Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
LÀN
DA
ĐẸP
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
1
Chương 1
KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ LÀN DA
Tác giả: Fleta N. Bray, BS, Shadi Damanpour, BS, Brian J. Simmons, BS,
Sahal Samarkandy, MD, Keyvan Nouri , MD
University of Miami Miller School of Medicine, Department of Dermatology and
Cutaneous Surgery, Miami, FL, US
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
NHỮNG ĐIỂM CHÍNH
• Da gồm có ba lớp: Lớp biểu bì là một phần của da có thể nhìn thấy từ
bên ngoài và chứa các tế bào da, tế bào sắc tố và tế bào miễn dịch. Lớp
bì bên dưới là một lớp giống như gel có chứa collagen và elastin, là
những protein giúp định hình cho da, các mạch máu cung cấp dinh
dưỡng và dây thần kinh cảm giác. Lớp hạ bì là một lớp mỡ bên dưới
lớp bì.
• Da có nhiều chức năng: tạo thành một hàng rào bảo vệ các cơ quan
bên trong cơ thể tách biệt với môi trường bên ngoài và các yếu tố lây
nhiễm, giữ độ ẩm bên trong cơ thể, điều chỉnh nhiệt độ cơ thể và giúp
tổng hợp vitamin D từ ánh sáng mặt trời.
• Da tự mất dần chức năng khi chúng ta già đi. Tuy nhiên, hầu hết các
tổn thương da nhìn thấy cùng với sự lão hóa xảy ra do tiếp xúc với ánh
nắng mặt trời lâu dài, được gọi là lão hoá do ánh sáng.
• Bác sĩ da liễu có nhiều phương pháp để cải thiện tác động của lão hóa,
giúp bạn có được làn da đẹp, trẻ trung hơn mà bạn mong muốn.
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
2
GIỚI THIỆU
Da gồm ba lớp chính - lớp biểu bì, lớp bì và lớp hạ bì (Hình 1).
Lớp biểu bì, lớp ngoài cùng mà chúng ta thấy, được tạo thành từ ba
loại tế bào. Tế bào sừng là các tế bào da điển hình, có số lượng nhiều nhất.
Tế bào sắc tố là các tế bào có số lượng nhỏ trong da và tạo ra sắc tố melanin.
Melanin được vận chuyển vào các tế bào sừng lân cận và bảo vệ chúng khỏi
tia UV trong ánh sáng mặt trời. Lượng melanin do tế bào sắc tố sản xuất sẽ
quyết định màu da của bạn. Eumelanin tạo ra màu nâu đen, trong khi
pheomelanin tạo ra màu vàng-đỏ. Loại tế bào chính thứ ba là tế bào
Langerhans. Các tế bào Langerhans là một phần của hệ thống miễn dịch và
bảo vệ chống lại các yếu tố truyền nhiễm.
Lớp bì là lớp bên dưới lớp biểu bì, cung cấp cấu trúc nâng đỡ và dinh
dưỡng cho lớp biểu bì. Nó là một lớp giống như gel được tạo thành bởi
collagen và elastin. Các mạch máu nhỏ và dây thần kinh đi qua lớp bì để
cung cấp dinh dưỡng cho da và nhận tín hiệu về cảm giác da.
Lớp hạ bì là một lớp mỡ bao gồm chủ yếu là các tế bào mỡ.
Chức năng chính của làn da bao gồm hình thành một hàng rào bảo vệ
bên trong cơ thể khỏi môi trường và nhiễm trùng, giữ độ ẩm trong cơ thể,
điều chỉnh nhiệt độ cơ thể và giúp tổng hợp vitamin D từ ánh sáng mặt trời
[1].
Hình 1. Da gồm ba lớp chính - lớp biểu bì, lớp bì và lớp hạ bì.
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
3
Khi chúng ta già đi, da mất đi một số chức năng của nó một cách tự
nhiên. Tuy nhiên, hầu hết những thay đổi trên da liên quan đến lão hóa thực
sự là kết quả của việc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời kéo dài. Loại tổn thương
liên quan ánh sáng mặt trời này được gọi là lão hoá do ánh sáng. Những thay
đổi lớn liên quan đến tuổi tác mà chúng ta thấy bao gồm da khô và thô ráp,
da nhăn nheo, lỏng lẻo hoặc chảy xệ. Theo thời gian da lão hoá mỏng hơn,
ít đàn hồi và giảm collagen, phục hồi chậm hơn sau chấn thương. Ngoài
những thay đổi nhìn thấy trên da, cũng có những thay đổi về lớp cơ và mỡ
bên dưới. Cơ mặt tích lũy tổn thương với sự lão hóa, xuất hiện sự giảm khả
năng kiểm soát hoạt động của cơ. Những thay đổi này góp phần tạo ra các
nếp nhăn trên khuôn mặt. Sự phân bố mỡ ở mặt cũng thay đổi. Với sự lão
hóa, mỡ bị mất dần ở vùng trán, quanh mắt và thái dương, má và quanh
miệng. Đồng thời, mỡ tăng lên dưới cằm, vùng xương hàm, ở nếp gấp da
giữa mũi và môi và ở má bên. Cùng với trọng lực, những thay đổi trong
phân phối mỡ dẫn đến chảy xệ mặt. Thay đổi ở xương làm giảm sự phân
biệt giữa vùng hàm và cổ. Thay đổi ở tóc bao gồm chuyển màu xám, xảy ra
khi melanocytes bị mất, và rụng tóc xảy ra với sự thay đổi nội tiết tố [2].
