là có. Có thể phỏng đoán rằng sự
thay đổi lớn trong các vectơ cho những điểm nằm dọc
theo phần giữa của mí mắt, nói cách khác, sự thay đổi tối
đa xảy ra ở giữa (dọc theo các chấm nano). Nó thường ít
xảy ra ở mỗi bên góc mắt (góc trong và góc ngoài khi mí
mắt mở). Hướng tới các góc của mí mắt lúc mở, lực vectơ
kéo lên có khả năng ít hơn (ít các sợi cân của cơ nâng
mi), và theo hướng véctơ cân cơ nâng mi sẽ phẳng hơn
và nhiều hướng phụ hơn. Tương tự như vậy, trọng lượng
rơi xuống của lớp da-cơ vòng mi giãn ra ở phía trước có
khả năng ít tham gia vào 2 bên góc mắt. Đồng thời, da ở
bên góc mắt tương đối dày hơn và chắc hơn với ít không
gian bên trong nó.
Ngoài ra, vectơ màu xanh có thể phẳng hơn hoặc ít
theo chiều dọc hơn (góc nghiêng nhỏ hơn, I) tại mỗi bên
góc mắt, do đó sự thay đổi giữa hai vec-tơ (xanh lá cây
và xanh dương) không ngược hướng nhau (gần 180°)
như ở phần giữa của nếp mí. Ít chất lỏng hơn, và xảy ra
ở tốc độ chậm hơn (tốc độ), mặc dù đều phải mất cùng
một thời gian chớp mắt như nhau nhưng đường đi ở
phần trung tâm nhiều hơn 2 bên góc mắt. Vì vậy, lực
đảo ngược (hoặc đảo chiều vectơ) dọc theo phần trong
và ngoài của nếp mí có thể ít đột ngột hơn.
Hình 23-6 cho thấy các chấm nano được đặt dọc theo
nếp mí của bệnh nhân đã phẫu thuật thành công tạo mí
người châu Á. Các chấm có kích thước nhỏ hơn cho biết
sự đảo chiều véc-tơ ít hơn. Lưu ý các chấm màu vàng
nhỏ hơn một chút đặt trên phần trong và phần ngoài của
nếp mí; chúng đại diện cho tương tác vectơ quy mô nhỏ
hơn cũng như mối quan hệ ít đối nghịch về hướng giữa
các vector màu xanh lá cây và màu xanh dương.
23 Những quan điểm tiến bộ của nếp mí như là các điểm nối nhau
323
cho một nếp mí tự nhiên khi lực vectơ giảm dần và
chuyển dịch theo hướng của nó. Khi nếp tạo ra bằng
phẫu thuật với phương pháp rạch bên ngoài, ví dụ như
tạo mí người châu Á của tác giả, người ta mong đợi phần
giữa của cấu trúc nếp mí (thay đổi tối đa giai đoạn dọc
theo các điểm) để dễ dàng nhận thấy và vĩnh viễn dễ
dàng đạt được, trong khi 1/3 trong của nếp mí được
tăng cường bằng kỹ thuật khâu da đặc biệt và khống chế
tạo mí ở góc mắt trong, và 1/3 ngoài cho phép nông dần
giống như nếp mí tự nhiên. Những kết luận này chủ yếu
dựa trên giả định rằng bệnh nhân có chức năng cơ nâng
mi khỏe mạnh và mí mắt mở đầy đủ kích thước, theo
chiều dọc cũng như theo chiều ngang, và một vùng trượt
bình thường (không gian trước cân cơ nâng mi và mỡ)
tồn tại.
Trong trường hợp phức tạp, nơi có sẹo dọc theo mặt
trước sụn (da-cơ vòng mi) hoặc vùng trượt (không gian
trước cân cơ nâng mi), nơi có chắc của da hoặc thiếu
trượt (đảo chiều véc tơ), thì khả năng giảm bớt hình
thành một nếp mí. Cần nỗ lực sửa chữa để thiết lập lại
sinh động học này. (Ở đây một lần nữa, nỗ lực sửa chữa
hơn nữa bằng cách sử dụng công nghệ kỹ thuật khâu hầu
như luôn không thành công vì lý do rõ ràng.)
KẾT LUẬN
Trong lần xuất bản đầu, tôi đã đề xuất một số hướng
dẫn cụ thể cho nghiên cứu phẫu thuật liên quan đến nếp
mí. Thật không may đã không có bất kỳ sự tiến triển đáng
kể trong các y văn bằng cách sử dụng các phương tiện
bên ngoài mới hơn, laser mới hoặc vật liệu hòa tan sinh
học cấy ghép. Bên cạnh đó, ngay cả khi có, với tiêu chuẩn
mà chúng tôi đã thiết lập và sự hiểu biết về sinh động
học, không chắc rằng bất kỳ kỹ thuật nào có thể đạt được
những ý tưởng này hoàn toàn, về kiểm soát tối ưu và vị
trí của nếp mí, kiểm soát hình dạng nếp mí, xuất hiện tính
liên tục tự nhiên, và để đạt được lâu dài, cũng như tránh
tác hại lâu dài. Người ta nên chú ý đến tất cả bốn thông
số trong một lần phẫu thuật, tuy nhiên người ta cần lưu ý
rằng do sự biến đổi của giải phẫu mí mắt nội tại của từng
bệnh nhân và các tình trạng liên quan đến sụp mi, một số
bệnh nhân sẽ cần các bước phẫu thuật được tổ chức tốt
vì mục tiêu có thể vượt quá những gì có thể đạt tới, cho
dù là làm mới hay sửa lại.
Với lực đảo chiều mạnh hơn ở trong và ngoài, nếp mí
sẽ thấy to hơn ở phần giữa mí và ít dần về phía 2 góc
mắt. Trên lâm sàng, nó giúp giải thích tại sao khó khăn
hơn để hình thành nếp tốt ở góc mắt trong và ngoài.
Hướng của vector màu xanh là giá trị thảo luận hơn
nữa. Bạn có thể thường thấy ở những người da trắng có
đôi mắt sâu thẳm rằng cơ nâng mi co lên và nếp mí dễ
dàng hơn. Điều này nhìn thấy thường xuyên với nếp mí
đưa lên mà dường như không thể đảo ngược (độ dốc) từ
bờ trên ổ mắt hướng về phía sau; nói cách khác, da treo
lên từ lông mày và dốc xuống và ngược lại (sau-dưới). Ở
người châu Á, những người thường có mối quan hệ không
gian phằng từ mí mắt đến bờ ổ mắt, nếp gấp mí có khuynh
hướng nghiêng xuống và tiến về phía trước (do kém hơn),
do đó đẩy xuống chống lại lực tăng màu xanh lá cây kéo
lên, hoạt động ở góc nghiêng gần sụn mi 45-50°. Đối với
người da trắng, vector màu xanh lam này (cho da và cơ
vòng mi) không cản trở sự hình thành nếp mí nhiều, do
xác suất cao hơn của góc hoạt động không trực tiếp đối
lại ở vectơ xanh nâng 180°.
Có thể điều chỉnh cấu trúc nếp mí dựa trên các biến
thể của sự bám cơ nâng mi dọc theo bờ trên sụn mi (da,
cơ vòng mi, bờ trên sụn mi), vị trí không gian của nó đối
với ổ mắt, phát hiện các yếu tố liên quan đến cản trở về
hình thành nếp mí, kích thước khe mi và các yếu tố thiết
kế riêng của từng người để tạo nếp mí có hình dạng và
độ liên tục. Kỹ thuật sử dụng trên một mí mắt có thể bao
gồm sự kết hợp của một số kỹ năng tăng cường cụ thể
được áp dụng trên các phần khác nhau của nếp mí đó.
Mí mắt bên đối diện có thể cần một cái gì đó khác.