Lão hoá do ánh sáng chiếm phần lớn tổn thương nhìn thấy liên quan
đến lão hoá da, ảnh hưởng nhiều nhất ở vùng mặt, cổ và bề mặt tiếp xúc với
ánh nắng của cánh tay và bàn tay. Da lão hoá do ánh sáng có thể được đặc
trưng bởi thoái hoá mô đàn hồi, da đổi màu vàng và xuất hiện nốt sần. Các
đặc điểm khác của da lão hoá do ánh sáng bao gồm khô, thô ráp, sắc tố
không đều và nếp nhăn. Mức độ tiếp xúc với ánh nắng mặt trời cần thiết để
xuất hiện sự thay đổi tuỳ thuộc theo từng cá nhân. Tuy nhiên, một số thay
đổi được thấy với tác hại của ánh nắng mặt trời có thể bị ảnh hưởng bởi tông
màu da. Những người có làn da trắng sẽ bị tàn phá và ung thư da nhiều hơn,
trong khi những người có làn da sẫm màu hơn sẽ bị thô, nếp nhăn và sắc tố
không đều. Lão hoá do ánh sáng rõ ràng nhất ở người có làn da trắng, vì có
ít melanin để bảo vệ khỏi tia UV mặt trời. Cuối cùng, một điều quan trọng
cần lưu ý là hút thuốc lá làm xấu đi tình trạng lão hoá do ánh sáng, đặc biệt
là ở phụ nữ. Da của người hút thuốc cũng có các sợi đàn hồi bị hư hại và độ
ẩm ít hơn, chữa lành kém và có nhiều nguy cơ ung thư da [2].
Những thay đổi theo thời gian trên da nhìn thấy với sự lão hóa là không
thể ngăn ngừa được. Tuy nhiên, lão hoá do ánh sáng và tổn thương da do
hút thuốc là có thể tránh được. Chống nắng đầy đủ hàng ngày là yếu tố quan
trọng nhất của bất kỳ chế độ làm đẹp nào. Quy tắc này áp dụng cho mọi
người ở mọi lứa tuổi, loại da hoặc giới tính và không bao giờ là quá muộn
để bắt đầu hoặc cải thiện các biện pháp chống nắng. Ngoài các biện pháp
phòng ngừa, một loạt các kỹ thuật có sẵn để cải thiện bề ngoài của làn da.
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
4
Các chương còn lại của cuốn sách này sẽ hướng dẫn nhiều quy trình có sẵn
có thể giúp đạt được làn da đẹp, trẻ trung hơn theo mong muốn.
QUAN ĐIỂM VỀ SẮC ĐẸP VÀ SỰ TRẺ TRUNG
Sắc đẹp, như nhiều người đã nói, là trong mắt của kẻ si tình. Quan
điểm có thể khác nhau về màu sắc, hình dạng và kích thước, nhưng dường
như luôn có điểm chung, đó là sự tươi trẻ. Tìm kiếm một nét đẹp tươi trẻ là
nhu cầu không giới hạn chung của xã hội, không phụ thuộc vào các nền văn
hoá khác nhau.
Trong cuốn Survival of the Prettiest, Etcoff cho rằng cách chúng ta
nhận thức và phản ứng với cái đẹp ăn sâu vào tiềm thức. Đẹp là biểu hiện
sức khỏe và lợi thế về sinh sản [3]. Do đó, tầm quan trọng của đẹp không
giới hạn không gian và thời gian; đẹp là động lực sinh học cho những đứa
con ưu tú, thành công [4].
Kể từ thời Kinh Thánh, phụ nữ đã tìm cách che giấu tuổi tác và xuất
hiện tươi trẻ hơn bằng cách sử dụng mỹ phẩm [5]. Trên thực tế, người Ai
Cập sở hữu hầu hết các loại mỹ phẩm mà chúng ta sử dụng ngày nay và theo
các công thức để ngăn ngừa các nếp nhăn và nhược điểm trên khuôn mặt
[3]. Vào năm 51 trước Công nguyên, Cleopatra đã tắm trong sữa dê, hạnh
nhân và mật ong để làm mềm da [4]. Tương tự như vậy, ở Hy Lạp cổ đại,
đắp bánh mì và sữa được xem là một hình thức chống lão hóa điển hình. Ở
Anh thế kỷ 17, nơi Nữ hoàng Elizabeth là hình mẫu người đẹp lý tưởng, các
phụ nữ khác đã cố gắng để làm cho làn da của họ trắng, bao gồm cả việc tô
chì trắng lên mặt [5].
Theo Aristotle, đẹp là một đề cử lớn hơn bất kỳ thư giới thiệu nào.
Ngoại hình là ấn tượng đầu tiên của mọi người đối với chúng ta, và có nhiều
ý nghĩa xã hội. Mọi người được khen vì xinh đẹp. Những em bé dễ thương
nhận được nhiều sự quan tâm và tình cảm hơn. Người trưởng thành có bề
ngoài hấp dẫn có mối quan hệ với người khác tốt hơn, được đối xử tốt hơn
tại nơi làm việc và nhận được điểm cao hơn. Họ được chú ý hơn trong các
trường hợp khẩn cấp [3]. Do đó, nhiều yếu tố xã hội đã ăn sâu vào cuộc tìm
kiếm cái đẹp của chúng ta.
Theo Hiệp hội Phẫu thuật Thẩm mỹ Hoa Kỳ, hơn 15 triệu lượt điều trị
thẩm mỹ đã được thực hiện trong năm 2013, tăng 164% kể từ năm 2000.
Hơn 13 triệu trong số đó là các thủ thuật xâm lấn tối thiểu; phổ biến nhất là
botox, lột hóa chất, vi mài da, tiêm chất làm đầy và triệt lông bằng laser.
Đàn ông chiếm 9% tổng số lượt điều trị thẩm mỹ trong năm 2013, tăng 22%
so với năm 2000 [6].
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
5
Công cuộc tìm kiếm cái đẹp, như lịch sử chứng minh, chắc chắn sẽ
tiếp tục. Nét đẹp tươi trẻ bên ngoài ngày càng có khả năng đạt được để sánh
cùng với nội lực bên trong.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vandergriff, T. W., and P. R. Bergstresser. 2012. “Anatomy and Physiology.” In
Dermatology, edited by J. L. Bolognia, J. L. Jorizzo and J. V. Schaffer. New
York: Elsevier.