ĐIỂM KHÁC BIỆT DỌC THEO
NẾP MÍ TRÊN
Trên lâm sàng, với nếp mí trên sinh ra tự nhiên muốn
tạo nếp đủ rõ nét thì chủ yếu rên 1/3 trong và 1/3 giữa
mắt (ở đây, có thể là sự cân bằng của cơ nâng mi ở người
trưởng thành vẫn bình thường và trọng lượng rơi xuống
của góc mắt trong cho phép hình thành nếp gấp mí tốt ở
phần trong của mí). 1/3 ngoài của nếp mí thường xuyên
bị cạn dần
325
PHẪU THẬT TẠO MÍ NGƯỜI CHÂU Á:
QUAN NIỆM CỦA TÔI
by Khoo Boo-Chai (manuscript prepared by William PD Chen MD)
Khoo Boo-Chai của Singapore, một nhà tiên phong
trong lĩnh vực này từ những 1960, cung cấp tất cả thông
tin trong chương này được tóm tắt bởi W.P.D. Chen xem
xét bởi Tiến sĩ Boo-Chai cho xuất bản thứ hai. Điều này
được dựa trên 40 năm kinh nghiệm thực hành của mình
với phẫu thuật thẩm mỹ mí mắt trên.
Boo-Chai1 đã báo cáo về kinh nghiệm của mình trong
hơn 5 năm với 625 ca phẫu thuật tạo mí người châu Á
bằng phương pháp khâu qua kết mạc. Ông cho rằng quy
trình này được sử dụng tốt nhất ở những bệnh nhân có
ít mỡ mí trên và nếp da mí dư không nhiều chưa vượt
quá bờ mi. Dùng chỉ không tiêu để kết nối cân cơ nâng mi
với da mí ở 5-8 mm từ bờ mi. Nếu có quá nhiều mỡ trên
ổ mắt (trước cân cơ nâng mi), nó được loại bỏ đầu tiên
thông qua vết rạch da nhỏ ở giữa mí mắt, bằng ¼ chiều
dài mí.
Lật mí mắt ra và tiêm lidocain bôi 5% tại chỗ; 0,5 ml
1% lidocain tiêm dưới kết mạc. Dùng 1 đầu kim nylon
4.0 xuyên qua kết mạc khoảng 2-3 mm trên với bờ trên
sụn mi. Tiếp tục xuyên qua các kết mạc và xuyên qua lại
da phía trước. Đầu còn lại xuyên dưới da về phía chỗ mũi
khâu da thứ nhất đã xuyên ra, thường là vêt rạch nhỏ. Hai
đầu được buộc, và nút buộc chôn dưới bề mặt da. Thông
thường dùng 3 mũi khâu như vậy.
Boo-Chai đánh giá bệnh nhân sau 1 tháng sử dụng các
thông số sau để có kết quả hoàn hảo:
1. Các nếp mí trên cả hai mặt phải khớp với vị trí,
chiều cao, chiều dài và đường viền mí.
2. Vị trí và đường viền của bờ mi trên phải khớp với
nhau, không có bất kỳ nếp mí phụ nào.
3. Lông mi không bị biến dạng hoặc mất đi..
4. Nháy mắt phải bình thường.
5. Cả hai mí mắt nhắm kín bình thường khi ngủ.
6. Sẹo ít nhất và không bị trợn.
7. Kết quả lâu dài.
Theo Boo-Chai, những ưu điểm của phương pháp này
gồm khả năng lật mi, sưng tối thiểu và sẹo nhìn thấy bên
ngoài ít.
Boo-Chai cũng thảo luận về sự điều chỉnh của ba điều
kiện sau: sự khác biệt về chiều cao hoặc hình dạng của
nếp mí, nếp mí mất đi (’thất bại trọng phẫu thuật tạo
mí’)
và mắt hõm sâu do lấy mỡ thừa nhiều. Trong phần giới
thiệu ông đã nhận xét về hai kỹ thuật chính: các kỹ thuật
khâu không rạch da so với các kỹ thuật rạch với việc làm
sạch da, mỡ và sử dụng cố định da-cơ nâng mi-da.
Trong loại đầu tiên, khi sửa lại mắt đã dùng kỹ thuật
không rạch da để loại bỏ sự khác biệt về hình dạng và
chiều cao nếp mí, điều quan trọng là loại bỏ nếp mí bằng
cách loại bỏ các vòng chỉ khâu kết nối với cơ nâng mi lên
da. Boo-Chai thích áp dụng cách tạo mí bằng 3 đường
khâu trong, thường tại vị trí các mũi khâu đã cắt bỏ.
Đối với những người có vấn đề về dáng mí và chiều cao
mí như là kết quả của các kỹ thuật rạch trước đó, ông đã
thảo luận về hai lựa chọn:
1. Nếu bệnh nhân muốn nếp mí quá thấp hoặc bị nếp
gấp sa xuống nhiều (dư thừa da tại chỗ) được đưa
lên mức cao hơn để khớp với phía đối diện, bắt đầu
dọc theo vết sẹo mí hiện tại và thiết kế một đường
trên của vết rạch vài milimet. Cắt bỏ da dư và tạo
nếp mí.
2. Trong tình huống không có da dư, sử dụng kỹ thuật
khâu vùi không rạch da để tạo ra nếp mí mới cao
hơn mà không tạo thành vết cắt hoặc sẹo.
Ông loại bỏ nếp mí tạo ra trước đó bằng cách khâu
các vết nhỏ (phương pháp không rạch da) và bóc tách tổ
chức dính giữa cơ nâng mi và lớp hạ bì. Để đánh giá nếp
mí cũ còn hay mất bằng cách bảo bệnh nhân nhìn lên.
Ông cũng thảo luận về việc giảm nếp mí nếu cả hai
bên đều cao hơn mức bình thường, phải cắt bỏ sẹo hiện
có trong các mô.
Trong loại thứ hai, hiệu chỉnh độ mí kém, việc sửa lại
liên quan đến cắt bỏ mô xơ kết nối trước đó giữa cơ nâng
mi và da, cũng như cắt bỏ sẹo rạch da trước đó. Sau đó,
ông sử dụng 6 hoặc 7mũi chỉ khâu 4-0 để kết nối da với
cơ nâng mi và da.
Loại thứ ba của sửa lại mí liên quan đến việc điều chỉnh
độ sâu của khoang trên sụn gây ra do lấy bỏ quá nhiều mỡ
thừa. Boo-Chai lấy mỡ từ mí dưới rồi chia nhỏ ra nhiều
viên 3×4 mm. Sau đó, đặt chúng phía sau vách ngăn ổ
mắt trên đỉnh của cơ nâng mi (khâu lại vách ngăn). Ông
ấy thích đặt mỡ nhiều ở phần trong của mí. Ông lưu ý
rằng khi quan sát thấy 6 tháng sau, những viên mỡ này
dường như đã kết hợp lại thành một khối.3
326
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Ở người châu Á, cân cơ nâng mi phủ qua động mạch bờ
mi, do sự chui vào thấp hơn trên sụn mi. Điều này trái
ngược với người da trắng, cân cơ nâng mi không phủ qua
cung động mạch bờ mi bởi vì động mạch chui ra cao hơn
bờ trên sụn mi. Ông nói rằng ông thích khống chế chảy
máu sau mổ bằng chườm đá lạnh. Sau đó, ông đã gọi đây
là hình thức chảy máu của ‘dấu hiệu Boo-Chai’. Nó là bất
thường xảy ra do chảy máu đột ngột sau cơ nâng mi, và
lan rộng trong một khu vực không tác động trong quá
trình phẫu thuật tạo mí người châu Á (Hình 24-1 A,B).
Boo-Chai3 mô tả sự hiện diện thường xuyên của cung
động mạch bờ mi có các nhánh xuyên qua cân cơ nâng mi
gần chỗ bám của cơ nâng mi với sụn mi trên. Các mạch
xuyên này nằm vuông góc và thuộc lớp mỡ dưới cơ vòng
mi. Chúng ít gặp và khó phát hiện trừ khi cố tìm nó. Khi
cắt tỉa vạt da phía dưới dễ gây tổn thương mạch này, hay
khi khâu thu ngắn cơ nâng mi cũng dễ ảnh hưởng đến
cung mạch này (sau cân cơ nâng mi), làm tăng tụ máu.
Boo-Chai quan sát thấy điều này trong ba trường hợp, với
tỷ lệ 1/500 trường hợp. Ông tiếp tục giải thích rằng các
cung động mạch bờ mi nằm trên sụn mi và cách bờ mi 3
mm. Nó nhận máu từ cung động mạch mắt trên trong và
ngoài là 1 nhánh của động mạch tuyến lệ.