2. Yaar, M. and B. A. Gilchrest. 2012. “Aging of Skin.” In Fitzpatrick's
Dermatology in General Medicine, edited by L. A. Goldsmith, S. I. Katz, B. A.
Gilchrest, A. S. Paller, D. J. Leffel and K. Wolff. US: McGraw- Hill.
3. Etcoff, Nancy L. 1999. Survival of the prettiest: the science of beauty. New
York: Doubleday.
4. Alam, M., and J. S. Dover. 2001. “On beauty: evolution, psychosocial
considerations, and surgical enhancement.” Arch Dermatol 137 (6):795- 807.
5. Oumeish, O. Y. 2001. “The cultural and philosophical concepts of cosmetics in
beauty and art through the medical history of mankind.” Clin Dermatol 19
(4):375-86.
6. 2013. “Plastic Surgery Statistics Report.” American Society of Plastic Surgeons.
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
6
Chương 2
NHUỘM DA VÀ TIẾP XÚC ÁNH NẮNG
Tác giả: Fleta N. Bray, BS, Adam S. Aldahan, BS, Brian J. Simmons, BS,
Keyvan Nouri , MD
University of Miami Miller School of Medicine, Department of Dermatology and
Cutaneous Surgery, Miami, FL, US
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
NHỮNG ĐIỂM CHÍNH
• Mặt trời phát ra hai loại tia có hại cho da. Tia UVA gây lão hóa sớm,
trong khi tia UVB gây cháy nắng. Tiếp xúc quá nhiều 2 loại loại ánh
sáng trên có thể gây ung thư da.
• Cố tình nhuộm da nâu không tốt cho sức khoẻ. Mọi người nên thực
hiện các bước cần thiết để bảo vệ mình khỏi ánh nắng mặt trời.
• Mọi người nên dùng kem chống nắng, bất kể màu da của mình. Chọn
kem chống nắng phổ rộng, chống nước với hệ số chống nắng từ 30 trở
lên.
• Hầu hết mọi người không sử dụng đủ lượng kem chống nắng để được
bảo vệ hoàn toàn khỏi các tia có hại. Bôi đủ lượng kem chống nắng ở
tất cả các vùng da tiếp xúc ánh sáng mặt trời. Bôi lại sau mỗi hai giờ,
sau khi bơi hoặc đổ mồ hôi nhiều.
GIỚI THIỆU
Đối với nhiều người, làn da rám nắng là hấp dẫn và đáng mơ ước. Tuy
nhiên, rất ít người quan tâm đến việc bị tổn thương da do ánh sáng và lão
hóa sớm đi kèm với nhuộm da và phơi nắng quá mức. Nhuộm da là một
dạng tổn thương da do ánh sáng, và không có nhuộm da an toàn. Ánh sáng
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
7
mặt trời đến trái đất có hai loại tia cực tím có hại. Tia UVA gây lão hóa sớm,
trong khi tia UVB gây cháy nắng. Tiếp xúc quá nhiều với hai loại tia trên có
thể dẫn đến ung thư da, đó là lý do tại sao điều quan trọng là luôn bảo vệ da
khỏi ánh nắng mặt trời và hạn chế nhuộm da.
KEM CHỐNG NẮNG
Học viện Da liễu Hoa Kỳ (AAD) khuyến cáo mọi người nên dùng kem
chống nắng, bất kể màu da. Hơn 2 triệu người được chẩn đoán mắc bệnh
ung thư da mỗi năm, và nhiều trong số các bệnh nhân ung thư này đã có thể
được ngăn chặn nếu có sự bảo vệ thích hợp khỏi tia nắng mặt trời [1]. Các
biện pháp chống nắng bao gồm tránh tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời
trong khoảng thời gian từ 10:00 sáng đến 3:00 chiều, tìm bóng râm, che với
áo dài và quần dài, đội mũ và đeo kính râm, và sử dụng kem chống nắng.
Khi lựa chọn kem chống nắng, AAD khuyên nên chọn loại kem chống
nắng phổ rộng giúp chống lại cả tia UVA và UVB. Nếu loại kem chống
nắng không bảo vệ da khỏi cả hai loại tia có hại, sẽ có cảnh báo trên nhãn
của sản phẩm. Cảnh báo này có thể là chỉ bảo vệ da khỏi cháy nắng, không
bao gồm chống lão hóa sớm và ung thư da. Kem chống nắng nên có hệ số
chống nắng (SPF) từ 30 trở lên, và cần có khả năng chống nước. Chỉ số SPF
30 có nghĩa là sản phẩm đã được kiểm tra và ngăn 97% tia UVB từ mặt trời
[1]. Kem chống nắng với tất cả các tính năng này có thể giúp bảo vệ da khỏi
cháy nắng, sạm da, lão hóa sớm và ung thư da.
Kem chống nắng nên được dùng cho tất cả các vùng da tiếp xúc với
ánh nắng mặt trời, và nên được bôi lại theo các hướng dẫn trên sản phẩm.
Thông thường, nên bôi lại sau mỗi 2 giờ hoặc sau khi đổ mồ hôi hoặc bơi
lội. Nước, tuyết và cát đều có thể phản chiếu những tia sáng mặt trời. Cần
bôi kem chống nắng ngay cả trong những ngày nhiều mây. Hầu hết mọi
người dùng lượng kem chống nắng không đủ để bảo vệ da hoàn toàn. Các
chuyên gia khuyên nên sử dụng kem chống nắng đủ để che các vùng da tiếp
xúc ánh sáng [1]. Thoa kem chống nắng 15 phút trước khi ra nắng. Hãy nhớ
bảo vệ đôi môi bằng son dưỡng môi có SPF từ 30 trở lên.
Kem chống nắng có sẵn ở nhiều dạng, bao gồm kem, gel, thanh hoặc
xịt. Tất cả các sản phẩm này được điều chỉnh bởi FDA, tuy nhiên FDA
không chấp nhận cho kem chống nắng dạng xịt [1]. Nói chung, có thể chọn
bất kỳ loại kem chống nắng nào thuận tiện và thoải mái nhất.
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
8
GIƯỜNG NHUỘM DA
Giường nhuộm da là một thiết bị phát ra tia UVA và UVB nhằm mục
đích tạo ra một làn da rám nắng. Nhìn chung, lượng tia UVA ra lớn hơn
nhiều so với tia UVB. Điều này có nghĩa là giường nhuộm da làm tăng tốc
độ lão hóa da và làm tăng nguy cơ ung thư da, nhưng nhiều người không
nhận ra các rủi ro này vì những tổn thương có thể cần nhiều thời gian hơn
để xuất hiện. Sử dụng giường nhuộm da, đặc biệt là trong giai đoạn thiếu
niên và những năm đầu tuổi hai mươi, làm tăng đáng kể nguy cơ phát triển
ung thư da sau này. Nếu muốn làn da rám nắng, có thể thử sản phẩm tự
nhuộm da hoặc phun nhuộm da. Những sản phẩm này thường chứa một hóa
chất gọi là DHA, hoặc axit docosahexaenoic, một thành phần được FDA
phê chuẩn làm tối màu da [2].
VITAMIN D
Phơi nắng là cần thiết cho việc sản xuất Vitamin D trong da, vì vậy
việc chống nắng quá mức có thể làm tăng nguy cơ thiếu vitamin D. Tuy
nhiên, sản phẩm bổ sung vitamin D là một biện pháp an toàn và hiệu quả để
đạt được mức vitamin D cần thiết cho sức khỏe. Cố gắng bổ sung tất cả
lượng vitamin D được khuyến nghị thông qua chế độ ăn uống và bằng sản
phẩm bổ sung vitamin nếu cần. Học viện Da liễu Hoa Kỳ không khuyến
nghị sử dụng ánh nắng mặt trời để thu được vitamin D [1].
ĐIỀU TRỊ CHÁY NẮNG
Nếu bị cháy nắng, có thể thực hiện những bước sau để cảm thấy tốt
hơn trong khi chờ da lành lại. Tắm mát, thoa kem dưỡng ẩm, và kem
hydrocortisone có thể giúp giảm bớt sự khó chịu. Ngoài ra, có thể dùng thêm
aspirin hoặc ibuprofen để hỗ trợ [1]. Nếu da bị phồng rộp, vết bỏng đã
nghiêm trọng hơn, nên tìm kiếm sự chăm sóc y tế nếu các mụn nước chiếm
diện tích lớn hoặc có sốt, đau đầu [1]. Vết đỏ sẽ hết sau 3 - 7 ngày và phồng
rộp hết sau 7-10 ngày [3]. Những người da sáng màu có thể có các đốm nâu
vĩnh viễn sau khi bị cháy nắng [3]. Điều quan trọng cần lưu ý là những người
bị cháy nắng khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời sẽ tăng nguy cơ mắc bệnh
ung thư da, vì vậy nên có thêm nhiều biện pháp phòng ngừa để bảo vệ da
khỏi ánh nắng mặt trời và cháy nắng.
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
9
KẾT LUẬN
Mọi người đều có nguy cơ bị tổn thương da từ các tia mặt trời có hại,
bất kể loại da nào. Bảo vệ da khỏi ánh nắng mặt trời bằng cách tránh ánh
nắng mặt trời lúc gay gắt, che chắn bằng mũ, kính râm và quần áo, dùng
kem chống nắng. Kem chống nắng phải có phổ rộng, chống nước và SPF 30
trở lên. Thoa kem chống nắng đủ để che phủ và bôi lại thường xuyên. Không
có làn da rám nắng an toàn hay khỏe mạnh.
KHUYẾN NGHỊ
• Mọi người nên dùng kem chống nắng (trừ trẻ dưới 6 tháng tuổi), bất
kể màu da.
• Ở trong bóng râm từ 10:00 sáng đến 3:00 chiều.
• Sử dụng kem chống nắng phổ rộng, ít nhất 30 SPF, chống nước. Chống
nắng dạng xịt không được chấp nhận bởi FDA.
• Sử dụng đủ lượng kem chống nắng, và bôi lại thường xuyên.
• Tránh sử dụng giường nhuộm da vì chúng làm tăng tốc độ lão hóa và
tăng nguy cơ ung thư da.
• Sử dụng sản phẩm tự nhuộm da hoặc phun thuốc nhuộm da thay cho
các hình thức nhuộm da khác nếu muốn có làn da rám nắng.
• Chống nắng quá mức có thể ảnh hưởng đến mức vitamin D, có thể cần
sử dụng sản phẩm bổ sung vitamin D để có đủ lượng vitamin D cho
cơ thể. Không khuyến nghị sử dụng ánh nắng mặt trời để thu được
vitamin D.
• Tắm mát, dưỡng ẩm và kem hydrocortisone có thể làm giảm bớt triệu
chứng cháy nắng. Liên hệ với bác sĩ nếu các triệu chứng vẫn còn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Dermatology, American Academy of Dermatology.
2. Administration, U.S. Food and Drug. 2015. “Sunless Tanners and
Bronzers.”
3. Young, Antony, and Angela Tewari. 2015. “Sunburn.” UpToDate.
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
10
Chương 3
BOTULINUM TOXIN A (BOTOX)
Tác giả: Sanjana Iyengar, MD, Mohammed Alsaidan, MD, Stephanie
Mlacker, BS, Leyre A. Falto-Aizpurua, MD, Keyvan Nouri , MD
Department of Dermatology and Cutaneous Surgery, University of Miami Miller
School of Medicine, Miami, FL, US
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
NHỮNG ĐIỂM CHÍNH
• Việc sử dụng Botulinum toxin A, còn được gọi là botox, đang ngày
càng phổ biến.