A
B
24
Quan niệm của tôi
327
và nằm trên cân cơ nâng mi và nằm trong lớp mỡ dưới
cơ vòng mi. Điều này đã được xác nhận trong y văn của
Nhật, cho thấy rằng hai cung động mạch được kết nối với
nhau bằng các mạch chạy theo chiều dọc. Khi phẫu thuật
làm đứt bất kỳ nhánh bất thường nào của cung động mạch
bờ mi, chúng có thể co lại và nằm sau cân cơ nâng mi, dẫn
đến tụ máu ở đó.’3-5
PHƯƠNG PHÁP BOO-CHA
Sau đây là mô tả từng bước về phương pháp khâu kết
mạc của Boo-Chai, như được ông ta thực hiện (năm 2006)
trong khoảng 5-10% bệnh nhân người châu Á đang muốn
phẫu thuật tạo nếp mí.
NGUYÊN LÍ
Sử dụng sợi chỉ nylon không tiêu để kết nối cân cơ nâng
mi với da mí bên ngoài ở vị trí mong muốn.
Thuốc và dụng cụ
Gây tê tại chỗ, 1-2% xylocaine với epinephrine pha
loãng 1: 100000; thuốc an thần tĩnh mạch khi cần thiết.
Bộ phận giữ kim, ba sợi chỉ nylon không tiêu 4-0 hoặc 5-0,
sẽ được áp dụng trên một mũi kim cong dài 14-16mm.
Mức mong muốn của nếp mí được đánh dấu bằng mực
trên da. Điều quan trọng là đánh dấu 2 bên phải giống hệt
nhau, nếu không, khi kết thúc phẫu thuật sẽ thấy không
cân đối, đó là nguyên nhân phổ biến dẫn đến kết quả
không tốt. Nếp mí hình nửa bán nguyệt là hay gặp nhất.
Để đạt được điều này bằng cách sử dụng ba mũi khâu,
mũi ở giữa cao hơn 2-3 mm so với 2 mũi còn lại.
Những hình ảnh sau đây thể hiện từng bước kỹ thuật của
Khoo Boo-Chai (Hình 24-2 đến 24-7).
Bình luận của Dr Boo-Chai
Vào năm 2001, lần đầu tiên mô tả các đặc điểm lâm
sàng trong Tạp chí Phẫu thuật Thẩm mỹ của Anh3, tôi
cũng đưa ra nguyên nhân của nó. Tôi cho rằng đó là do
bị tổn thương một nhánh lớn bất thường của cung động
mạch bờ mi. Đó chỉ là một dự đoán đúng, cho dù lúc đó
chưa có chi tiếc giải phẫu mạch máu vùng mí mắt.
‘Hai năm sau, vào 2003, một nhóm bác sĩ phẫu thuật
thẩm mỹ của Hàn Quốc đã xác định các đặc điểm lâm
sàng của biến chứng chảy máu trong 25 trường hợp. Họ
cho rằng chảy máu xảy ra do tổn thương mạch máu nằm
ở phần dưới ngoài của cơ nâng mi. Khi hỏi về chính mạch
máu chính xác, họ nói rằng nghiên cứu của họ đang được
tiến hành và họ sẽ công bố báo cáo ngay sau khi họ đã có
kết luận.
“Tuy nhiên, đối với tôi và họ cũng không biết nhau,
một nhóm các nhà giải phẫu học Nhật Bản và bác sĩ
phẫu thuật thẩm mỹ5 đã thực hiện một nghiên cứu giải
phẫu chi tiết về mạch máu của mí mắt trên trong bảy
xác chết người châu Á. Họ đã công bố kết quả nghiên
cứu vào 2004 trên Tạp chí Phẫu thuật Tạo hình. Nghiên
cứu này đã xác nhận những phát hiện của tôi về sự sắp
xếp của các mạch máu và nguồn gốc của chảy máu là từ
một nhánh lớn bất thường của khu vực động mạch bờ
mi. Nghiên cứu của họ cho thấy (a) rằng có bốn cung
động mạch ở mí mắt trên, cách bờ mi khoảng 3 mm
đường bờ mi), mà tôi đã gọi là sự chú ý; (b) nói khác đi,
cung động mạch ngoại vi, nằm ở bờ trên của sụn mi (có
2 cung là: cung ổ mắt nông và cung ổ mắt sâu và chúng
tiếp nối với cung động mạch bờ mi); (c) các cung được
kết nối với nhau bằng các mạch định hướng nhỏ theo
chiều dọc. Các nhánh thẳng đứng nhỏ chạy giữa các
cung mạch bờ mi và cung mạch ngoại vi, cũng như các
nhánh nằm giữa cung bờ mi và cung ổ mắt sâu, nằm
trong một mặt phẳng phía sau đến cơ vòng mi. Điều này
cũng xác nhận những quan sát trước đây của tôi trong
khi phẫu thuật.
“Tôi đã nói rằng rất hiếm khi (hai hoặc ba) trong số các
mạch máu chạy thẳng đứng này trở nên lớn hơn, xuyên
qua
B'
B
A'
A
328
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
B'
B
A'
A
1
2
A
B
24 Quan niệm của tôi
329
B'
B
A'
A
3
A
B
330
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
B'
B
A'
A
4
24 Quan niệm của tôi
331
LA
M
C
332
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
REFERENCES
1. Boo-Chai K. Further experience with cosmetic surgery of the upper
eyelid. Proceedings of the Third International Congress of Plastic
Surgery. Excerpta Medica International Congress Series 1963;No.
66:518–524.
2. Boo-Chai K. Secondary blepharoplasty in Orientals. In: Lehman J
ed., Problems in plastic and reconstructive surgery, Vol. 1. Philadel-
phia: JB Lippincott, 1991:520–535.
3. Boo-Chai K. Perioperative bleeding in the pretarsal (post-
aponeurotic) space in oriental blepharoplasty. Br J Plast Surg
2001;54:370.
4. Kim BG, Youn DY, Yoon ES et al. Unexpected bleeding caused by
arterial variation inferolateral to levator palpebrae. Aesth Plast Surg
2003;27:123–125.
5. Kawai K, Imanishi N, Nakajima H et al. Arterial anatomic features
of the upper palpebra. Plast Reconstr Surg 2004;113:479–484.
FURTHER READING
Boo-Chai K. Some aspects of plastic (cosmetic) surgery in Orientals.
Br J Plast Surg 1969;22:60–69.
Boo-Chai K. The surgical anatomy of the oriental upper lid. World
Plast 1996;1:230–236.
Boo-Chai K. Aesthetic surgery for the Oriental. In: Barron JN, Saad
MN, eds. Operative plastic and reconstructive surgery, Vol. 2. Edin-
burgh: Churchill Livingstone, 1980: 761–781.
Boo-Chai K. Surgery for the oriental eyelid. In: Lewis JR Jr, ed. The
art of aesthetic plastic surgery. Boston: Little, Brown, 1989:
611–617.
333
Xử lí nếp quạt mắt và kỹ thuật tạo
hình góc mắt trong
Xử trí nếp quạt mắt mí trên trong thường là các bác sĩ
làm tự phát tùy theo từng trường hợp lâm sàng mà điều
cần thiết là phải cần tạo hình góc mắt trong. Ý tưởng này
gần như là bệnh mà bệnh nhân tìm kiếm thông tin trên
Internet, và nhìn thấy các trang thông tin trên các trang
web khác nhau mà đưa ra chuyên môn trong khi sửa lại.
Johnson đã viết bài báo đầu tiên về nếp quạt mắt, và đã
có y văn sớm mô tả việc xử trí nếp quạt mắt qua các bệnh
lý thực sự1-5
Tôi nhấn mạnh rằng thuật ngữ nếp quạt mắt là để ám
chỉ đến bệnh lí thực thể liên quan đến hội chứng hẹp
khe mi và các rối loạn bẩm sinh khác, thường với sụp
mi, 2 mắt xa nhau và nếp da thừa bẩm sinh. Như vậy, các
y văn (bao gồm Mustarde) ban đầu được viết để sửa
chữa các bệnh lí này là để điều chỉnh bệnh 2 mắt xa
nhau (thông qua dây nối góc mắt), xử lí sụp mi bẩm sinh
và giảm/loại bỏ nếp quạt mắt. Phát hiện quạt mắt đến
phần sụn mi mà hay gặp những người châu Á có mắt
một mí (không có nếp mí) có vị trí tương tự nhau. Trước
hết, có rất nhiều người châu Á bình thường có một nếp
quạt mắt nhẹ (có lẽ có ít nhất 3 tỷ người châu Á trên trái
đất); thứ hai, các nếp quạt mắt mà chúng ta thấy ở
những người châu Á bình thường này thì nhỏ hơn so với
những người trong hội chứng hẹp khe mi bẩm sinh
hiếm gặp; và thứ ba, không thực sự che khuất hết phần
củng mạc. Vì vậy, chúng tôi đã do dự: liệu chúng ta có
gọi ai đó là ‘tiền tiểu đường’ là người mắc bệnh tiểu
đường không? Là người có nếp quạt mắt được coi là có ‘
góc mắt trong bất thường, hoặc chỉ đơn thuần là một
người có nếp mí da góc trong nhiều nặng hơn giống với
hội chứng hẹp khe mi, nhưng không phủ qua hết kết
mạc, và không có sụp mi hoặc 2 mắt xa nhau, hoặc nếp
da thừa bẩm sinh của mí dưới?