• Botox đóng vai trò trong việc đảo ngược các biểu hiện bên ngoài của
tình trạng lão hóa da.
• Botulinum toxin A là một loại độc tố do vi khuẩn Clostridium
botulinum tiết ra, hoạt động bằng cách làm tê liệt cơ bắp mà nó được
tiêm vào.
• Botox có nhiều chức năng, bên cạnh việc điều trị nếp nhăn.
GIỚI THIỆU
Botulinum toxin A (BTX-A) được chú ý trong những năm qua do khả
năng chống lão hóa của nó, đặc biệt đối với các nếp nhăn. Các bác sĩ đã sử
dụng BTX-A trong nhiều năm để điều trị thành công các nếp nhăn trên
khuôn mặt. Sự phổ biến của tiêm BTX-A đang tăng lên khi nhiều người
mong muốn một bề ngoài trẻ trung hơn [1]. Theo khảo sát của các bác sĩ
thuộc Hiệp hội Phẫu thuật Da liễu Hoa Kỳ, tiêm thẩm mỹ, như Botox, đã
tăng 20% từ năm 2012- 2013 với hơn 1,8 triệu lượt được thực hiện trong
năm 2013 [2]. Các độc tố được tiêm trực tiếp vào các cơ riêng biệt để gây
giãn và làm phẳng nếp nhăn xuất hiện trước đó. Các nghiên cứu khác nhau
đã chứng minh BTX-A là an toàn và hiệu quả [3]. Điều trị lâu dài có liên
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
11
quan đến sự hài lòng cao của bệnh nhân và bác sĩ[4]. Do đó, đây là một quy
trình chống lão hóa thường xuyên được yêu cầu.
QUÁ TRÌNH LÃO HOÁ
Quá trình lão hóa biểu hiện rõ trên khuôn mặt và là vấn đề quan tâm
của nhiều người muốn cải thiện nó. Dấu hiệu lão hóa có thể được nhìn thấy
qua các nếp nhăn trên trán, xung quanh mắt, rãnh cau mày và dọc theo môi.
Nếp nhăn là một trong những dấu hiệu lão hóa sớm nhất khi da bị mỏng và
mất dần khối lượng theo thời gian. Các thành phần của da, như collagen,
elastin và axit hyaluronic làm biểu hiện bên ngoài da săn chắc và khỏe mạnh,
giảm dần theo tuổi [5]. Nếp nhăn phát triển do sự lỏng lẻo của da. Lão hóa
có thể được tăng nhanh bởi nhiều yếu tố, bao gồm phơi nắng, hút thuốc,
trọng lực và áp lực tại vị trí [6]. Các nếp nhăn xuất hiện khi mặt thư giãn
được gọi là nếp nhăn tĩnh. Nếp nhăn hình thành do các cơn co thắt cơ mặt
lặp đi lặp lại với các biểu hiện trên khuôn mặt, như cau mày, cười được gọi
là các nếp nhăn động. Nếp nhăn do lão hóa được minh họa trong Hình 1.
Hình 1. Cải thiện nếp nhăn quanh mắt “crow’s feet” sau khi tiêm BTX-A.
Người có nếp nhăn động và có ít hoặc không có nếp nhăn tĩnh có sự
cải thiện rõ rệt nhất với điều trị BTX-A [7]. Bệnh nhân có nếp nhăn tĩnh cải
thiện chậm hơn. Các nếp nhăn sâu không đáp ứng hoàn toàn với điều trị
BTX-A đơn thuần mà cần điều trị kết hợp với chất làm đầy hoặc các phương
pháp tái tạo bề mặt để đạt được kết quả tối ưu. Nếp nhăn tĩnh nghiêm trọng
và da lỏng lẻo thường thấy ở người cao tuổi có thể cần can thiệp phẫu thuật.
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
12
Điều trị sớm bằng BTX-A có nhiều lợi ích; tiêm BTX-A lặp lại nhiều
lần có thể ngăn ngừa các dấu hiệu lão hóa bằng cách ngăn chặn các nếp nhăn
mới hình thành [8]. Tùy thuộc vào cơ được tiêm, tần suất tiêm lặp lại sẽ khác
nhau. Ví dụ, tiêm lặp lại BTX-A vùng cơ orbicularis oculi (mắt) trong 15-
20 năm có thể giúp duy trì trạng thái săn chắc quanh mắt. Các cơ corrugator,
được tiêm để điều trị các đường nhăn giữa lông mày, có thể cần tiêm lặp lại
ít hơn để ngăn ngừa nếp nhăn mới.
BOTOX LÀ GÌ?
Botulinum toxin A là một trong tám exotoxin được sản xuất bởi
Clostridium botulinum, một loại vi khuẩn kỵ khí Gram dương, có hình thành
bào tử [1]. Độc tố hoạt động bằng cách ngăn chặn tín hiệu từ dây thần kinh
đến cơ. Cụ thể hơn, nó ngăn chặn sự giải phóng một số chất dẫn truyền thần
kinh (acetylcholine), những chất này kích thích sự co cơ. Điều này làm
phẳng các nếp nhăn do cơ bị giảm hoạt động. Tiêm botox làm tê liệt cơ cục
bộ có kiểm soát và có thể đảo ngược. Điều quan trọng là phải nhắm mục
tiêu các cơ cụ thể vì tiêm các cơ khác có thể dẫn đến tác dụng phụ nghiêm
trọng. Liệt cơ xảy ra trong vòng 3 đến 7 ngày và có thể kéo dài khoảng 3
đến 6 tháng [1]. Tới thời điểm này, quá trình đảo ngược và sự tê liệt cơ mất
đi. Các cơ vẫn giữ được sự co thắt trước đó và nếp nhăn xuất hiện như trước
khi tiêm. Các thủ thuật botox không có kết quả vĩnh viễn và nên được thực
hiện định kỳ để duy trì kết quả thẩm mỹ mong muốn. Sự kết hợp của botox
với chất làm đầy tạm thời, chẳng hạn như acid hyaluronic, có thể tạo ra kết
quả lâu dài hơn [5]. Hyaluronic acid, một thành phần tự nhiên được tìm thấy
trong da, có thể giúp cải thiện sự mất khối lượng liên quan đến lão hóa bằng
cách hoạt động như một chất làm đầy.
LỊCH SỬ CỦA BOTOX, DYSPORT, XEOMIN
Botulinum toxin A đã được sử dụng trong hơn 3 thập kỷ và lần đầu
tiên được thử nghiệm trên người vào năm 1968 bởi Alan Scott ở San
Francisco để điều trị bệnh lác (lazy eye) [1]. Thành công của botox trong
việc giãn cơ mắt đã dẫn đến việc phát hiện ra tác động của nó trong quá trình
co cơ. Botulinum toxin A đã được tìm thấy tác dụng cải thiện các nếp nhăn
ở giữa lông mày một cách tình cờ sau khi bệnh nhân yêu cầu sử dụng nó [9].
Vào tháng 4 năm 2002, BOTOX đã được FDA chấp thuận để điều trị các
nếp nhăn từ trung bình đến nặng giữa lông mày, được gọi là đường glabellar
[7]. Có nhiều loại BTX-A thương mại có sẵn. BOTOX (onabotulinumtoxin
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
13
A) là độc tố botulinum đầu tiên được FDA phê chuẩn cho nam giới và nữ
giới dưới 65 tuổi [6]. Dysport (abobotulinumtoxin A) đến từ một chủng vi
khuẩn loại A khác [6]. Năm 2009, Dysport được FDA chấp thuận cho sử
dụng trong thẩm mỹ tại Hoa Kỳ [10]. Vài năm sau, một sản phẩm khác,
Xeomin (incobotulinumtoxin A), được FDA chấp thuận cho sử dụng trong
thẩm mỹ tại Hoa Kỳ. Không giống như các sản phẩm BTX-A khác, Xeomin
được tinh chế không có chất bảo quản [11]. Điều này có thể có nghĩa là bệnh
nhân ít khả năng phát triển kháng thể chống lại độc tố hơn so với các loại
sản phẩm BTX-A khác. Trong khi Xeomin được cho là có thể so sánh với
Botox, các nghiên cứu tiếp theo cần xác định xem có sự khác biệt đáng kể
nào giữa các công thức khác nhau trên thị trường [10]. Tuy nhiên, các sản
phẩm không thể thay thế cho nhau [12].
Botulinum toxin B (rimabotulinumtoxin B) hiện được FDA phê chuẩn
trong điều trị co thắt cơ cổ [10]. Mặc dù có tác dụng tương tự như BTX-A,
BTX-B có thời gian tác dụng ngắn hơn nhiều [11]. Do đó, độc tố B
botulinum không được sử dụng cho mục đích thẩm mỹ.
ỨNG DỤNG
BTX-A tiêm trong cơ là thủ thuật thẩm mỹ phổ biến nhất ở Hoa Kỳ.
Về mặt ứng dụng thẩm mỹ, BTX-A được sử dụng để điều trị nếp nhăn ở cả
nửa trên và dưới mặt [10]. Các vị trí thường được tiêm bao gồm nếp nhăn
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
14
giữa lông mày, trán, vùng quanh mắt, mũi và môi. Tạo hình khuôn mặt,
chẳng hạn như nâng cao chân mày, cũng có thể được thực hiện với BTX-A
[13]. Ứng dụng thẩm mỹ khác bao gồm nâng cao khóe miệng và chóp mũi
[13]. Danh sách các quy trình thẩm mỹ được thực hiện bằng Botox được liệt
kê trong Bảng 2. Ngoài việc cải thiện nếp nhăn trên khuôn mặt, Botox có
thể được sử dụng để điều trị nhiều tình trạng khác nhau, bao gồm đau nửa
đầu, mắt lác, chớp mắt không kiểm soát, đổ mồ hôi quá nhiều, tiểu không tự
chủ và co thắt cơ [6].
TRƯỚC KHI ĐIỀU TRỊ
Trước khi làm thủ thuật, khách hàng nên thông báo cho bác sĩ về các
loại thuốc kê đơn và không kê đơn hiện tại đang dùng. Sử dụng Botox với
một số loại thuốc có thể gây ra tác dụng phụ. Các loại thuốc như thuốc giãn
cơ, thuốc ngủ, dị ứng / thuốc cảm lạnh, thuốc làm loãng máu nên được báo
cáo với bác sĩ [14]. Để giảm nguy cơ bị bầm tím, khách hàng nên thảo luận
về các loại thuốc đang dùng với bác sĩ, ví dụ, aspirin và các thuốc kháng
viêm không steroid khác. Bác sĩ có thể yêu cầu tạm ngưng các loại thuốc
này trước khi điều trị. Việc đã từng sử dụng BTX-A trước đây, như BOTOX,
Myobloc, Dysport và Xeomin, cũng nên được thảo luận.
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
15
THỰC HIỆN
Một lọ BOTOX chứa 5 ng (100 đơn vị chất độc), 500 microgam
albumin và 900 microgam natri clorua [1]. Liều điều trị phụ thuộc vào số
lượng khu vực được điều trị.
Thủ thuật thực hiện tại phòng khám bác sĩ và tương đối ngắn, chỉ mất
vài phút. Botox được tiêm bằng một kim nhỏ vào cơ cụ thể, có một chút khó
chịu với cơn đau nhẹ. Không cần gây mê nhưng bệnh nhân có thể yêu cầu
gây tê tại chỗ. Số lượng tiêm tùy thuộc vào khu vực được điều trị. Điều trị
nhiều khu vực có thể xảy ra cùng một lúc [14].