Chúng tôi dùng kỹ thuật can thiệp lớn để xử lí nếp quạt
mắt bẩm sinh giống như xử lí những nếp quạt mắt bình
thường (thường gặp ở người châu Á) nhưng chúng tôi đã
giữ lại kỹ thuật tạo hình góc mắt trong, như một lựa chọn
bổ sung cho phẫu thuật tạo hình. Vì vậy, thao tác qua da
ở góc mắt trong thông qua các con số phức tạp,
vạt da chuyển đổi và nhiều biến thể của Mustarde đang
được công bố, theo sau và được thực hiện, với nếp quạt
mắt nhiều rất đơn giản (mí quạt mắt này có thể được loại
bỏ như là một phần của phẫu thuật tạo mí người Châu Á,
với một số kỹ thuật đơn giản áp dụng cho phần góc mắt
trong khi mổ, mà chúng tôi sẽ đi qua nhanh trong chương
này).
Tôi cảm thấy đây là một hướng đi sai vì nhiều lý
do. Có sự mở rộng phức tạp không cần thiết vào vùng
góc mắt trong, nơi không có nhiều bệnh lý. Da góc mắt
trong gần cầu mũi thì làm cho gương mặt trông hấp dẫn
hơn. Thông thường kết quả phẫu thuật tạo hình góc
trong (được thực hiện trên người châu Á có mắt 1 mí)
làm cho phần củng mạc góc trong lộ rõ hơn, và dự kiến
lành vết thương sẽ lâu hơn (có thể biến chứng) thông
qua thao tác trên vùng giải phẫu như thực hành bởi bác
sĩ phẫu thuật thẩm mỹ. Ít nhất nó để lại sẹo. Đó là lý do
tại sao trong lần xuất bản đầu tiên của cuốn sách này
(Châu Á Phẫu thuật tạo mí -Asurgical Atlas, Butterworth
- Heinemann; 1995) Tôi cho rằng nếp quạt mắt nổi trội
trên người mắt 1 mí có thể đơn giản qua bước trong
phẫu thuật tạo mí người châu Á, với hình dạng nếp mí
được thiết kế để hợp nhất vào nếp quạt mắt, và nếp mí
giảm dần ở mũi tự nhiên tương tự như những gì chúng
ta thấy ở người châu Á sinh ra với một hình dạng mí
giảm dần ở mũi. Điều này là rất rõ ràng đối với những
phẫu thuật viên đã phẫu thuật tạo mí cho bệnh nhân
châu Á. Củng mạc dễ nhìn thấy, hoặc chỉ che một nửa,
chúng không có 2 mắt xa nhau, và kích thước của chúng
là khoảng cách giữa góc mắt, cũng như tỷ lệ với chiều
rộng của khuôn mặt, nằm trong tỷ lệ lý tưởng sau khi
phẫu thuật tạo mí người Châu Á đơn giản.
Cho đến bây giờ, tôi cảm thấy thuật ngữ nếp mí góc
trong đã bị áp dụng sai, thương mại hóa đi và tạo hình
góc trong là không cần thiết. Có sự kết hợp giữa những
người đang mua sắm đồ phẫu thuật cũng như áp lực các
bác sĩ phẫu thuật theo xu hướng này. Tôi thường thấy
những bệnh nhân người Mỹ gốc Hàn ít hài lòng khi tư
vấn sửa lại, những người không biết những gì họ đã trải
qua ở nước ngoài, và cho tôi xem hóa đơn có ít nhất ba
khoản phí: cắt mí đôi, sửa lại sụp mi và tạo hình góc mắt
trong.
334
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Có lẽ đây là xu hướng không có lợi cho các bác sĩ và bệnh
nhân (Việc lạm dụng chỉnh sụp mi ở những bệnh nhân
châu Á không sụp mi chỉ đơn giản là có mí mắt nổi bật
trên bờ mi trên là vấn đề khác có ý nghĩa tương tự).
GIẢI PHÁP LÀM GIẢM NẾP QUẠT
MẮT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN BỐ TRÍ
HÌNH DẠNG NẾP MÍ.
Trong thực tế, phần lớn các bệnh nhân mắt 1 mí có thể
hẹp khe mi là có một nếp mí da nổi bật ở trong (một
thuật ngữ
mà tôi ưa thích). Trong giới thiệu hình dạng nếp mí, tôi
thường cho thấy minh họa những bệnh nhân mắt một
mí giảm dần tự nhiên ở mũi để họ có ý tưởng.
(1) Nếu họ hiểu và chọn nếp mí giảm dần ở mũi (NTC),
trong quá trình kết thúc ở trong của thiết kế mí có thể bao
gồm cắt bỏ các mô da giữa đường mí (đường dưới của
vết rạch) và trên vết rạch; ví dụ, mặc dù thông thường
chỉ có 1-1,5 mm da được đánh dấu để cắt bỏ ở đó, tôi có
thể thiết kế và bao gồm 2,5-3.0 mm (Hình 25-1 A). Phần
trên-trong của chúng chủ yếu bao gồm da và vài sợi sợi
cơ vòng mi trước sụn và có thể dễ dàng được cắt bỏ qua
đường rạch da dưới (đường mí).
25 Xử lí nếp quạt mắt và kỹ thuật tạo hình góc mắt trong
335
B
C
D
Hình 25-1, Tiếp tục
Phần da còn lại ở cuối đường rạch dưới có thể xác định
và cắt tỉa cẩn thận (Hình 25-2B) để đóng da phù hợp với
nếp mí tự nhiên mà bạn vừa tạo ra như một nếp mí giảm
dần ở mũi. Hiếm khi thấy cơ vòng mi dày như trong các
hội chứng hẹp khe mi, cũng không thấy có kéo dài của
phần trên của dây chằng góc mắt trong. Xử lí nếp quạt
mắt được thực hiện bên trong và gồm trong phẫu thuật
tạo mí người châu Á mà tôi thực hiện.
Các thao tác đơn giản gồm:
(a) Xiên xuống một ít (cắt) da về phía góc mắt trong
để loại bỏ tai chó (Hình 25-1 C), và
(b) Khâu mũi rời cố định bên dưới để tạo nếp mí
(Hình 25-1 D).
336
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
A
(2) Đối với người mắt 1 mí thì thích hợp là thiết kết nếp
mí song song, thiết kế nếp mí song song là luôn thực hiện
và sẽ cắt bỏ mô da ở cả hai bên để cuối cùng có dạng nếp
mí song song. Góc mắt trong cắt bỏ da nhiều hơn bình
thường (2,0-2,5 mm), và nó liên quan vùng da mà cong
theo góc mắt trong khi bạn vẫn nên duy trì chiều cao nếp
mí mong muốn song song tại điểm cuối của nếp mí. (Đầu
ở trong của nếp mí song song hơi
hẹp [gần bờ mi] hơn so với phần giữa mí, trong khi đó nó
không nối tiếp với khe mi).
(a) Bạn có thể thấy rằng nếp gấp da còn lại dọc theo
đường rạch dưới sẽ cần bóc tách nhiều hơn, và số
lượng tai chó bạn cần giải phóng và cắt bỏ lớn
hơn ở nếp mí song song so với nếp mí giảm dần ở
mũi. Cần cắt (cắt) xiên (Hình 25-2 A).
25 Xử lí nếp quạt mắt và kỹ thuật tạo hình góc mắt trong
337
B
C
D
HÌNH 25-2, tiếp tục
(b) Vì thiết kế nếp mí song song ở góc trong, đầu
cuối nếp mí cách góc mắt trong và bờ mi vài mm.
Do đó, có nhiều cơ vòng mi và mạch máu ở trước
sụn mi hơn, nên đòi hỏi phải cắt bỏ mô dưới da
và các sợi cơ cẩn thận cho đến khi có thể tiếp cận
đến cân cơ nâng mi, mặc dù không nhiều hơn
những gì người ta đang làm với phẫu thuật tạo
hình góc trong (Hình 25-2 B - C).
(c) Hầu hết phải khâu cố định nếp mí ở góc trong, cạnh
dưới vết mổ khâu đính vào cân cơ nâng mi (thường
là sợi xơ hoặc gân), sau đó là cạnh trên của da và
tạo nút thắt (up-knotting) (Hình 25 -2 D)
338
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Cuối cùng, tôi đã có 16 bài báo về phẫu thuật tạo hình
nếp quạt mắt xuất bản trong 20 năm qua (xem Phụ lục
4):
• Nhiều bài báo khá giống nhau, giải pháp cho một
khu vực nhỏ của mí mắt.
• Mỗi bài báo đêu tuyên bố thành công và kết quả xuất
sắc. Tuy nhiên, người ta phải nhớ rằng vấn đề có
thể không có ý nghĩa quan trọng, và là khá dễ dàng
để báo cáo kết quả xuất sắc nếu điều kiện bệnh lý có
vấn đề.
• Các chi tiết phản ánh nhiều hơn ở các tác giả khác
nhau đánh giá nếp quạt mắt.
REFERENCES
1. Johnson CC. Epicanthus. Am J Ophthalmol 1968;66:939–946.
2. Khoo BC. The Mongolian fold (plica Mongolia). Singapore Med J
1962;3:132–136.
3. Lessa S, Sebastia R. Z-epicanthoplasty. Aesth Plast Surg
1984;8:159–163.
4. del Campo AF. Surgical treatment of the epicanthal fold. Plast
Reconstr Surg 1984;73:566–570.
5. Chen WPD. Asian blepharoplasty. Ophthalmol Plast Reconstr Surg
1987;3:135–140.
Một lần nữa, việc phẫu thuật làm giảm nếp quạt mắt
là được thực hiện trong phẫu thuật tạo mí người châu
Á. Thực hiện các bước phụ là nhỏ, tinh tế và chỉ mất vài
phút. Không được cắt vượt quá vùng da góc mắt trong.
Tôi có nhiều cách để loại bỏ nếp gấp da này mà không
cần can thiệp nhiều vào góc mắt trong. Chúng ta không
thấy da bị căng, giãn, hoặc lúm xuống như những người
đã trải qua phẫu thuật tạo hình góc trong với cắt mí đôi.
Các bài báo gần đây về phẫu thuật mí mắt người châu
Á cho thấy kỹ thuật đường mổ nhỏ cũng như phẫu thuật
tạo hình góc trong kết hợp với phẫu thuật tạo mắt hai
mí. Đường mổ nhỏ dài 3-4 mm kết hợp với khâu tạo mí
tại từng vị trí, tổng thể chiều dài 10-12 mm, vì vậy chắc
chắn nó không nhỏ tí nào, có vẻ như: ‘phút’ , ‘micro’ hoặc
‘Mini’, không có ý nghĩa; thích hợp hơn thì nên gọi là kỹ
thuật tạo mí một phần. Có những trường hợp nhìn thấy
da bị căng ở đoạn các vị trí dọc theo nếp mí, nơi đó da
nhô lên do chỉ khâu không tiêu, và da trên nếp mí không
đều nhau do khi thực hiện thao tác phẫu thuật gây tổn
thương da.
339
KỸ THUẬT MỚI, THÁCH THỨC VÀ
QUAN ĐIỂM VỀ PHẪU THUẬT THẨM MỸ
MÍ MẮT NGƯỜI CHÂU Á TRONG TƯƠNG
LAI
KỸ THUẬT RẠCH DA MỘT PHẦN VÀ
CỐ ĐỊNH MÍ BÊN TRONG (KẾT HỢP
KHÂU CƠ VÒNG MI-CƠ NÂNG MI)
Một ý tưởng tốt là sự kết hợp phương pháp rạch bên
ngoài trên 50% ở giữa của nếp mí mắt, kết hợp khâu vùi
tạo mí ở bên trong vết mổ. Điều này tránh rạch qua lớp
da dày ở góc mắt trong và vẫn đạt được hình dạng nếp
mí, cho dù nếp mí có bị giảm dần ở mũi hay nếp mí song
song.
Các bước phẫu thuật
Bảo vệ giác mạc bằng kính áp tròng. Rạch ở giữa gồm
cắt bỏ đoạn 2-3mm qua da và cơ vòng mi, cho kỹ thuật
tạo mí người châu Á với tiếp cận qua cơ vòng mi và
vách ngăn,
50-70% mở ngang của vách ngăn ổ mắt, và cắt bỏ túi
mỡ thừa (Hình 26-1), tiếp theo là sau.
Người ta có thể tạo ra đường hầm phía trong dưới cơ
vòng mi dọc theo bờ trên sụn mi, dùng kẹp cầm máu nhỏ,
đốt cầm máu và lau khô bằng gạt. Vị trí và chiều cao của
đường hầm tạo mí sẽ tương quan với hình dạng và chiều
cao mong muốn ở phía trong của nếp mí. Một đầu dùng
chỉ 6.0 PDS hoặc Vicryl (kim tam giác) xuyên qua bề mặt
da bên ngoài dọc theo nếp mí mong muốn. Nó xuyên qua
cân cơ nâng mi và cơ Müller trên bờ trên sụn mi, nhưng
không qua kết mạc (kim cũng có thể bắt đầu trên cân cơ
nâng mi l dọc theo bờ trên sụn mi). Nó hướng ra bên
ngoài 3 mm, dọc theo hình dạng nếp mí mong muốn. Kim
và chỉ khâu này được xuyên lại qua
340
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
đường hầm và thông qua vết mổ ở giữa. Người ta có thể
chọn như sau:
Tùy chọn 1: Cắt bỏ kim còn lại mà chưa khâu. Đầu này
được cho vào kim khâu cong để móc lấy cơ vòng
mi. Hai đầu được buộc lại, lớp của cân cơ nâng mi,
cơ vòng mi và fascia dưới da thành 1 khối.
Lựa chọn 2: Giữ đầu kim thứ hai còn lại và xuyên qua
da dọc theo cùng đường mà đầu kim thứ nhất đi
qua, và kéo ra góc trong đường hầm. Sau đó 1 đầu
xuyên qua một ít cơ vòng mi dọc theo đường mí
được và sau đó buột lại với đầu còn lại.
Thay vì xuyên ra da qua gần hết góc mắt trong, cách
thứ 2 là hơi ra ngoài một ít nhưng vẫn nằm ở 1/3 hay ¼
trong của nếp mí. Sau khi tạo đường hầm dưới cơ vòng
mi:
Tùy chọn 3: Bác sĩ phẫu thuật giữ một nửa kim khâu
Vicryl 6.0, và qua vết mổ ở giữa trong đường hầm
(Hình 26-2), và sau đó khâu mô dưới cơ vòng mi
trên đỉnh của đường hầm để tạo thành một vòng lặp
180° hoàn chỉnh (Hình 26-3 A). Khâu dính lại các
lớp tổ chức mặt sau cân cơ nâng mi và cơ Müller
dọc theo bờ trên sụn mi với fascia dưới da và cơ
vòng mi. Khâu lại tạo nút thắt trong đường hầm.
Tùy chọn 4: Vẫn qua ¼ trong của mí mắt phương án
3, qua vết mổ, một đầu kim khâu qua sừng trong
của góc mắt khoảng 2-3 mm. Phần cơ vòng mi nằm
trong đường hầm trên đường kim khâu có thể cắt
bỏ bằng dao điện hay dao sóng cao tầng. Đầu kim
đầu tiên đi qua cân cơ nâng mi sau đó khâu fascia
dưới da trong vùng cơ vòng mi (Hình 26-3 B). Khâu
buột lai và chôn trong đường hầm. Các nút khâu
này tương tự như khâu tạo mí trong phương pháp
rạch da ngoài khâu da-cơ nâng mi -da.