Sau thủ thuật, bệnh nhân có thể tiếp tục các hoạt động bình thường
hàng ngày. Độc tố thường mất từ 3 đến 7 ngày để có hiệu quả và hiệu quả
điều trị kéo dài khoảng bốn đến sáu tháng. Yêu cầu điều trị bổ sung sau đó.
Khách hàng không được xoa bóp vùng điều trị trong một vài ngày sau
khi tiêm hoặc nằm 3 đến 4 giờ sau điều trị [7]. Chà xát có thể dẫn đến sự lan
toả của độc tố và có tác dụng phụ, chẳng hạn như sụp mí mắt. Việc sử dụng
BOTOX không được khuyến nghị cho trẻ em dưới 18 tuổi [14].
TÁC DỤNG PHỤ
Tác dụng phụ của tiêm BTX-A bao gồm kích ứng nơi tiêm, bầm tím,
sụp mí mắt, sưng và không đối xứng [7]. Bầm tím là phổ biến khi tiêm vùng
xung quanh mắt vì da mỏng và mạch máu nông [15]. Tỷ lệ nhỏ bệnh nhân
bị sụp mí mắt thường sẽ bình thường lại sau đó, hậu quả có thể là do sự chà
xát tại vị trí tiêm sau điều trị. Các tác dụng phụ hiếm gặp bao gồm đau cổ,
nhức đầu, khô mắt và khô miệng [16]. Các tác dụng phụ nghiêm trọng,
chẳng hạn như khó thở và nuốt, có thể xảy ra trong vòng vài giờ đến vài
tuần sau khi tiêm nếu thuốc lan truyền từ vị trí tiêm [14].
Liều tối đa của BOTOX không được vượt quá tổng liều 360 đơn vị
trong thời gian 3 tháng [17].
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Bệnh nhân bị dị ứng với bất kỳ thành phần nào của thuốc nên hạn chế
sử dụng [14]. Các dấu hiệu, chẳng hạn như phát ban, nổi mề đay, ngứa, khó
thở, thở khò khè, sưng mặt, môi, lưỡi hoặc cổ họng, có thể chỉ ra phản ứng
dị ứng và cần được chăm sóc y tế kịp thời [16]. Những thay đổi đột ngột về
thị lực, đau mắt, không thể kiểm soát bàng quang hoặc đi tiểu và sốt từ 38
độ C trở lên là những dấu hiệu cảnh báo cần được giải quyết ngay lập tức.
Botulinum toxin A chống chỉ định ở những bệnh nhân bị rối loạn cơ bắp
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
16
hoặc hệ thần kinh, như hội chứng Eaton Lambert, và bệnh nhược cơ [13].
Sự an toàn của Botox không được biết đến ở những bệnh nhân đang mang
thai hoặc cho con bú.
CHI PHÍ
Botox thường không được bảo hiểm chi trả cho mục đích thẩm mỹ.
Chi phí tiêm có thể khác nhau với các nhà cung cấp khác nhau và thường
phụ thuộc vào số lượng đơn vị tiêm. Các khu vực như trán có thể cần 6-30
đơn vị trong khi nếp chân chim (hai bên mắt) có thể cần 8-30 đơn vị [7]. Giá
cả khác nhau tùy theo nhà cung cấp và chuyên gia. Do đó, cần phải tham
khảo ý kiến bác sĩ của bạn về chi phí của thủ thuật trước khi được điều trị.
BOTULINUM TOXIN A BÔI TẠI CHỖ
BTX-A bôi tại chỗ được nhìn nhận là một sản phẩm tiềm năng trong
thẩm mỹ. Sản phẩm chưa có sẵn trên thị trường. Các tranh luận quanh vấn
đề sản phẩm bôi có được sự thâm nhập sâu đủ để tạo ra kết quả [1], một sản
phẩm mới, được quảng cáo là RT001, cho thấy kết quả tích cực. Các thử
nghiệm lâm sàng sử dụng sản phẩm cho thấy sự cải thiện trong điều trị vết
chân chim (hai bên mắt) trong vòng 4 tuần [15]. Ứng dụng tại chỗ của BTX-
A cũng cho thấy có lợi trong việc giảm mồ hôi quá mức dưới cánh tay, được
gọi là tăng tiết mồ hôi nách tiên phát [9]. Trong khi các thử nghiệm lâm sàng
vẫn đang được tiến hành, việc dùng BTX-A bôi tại chỗ có vẻ đầy hứa hẹn
và phục vụ cho việc mở rộng lĩnh vực điều trị da liễu trong tương lai. Phương
pháp này sẽ giúp loại bỏ đau và bầm tím so với phương pháp tiêm [15]. Hiệu
quả phương pháp bôi tại chỗ so với tiêm vẫn chưa được xác định.
KẾT LUẬN
Có sự quan tâm lớn vào các thủ thuật thẩm mỹ xâm lấn tối thiểu. Tiêm
BTX-A đã trở thành thủ thuật thẩm mỹ phổ biến nhất ở Hoa Kỳ. Việc sử
dụng nó tiếp tục tăng lên khi nhiều người mong muốn có được một vẻ ngoài
trẻ trung. Tiêm botox thường được thực hiện trong một phòng khám ngoại
trú. Khi chọn người cung cấp dịch vụ, điều quan trọng là bệnh nhân cần lựa
chọn các bác sĩ đã được đào tạo đúng về quy trình thẩm mỹ. Các phương
pháp điều trị được thực hiện bởi những người không phải là bác sĩ hoặc bác
sĩ mà không được đào tạo phù hợp có thể dẫn đến các tác dụng phụ nghiêm
trọng. Việc ứng dụng thẩm mỹ của BTX-A đã tạo ra một tác động mạnh
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
17
trong thế giới thẩm mỹ. Với sự ra đời của các chế phẩm gel bôi BTX-A,
tương lai của da liễu thẩm mỹ đang tiếp tục phát triển.