26 Kỹ thuật mới, thách thức và quan điểm về phẫu thuật thẩm mỹ mí mắt người châu Á trong tương lai
341
342
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
và dịch chuyển (nghiêng) ra ngoài hơn, sao cho phần
cuối ở giữa của mí mắt có vùng da không bị cắt kéo dài
khoảng 10 mm, thay vì chỉ 6 mm như trên. Điều này có
lợi cho phép tạo mí bằng cắt bỏ một lượng lớn cơ vòng
mi và da, như da phủ qua cơ vòng mi; giảm một phần túi
mỡ. Những mô thừa cần cắt bỏ đi để tránh nếp mí ở ngoài
mờ dần theo thời gian.
Những điểm quan trọng cần nhớ cho phương pháp:
1. Toàn bộ chiều dài của nếp mí nên vẽ từ trong ra
ngoài (mặc dù đường rạch dự định ở giữa 50%).
Điều này làm cho nếp mí liên tục và tránh sự phân
tách nếp mí làm hai đoạn.
2. Vết khâu ở trong nên phóng đại và khâu trực tiếp..
Hãy chú ý cung động mạch bờ trên sụn mi cũng
như mạch máu cơ Müller.
3. Ở người trẻ, túi mỡ góc trong rất ít, nếu có nhiều
khả năng cản trở sự hình thành nếp mí.
4. Ở ¼ trong của sụn mi thì cơ nâng mi không có tác
dụng. Nó có tính chất xơ tự nhiên hơn, và kết hợp
với các cơ vòng mi ở trước vách ngăn và trước sụn
để hình thành phức hợp dây chằng góc mắt trong.
5. Nhất góc ngoài của mí mắt lên, chúng ta có thể đánh
giá tình trạng túi mỡ của mí mắt.
6. Khâu vùi ở ¼ trong của nếp mí sẽ tránh được vết
rạch da và tránh sẹo quá phát về sau.
Xuyên dầu kim qua vùng này có nhiều mạch máu nằm
ở cơ vòng mi, cơ nâng mi, cơ Müller và cung mạch ngoại
vi chạy dọc theo bờ trên sụn mi.
Vị trí đầu trong của nếp mí sẽ phụ thuộc vào nơi đường
hầm và mũi khâu vùi. Với một nếp mí giảm dần ở mũi thì
ở góc trong nếp mí chỉ bằng ½ so với ở giữa (từ bờ mi).
Khi nếp mí ở trong trùng hợp ngẫu nhiên với nếp mí đã
có sẵn thì chỉ cần đưa nếp mí nhẹ lên. Đối với những
bệnh nhân mong muốn nhanh chóng có nếp mí giảm dần
ở mũi (hội tụ nhanh), người ta có thể làm nếp mí ở trong
chỉ cao bằng 1/3 so với chiều cao sụn mi. Chiều cao này
thấp hơn thực tế chiều cao của sụn mi, mặc dù vẫn khâu
vào cân cơ nâng mi dọc theo bờ trên sụn mi.
Vết rạch da bên ngoài, rộng 50-60% chiều rộng bình
thường của nếp mí mắt, khâu da tạo mí như trong phẫu
thuật tạo mí người châu Á bằng chỉ silk 6-0 khâu mũi
rời, lấy bờ da dưới - cân cơ nâng mi- bờ da trên. Bốn mũi
khâu bên ngoài này cách nhau 15-18 mm (Hình 26-4). Chỉ
7-0 khâu chạy để đóng da-da. ¼ ngoài của mí mắt không
cần cắt tạo mí, không cần khâu vùi tạo mí. Khi khâu vùi
tạo mí phần ở trong thì sẽ không có nguy cơ tạo sẹo quá
phát.
Trong phương pháp này, nếp mí ở giữa được tạo ra
bằng cách sử dụng kỹ thuật mổ, và nếp mí ở trong được
tạo ra bằng cách sử dụng chỉ khâu thông qua một vết mổ
ở giữa.
Một lựa chọn khác liên quan đến vị trí của vết rạch da
bên ngoài. Người ta có thể rạch rộng một nửa mí mắt
26 Kỹ thuật mới, thách thức và quan điểm về phẫu thuật thẩm mỹ mí mắt người châu Á trong tương lai
343
THÁCH THỨC CỦA PHẪU THUẬT
THẨM MỸ MÍ NGƯỜI CHÂU Á
Điểm quan trọng nhất trong nhiều kỹ thuật là hiểu rõ
các phương pháp rạch da bên ngoài là một nỗ lực để tạo
ra các kết nối giữa đầu bán tận của cân cơ nâng mi (hoặc
bờ trên sụn mi) với da mí mắt, hoặc các mô dưới da bên
dưới, hoặc đến mặt phẳng sụn với da. Tổng hợp tại điểm
sụn mi-cân cơ nâng mi sẽ tạo thành nếp mí-nếp gấp.
Kỹ thuật buộc là cố gắng khâu ép mô bằng cách sử dụng
các các chỉ khâu vùi vĩnh viễn ở phần xa của cân cơ nâng
mi và cơ Müller (phần trên của sụn mi) và các mô mềm
trước sụn, cho dù chúng là mô dưới da hoặc cơ vòng mi
, hoặc bằng cách loại bỏ không gian chết giữa da trước
sụn và sụn. Trong phương pháp khâu vùi này, thường có
một hiệu ứng gây rút ngắn cân cơ nâng mi.
THÁCH THỨC
Khi lập kế hoạch phẫu thuật cho đến phẫu thuật tạo
mí người châu Á, bác sĩ phải chuyển từ một quá trình suy
nghĩ không gian hai chiều của nếp mí thành không gian
ba chiều, khi tiếp cận các lớp mí mắt. Tôi thích nghĩ về sự
tiến triển từ đầu này của vết rạch đến đầu kia khi đi qua các
mô khác nhau. Thách thức trong tạo nếp mí là xây dựng
một cấu trúc có tính chức năng và liên tục, tức là nếp mí
đi qua các khu vực có các đặc điểm mô khác nhau.
Mỗi phần dọc của mí mắt bao gồm các tổ chức khác
nhau có kích thước và mật độ khác nhau. Ví dụ, chiều cao
sụn mi ở góc trong và ngoài thì ngắn hơn; túi mỡ ở giữa
thì lớn hơn; cân cơ nâng mi đính ở sừng sụn góc trong và
ngoài thì ít hoat động hơn; nếp mí ở trong có thể gây cản
trở trong việc tạo nếp mí; tuyến lệ có thể ảnh hưởng đến
vị trí nếp mí ở ngoài; lớp da ở ngoài thì dày hơn và ít lõm
vào hơn để tạo nếp mí; và sự hiện diện của túi mỡ có thể
gây mất nếp mí. Trong mỗi phần của mí trên, các yếu tố
có thể ảnh hưởng đến sự hình thành tối ưu của một nếp
mí động phải được sửa chữa. Kết quả sẽ là một nếp mí có
chiều cao, hình dạng, tính liên tục và độ bền tối ưu nhất.
NHÌN VỀ TƯƠNG LAI
Sự phát triển của phẫu thuật thẩm mỹ đã khá ổn định từ
năm 1896 đến nay
Tuy nhiên nếu có nếp mí mắt ở trong có da thừa
nhiều thì nên mổ cắt mí toàn bộ.
7. Phương pháp rạch da 1 phần + khâu tạo mí góc
trong có thể chuyển đổi thành một phương pháp
rạch đầy đủ, nếu cần thiết.
Cơ nâng mi và cân cơ nâng mi nằm trên nửa ở giữa sụn
mi thì hoạt động tốt hơn rất nhiều so với 2 bên góc mắt.
Hoạt động tối đa của cơ nâng mi nằm ở giữa mí mắt, và
là lý do tại sao rạch da 1 phần giữa mí mắt có thể lấy bỏ
túi mỡ. Mặc dù ở ¼ trong của mí mắt chủ yếu là cân cơ
nâng mi, nó chuyển động dọc tương đối hạn chế. Một nếp
mí tạo ra bằng phẫu thuật cần phải dựa vào sự cố định
thụ động của da với cân cơ nâng mi, hoặc sự cố định cơ
vòng mi đối vào cân cơ nâng mi. Tương tự như vậy, 1/3
ngoài của cân cơ nâng mi hoạt động theo chiều dọc rất
ít, và chủ yếu tạo thành 1 khối bên ngoài với phần trước
sụn mi và cơ vong mi trước vách ngăn để tạo góc mắt
ngoài. Ở đây, nếp mí hình thành phụ thuộc vào sự cố
định da-cơ vòng mi.
Có sự lựa chọn phẫu thuật liên quan đến các phương
pháp rạch da một phần để tạo nếp mí đòi hỏi phải qua
đường rạch da giữa mí. [*Một phần hay giới hạn, hoặc
không đầy đủ chiều dài nếp mí]
1. Trong đường hầm dưới da ở trong, có thể dùng
máy đốt lưỡng cực để kẹp làm cho các mô trên sụn
ở giữa sụn cho đến bờ trên sụn mi, tạo ra một nền
rắn chắc.
2. Trong đường hầm dưới da ở trong có thể dùng dao
sóng cao tầng để cắt bỏ các mô mềm dưới da (đầu
kim Empire) cho chính xác, hoặc dao điện đơn cực
(đầu kim Colorado). Đầu lưỡng cực để kiểm soát
cầm máu.
3. Cắt bỏ các mô mềm dưới da cũng có thể được thực
hiện bên trong một đường hầm ở ngoài, qua một
vết rạch da ở giữa. Ngay cả ở ¼ ngoài, có thể áp
dụng khâu cơ vòng mi và cân cơ nâng mi, lưu ý cơ
vòng mi thừa và mạch máu (do sự hiện diện không
thường xuyên của động mạch vách ngăn ngoài, nối
tiếp các nhánh từ cung bờ mi đến cung ngoại vi và
chảy máu dưới cân cơ nâng mi thường chảy máu
trước sụn mi).
Kim và Lee đã dùng laser Nd-YAG để xử lý góc mắt
trong và ngoài khi phẫu thuật tạo mí người châu Á.
Cuối cùng, tùy từng bác sĩ sẽ hài lòng vói kết quả đó,
khi thực hiện tăng cường nếp mí khi phẫu thuật 1 phần
(một phần, hay nhiều vết mổ nhỏ) hoặc mở hoàn toàn nếp
mí qua bờ trên sụn mi và liệu người ta tin rằng kết quả
mí sẽ tốt hơn thông qua các điểm liên kết các vết rạch da,
hoặc một phần vết rạch, so với phẫu thuật mổ toàn bộ mí
và đính vào cơ nâng mi như tác giả.
344
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
tools, such as the PET scan and functional magnetic
resonance imaging (f-MRI), or yet to be invented nano-
devices, that can study and record the dynamics of levator
aponeurosis and Müller’s muscle, tarsus and preaponeu-
rotic fat space (glide zone, tarso-ligamentous junction),
and the localization of the author’s nano-ball concept.
There will be continued innovation in new suture
materials and synthetic implants that can be used to facili-
tate lid crease formation. (Suborbicularis oculi thermo-
plastic cauterization using micro-voltage current on a
needle tip, and radiofrequency cold needles in cautery
mode have already been tried.)
We can expect some of these future trends: minimally
invasive means of excision of tissue redundancy using
endoscopic principles; partial incision over the central
half of the upper lid with preaponeurotic fat debulking
coupled with medial and lateral suborbicularis cautery or
aponeurotic anchoring (described above); as well as rela-
tively non-invasive modes/means that promote highly
specific and targeted tissue adhesions, for example, within
the subcutaneous tissue overlying the superior tarsal
border. This can be combined with a small centrally
located or laterally located wound to remove any
preaponeurotic fat.
REFERENCE
1. Kim JW, Lee JO. Asian blepharoplasty using short-pulsed contact
Nd–Yag laser: limited incision resectable laser double fold with
internal medial and lateral functional epicanthoplasty. Aesth Plast
Surg 1998;22(6):433–438.
Các y văn Nhật Bản đã làm sáng tỏ kỹ khâu buộc tạo
mí và kỹ thuật rạch da ngoài như được sử dụng ngày nay.
Tương lai có vẻ tươi sáng cho sự tinh tế tiếp tục kỹ thuật
tạo mí người châu Á.
Tôi dự đoán các chất liệu có sẵn sẽ khâu tốt hơn, có lẽ
làm bằng polyme hoàn toàn không phản ứng và mô
tương thích. Nếu những vật liệu mới này có thể tồn tại
trong 6-12 tháng trước khi hòa tan, nó sẽ làm giảm đi
những kết quả không tốt và cho phép sáng tạo hơn về kỹ
thuật. Các polyme tương thích sinh học có thể được
thiết kế để cấy vào bên trong mí mắt. Ví dụ, cấy một
màng mỏng vào mặt phẳng trước sụn (thúc đẩy sự phát
triển mong muốn) có thể dẫn đến sự kết dính giữa cơ
vòng mi trước sụn và da trên nó và tạo ra một nền tảng
cứng hoàn toàn mà không gây sẹo. Tương tự, các
polyme hoặc tương tác sinh học tương thích có thể được
thiết kế thành các kẹp nhỏ hoặc đinh ghim, sao cho
chúng có thể được chèn dọc theo bờ trên sụn mi như
mở rộng các sợi bán tận của cân cơ nâng mi. Laser sáng
tạo sử dụng các yếu tố khác với laser argon, laser YAG
(yttrium - Alunium-garnet), hoặc laser KTP-YAG (kali
titanyl-phosphate YAG) có thể có sẵn trong tương lai và
có thể được sử dụng để tạo ra các kết dính với cân cơ
nâng mi có kiểm soát, tương tự như bám dính sinh lý và
cài vào nhau, mà ta nhìn thấy trong nếp mí tự nhiên.
Tôi thấy phân tích sâu hơn về động học của nếp mí mắt
(như tác giả đã làm trong 15 năm qua). Tôi thấy các
phương pháp nghiên cứu sử dụng thời gian thực đã có
sẵn các công cụ
345
PRE-1952 JAPANESE LITERATURE
ON COSMETIC EYELID SURGERY
(IN JAPANESE)
A P P E N D I X 1
Pre-1952 Japanese Literature on Cosmetic Eyelid Surgery (in Japanese)
Author
K Mikamo
K Uchida
M Maruo
B Hata
Year
1896
1926
1929
1933
Journal
J Chugaishinpo
Jpn J Ophthalmol
30(5):593
Jpn Rev Clin Ophthalmol
24:393–405
Jpn Rev Clin
Ophthalmol
28:491–494
Country
Japan
Japan
Japan
Japan
Crease height
6–8 mm
7–8 mm fan shape
(semilunar)
7 mm
10 mm
Suture method
Yes
Yes
Yes
Incision method
Incise skin
Remove skin
No
No
No
Orbicularis
Sub Q dissection superiorly
and inferiorly to incision
Orbital septum
Preaponeurotic fat
Crease formed by
Three trans-lid
sutures from
conjunctiva to skin
Three trans-lid sutures,
ligate 2 mm tissue
horizontally
Four throws with single 5-0
catgut suture
Three trans-lid sutures
Suture
4-0 silk
Buried catgut
Catgut suture skin/tarsus/
skin
5-0 silk through tarsus
to skin; tied down
with beads
Days left in
2–6
4
8–10
Variations
Depth of crease
related to days
sutures left in
Alternatively, trans-lid
suture from conjunctiva
above STB to anterior
skin surface
Continued
346
Asian Blepharoplasty and the Eyelid Crease
Pre-1952 Japanese Literature on Cosmetic Eyelid Surgery (in Japanese)
Author
K Hayashi
K Hayashi
S Inoue
Y Mitsui
Year
1938
1938
1947
1950
Journal
Jpn Rev Clin Ophthalmol
33:1000–1010
Jpn Rev Clin
Ophthalmol 33:1098–
1110
Jpn Rev Clin
Ophthalmol
27(11):306
Jpn Rev Clin
Ophthalmol 44:19
Country
Japan
Japan
Japan
Japan
Crease height
Medially 5 mm; centrally
6 mm; laterally 7 mm.
Creates medially tapered
crease
Suture method
Yes
Incision method
Yes
Yes
Yes
Remove skin
Orbicularis
Excision of pretarsal
orbicularis
Dissection of
subcutaneous
connective tissue
between crease
incision line and
eyelid margin
Removes pretarsal
orbicularis, and fat
Orbital septum
Preaponeurotic fat
Crease formed by
Central and lateral stitches
above crease; medial
stitch below crease line
and passes through
tarsus
Interrupted skin/tarsus/
skin closure, plus
in-between skin/skin
stitch
Skin/tarsus/skin
Five 5-0 nylon
sutures: Inferior
skin edge to
tarsus (2–3 days)
Skin/skin closure
with 5-0 silk
Suture
4-0 silk
5-0 silk
Days left in
4
2–3
7–8
Variations
Pre-1952 Japanese Literature on Cosmetic Eyelid Surgery (in Japanese)
Author
K Hirose
K Ohashi
T Ikegami
Year
1950
1951
1951
Journal
Jpn Rev Clin Ophthalmol
45:374
Jpn Rev Clin Ophthalmol 46:723
Jpn Rev Clin Ophthalmol
46:706–708
Country
Japan
Japan
Japan
Crease height
Suture method
Cautery method
Incision method
Yes
Yes
Remove skin
Orbicularis
Orbital septum
Preaponeurotic fat
Crease formed by
Electrocoagulation needle; 7 burns along the
crease line and 2 rows of burns below it
Suture
Days left in
Variations
347
MODERN LITERATURE ON ASIAN
EYELID SURGERY (IN ENGLISH)
A P P E N D I X 2
Modern Literature on Asian Eyelid Surgery (in English)
Author
BT Sayoc
DR Millard
LR Fernandez
LR Fernandez
Year
1954
1955
1960
1960
Journal
Am J Ophthalmol
38(4):556–559
Plast Reconstr Surg
16(5):319–336
Plast Reconstr Surg
25:257–264
Plast Reconstr Surg
25:257–264
Country
Philippines
USA/Korea
USA/Hawaii
USA/Hawaii
Conjunctival suturing
Skin incision
Yes
Simple
Radical
Remove skin
3 mm
7–8 mm
8–10 mm
Orbicularis
1–3 mm orbicularis
Trim inf. edge
3–5 mm orbicularis
Orbital septum
Open
Open
3–5 mm
Preaponeurotic fat
Lipectomy
Excised fat
Crease form
Inf. skin/tarsus
Skin to tarsus
Inf. skin/levator
Inf. subcut. tissue/
levator
Suture
Buried 6-0 silk or chromic
catgut
Interrupted silk
Three buried 5-0 nylon
Three 5-0 nylon and
6-0 nylon
Days left in
5
For skin sutures, 3
3
Effectiveness
’Static’ crease
Superficial
Deep, permanent
Comments
Related articles published
in
AJO 1956;41:1040
AJO 1956;42:298
AJO 1961;52:122
AJO 1967;63:155
Included fat excision Clin
Plast Surg 1974;1:157
See also Am J
Ophthalmol
1964;57:646
’Dynamic’
’Dynamic’
Continued
348
Asian Blepharoplasty and the Eyelid Crease
Modern Literature on Asian Eyelid Surgery (in English)
Author
HG Pang
J Uchida
Khoo Boo-Chai
Khoo Boo-Chai
Year
1961
1962
1963
1969
Journal
Arch Ophthalmol
65:783–784
Br J Plast Surg
18:271–276
Plast Reconstr Surg
31:74–78
Br J Plast Surg
22(1):60–69
Country
USA/Hawaii
Japan
Malaysia/Singapore
Singapore
Conjunctival suturing
Yes (3)
Skin incision
Yes
Yes
Three nicks
Remove skin
Sometimes
Orbicularis
Thins pretarsal
orbicularis
Thins pretarsal orbicularis
Orbital septum
Open
Open
Preaponeurotic fat
Trim some fat
Removes some fat
Crease form
Double-armed suture,
from skin to
conjunctiva to skin
Tarsus/inf. skin
Skin–tarsus–skin
Suture
Three 4-0 silk
Three 2-0 chromic
Silk
6-0 silk
Days left in
10
Remove in 3
10
Effectiveness
May disappear
Comments
Discussed pretarsal,
subcutaneous,
submuscular, and
orbital fat
Skin–levator–skin method
discussed in Barron
JN, Saad MN, eds.
Operative plastic and
reconstructive surgery.
Edinburgh: Churchill
Livingstone;
1980:761–781
Mostly a discussion on
trends of plastic
surgery in Asians.
Also discussed skin
incision and excision
of skin, orbicularis
muscle, and fat
Appendix 2 Modern Literature on Asian Eyelid Surgery (in English)
349
Modern Literature on Asian Eyelid Surgery (in English)
Author
S Ohmori
Y Mutou, H Mutou
JH Sheen
CZ Weingarten
Year
1972
1972
1974
1976
Journal
Ch. 19. Transformation of
the Oriental eye into the
Western eye. In
Goldwyn RM (ed.). The
unfavourable results in
plastic surgery:
avoidance and
treatment. Boston: Little,
Brown; 1972: 275–282
Br J Plast Surg
25(3):285–291
Plast Reconstr Surg
54(4):424–431
Trans Am Acad
Ophthalmol
Otolaryngol
82:442–446
Country
Japan
Japan
USA
USA/Thailand
Conjunctival suturing
Yes (2)
Skin incision
Yes
Yes
Yes
Remove skin
Sometimes
Yes
Variable
Orbicularis
Thins pretarsal orbicularis
Remove orbicularis
Trim inferior edge
Orbital septum
Thins submuscular fat
Open
Open
Preaponeurotic fat
Remove variable amounts
of preaponeurotic fat
Excised
Excised
Crease form
Conjunctiva to skin
Levator/inf. orbicularis
STB/inf. subcut. tissue
Suture
3-0 chromic catgut and 6-0
nylon
Buried 6-0 nylon or
synthetic catgut
Buried 7-0 silk
Buried 6-0 chromic
catgut
Days left in
3
Routine closure
Effectiveness
Crease is not obvious
with eyelids closed
Comments
Also described
tarsus-to-orbicularis
and tarsus-to-skin
closure
Surgery performed on
Thai patients
Continued
350
Asian Blepharoplasty and the Eyelid Crease
Modern Literature on Asian Eyelid Surgery (in English)
Author
AM Putterman, MJ Urist
R Rubenzik
Y Hiraga
JS Zubiri
Year
1976
1977
1980
1981
Journal
Arch Ophthalmol
94(11):1941–1954
Ann Ophthalmol
9(9):1189–1192
Clin Plast Surg
7(4):553–567
Clin Plast Surg 8(4):725–737
Country
USA
USA
Japan
Philippines
Conjunctival suturing
Skin incision
Yes
Yes
Yes
Yes
Remove skin
Yes
Orbicularis
Trim inferior edge
Trim orbicularis
2–3 mm
Orbital septum
Open
Open
Excise 2 mm
Preaponeurotic fat
Excised
Excised
Excised
Crease form
STB/inf. subcut. tissue
Skin–levator–skin
Skin–levator–skin
Skin–STB–levator
Suture
Buried 6-0 polyester plus
Pang’s 6-0 silk
6–0 nylon or silk
Nylon
Buried 6-0 nylon,
Plus skin 6-0 nylon
Days left in
5
6
Effectiveness
Comments
Modern Literature on Asian Eyelid Surgery (in English)
Author
LC Hin
KC Chua
JA McCurdy
T Onizuka, M Iwanami
Year
1981
1982
1982
1984
Journal
Ann Plast Surg
7(5):362–374
Aesthet Plast Surg
6(4):221–223
Otolaryngol Head
Neck Surg
90(1):142–145
Aesthet Plast Surg
8(2):97–100
Country
Singapore
Singapore
USA
Japan
Conjunctival suturing
Skin incision
Yes
Yes
Yes
Remove skin
Yes
Variable
Yes
Orbicularis
3–5 mm
Orbital septum
Open
Open
Preaponeurotic fat
Excised
Variable
Crease form
Skin–levator–skin
Levator–inf. subcut.
tissue
Skin–levator–skin
Suture
5-0 silk
Buried 6-0 polyglycolic
sutures; skin closure:
6–0 nylon
6-0 nylon (7 days);
6-0 nylon subcut.
(3 days)
Days left in
5
5
Effectiveness
Comments
See also Ann Plast Surg
1985;14(6):523–534
Discussion of why
people prefer
double eyelids