KHUYẾN NGHỊ
• Đợi 4 đến 6 tháng trước khi sử dụng lại botox, vì lúc này các hiệu ứng
thường bắt đầu giảm dần.
• Ngoài việc điều trị nếp nhăn, botox còn có nhiều vai trò thẩm mỹ, như
nâng cao khóe miệng và chóp mũi.
• Không nên trì hoãn sử dụng botox vì hiệu quả của nó trong việc ngăn
ngừa nếp nhăn tiếp tục được tối đa hóa khi bắt đầu sử dụng nó sớm
hơn.
• Khi chọn sử dụng botox, nên tới cơ sở của bác sĩ, bởi vì nhân viên
chăm sóc da không có kiến thức giải phẫu cơ thể để điều trị đúng.
• Chuẩn bị ngân sách phù hợp; tùy thuộc vào bác sĩ, có thể tính phí theo
từng khu vực, mỗi lượt điều trị hoặc trên mỗi đơn vị botox.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Freeman, S. R., and J. L. Cohen. 2008. “New neurotoxins on the horizon.”
Aesthet Surg J 28 (3):325-30. doi: 10.1016/j.asj.2008.03.006. 2014. “ASDS
members report performing 22 percent more procedures in 2013.” American
Society of Dermatologic Surgery.
2. Cavallini, M., P. Cirillo, S. P. Fundarò, S. Quartucci, C. Sciuto, G. Sito, D.
Tonini, G. Trocchi, and M. Signorini. 2014. “Safety of botulinum toxin A in
aesthetic treatments: a systematic review of clinical studies.” Dermatol Surg 40
(5):525-36. doi: 10.1111/dsu.12463.
3. Trindade de Almeida, A., J. Carruthers, S. E. Cox, M. P. Goldman, S. Wheeler,
and C. J. Gallagher. 2015. “Patient satisfaction and safety with aesthetic
onabotulinumtoxinA after at least 5 years: a retrospective cross-sectional
analysis of 4,402 glabellar treatments.” Dermatol Surg 41 Suppl. 1:S19-28. doi:
10.1097/DSS.0000000000000275.
4. Carruthers, J. D., R. G. Glogau, A. Blitzer, and Facial Aesthetics Consensus
Group Faculty. 2008. “Advances in facial rejuvenation: botulinum toxin type a,
hyaluronic acid dermal fillers, and combination therapies--consensus
recommendations.” Plast Reconstr Surg 121 (5 Suppl.):5S-30S; quiz 31S-36S.
doi: 10.1097/PRS.0b013e31816de8d0.
5. Said, S., A. Meshkinpour, A. Carruthers, and J. Carruthers. 2003. “Botulinum
toxin A: its expanding role in dermatology and esthetics.” Am J Clin Dermatol
4 (9):609-16.
6. Small, R. 2014. “Botulinum toxin injection for facial wrinkles.” Am Fam
Physician 90 (3):168-75.
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
18
7. Raspaldo, H., M. Baspeyras, P. Bellity, J. M. Dallara, V. Gassia, F. R. Niforos,
L. Belhaouari, and Consensus Group. 2011. “Upper- and mid- face anti-aging
treatment and prevention using onabotulinumtoxin A: the 2010 multidisciplinary
French consensus--part 1.” J Cosmet Dermatol 10 (1):36-50. doi:
10.1111/j.1473-2165.2010.00544.x.
8. Carruthers, A., and J. Carruthers. 2015. “You want to inject what?” Dermatol
Surg 41 Suppl. 1:S2-8. doi: 10.1097/DSS.0000000000000273.
9. Walker, T. J., and S. H. Dayan. 2014. “Comparison and overview of currently
available neurotoxins.” J Clin Aesthet Dermatol 7 (2):31-9.
10. Lowe, N. J., and P. Lowe. 2012. “Botulinum toxins for facial lines: a concise
review.” Dermatol Ther (Heidelb) 2 (1):14. doi: 10.1007/s13555 -012-0014-6.
11. Brin, M. F., C. James, and J. Maltman. 2014. “Botulinum toxin type A products
are not interchangeable: a review of the evidence.” Biologics 8: 227-41. doi:
10.2147/BTT.S65603.
12. de Sa Earp, A. P., and E. S. Marmur. 2008. “The five D’s of botulinum toxin:
doses, dilution, diffusion, duration and dogma.” J Cosmet Laser Ther 10 (2):93-
102. doi: 10.1080/14764170701883660.
13. Medication Guide BOTOX, BOTOX Cosmetic (Boe-tox) (onabotulinumtoxin
A) for Injection. edited by Allergan Pharmaceuticals Ireland and approved by
the US Food and Drug Administration.
14. Brandt, F., C. O’Connell, A. Cazzaniga, and J. M. Waugh. 2010. “Efficacy and
safety evaluation of a novel botulinum toxin topical gel for the treatment of
moderate to severe lateral canthal lines.” Dermatol Surg 36 Suppl. 4:2111-8. doi:
10.1111/j.1524-4725.2010.01711.x.
15. OnabotulinumtoxinA (botulinum toxin type A, Botox): Patient drug
information. Lexicomp.
16. Highlights of Prescribing Information. edited by Allergan Pharmaceuticals.
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
19
Chương 4
CÁC CHẤT LÀM ĐẦY (FILLERS)
Tác giả: Brian J. Simmons, BS, Adam S. Aldahan, BS, Vidhi V. Shah, BA,
Fleta N. Bray, BS, Keyvan Nouri, MD
Department of Dermatology and Cutaneous Surgery, University of Miami Miller
School of Medicine, Miami, FL, US
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
NHỮNG ĐIỂM CHÍNH
• Tiêm chất làm đầy là thủ thuật xâm lấn tối thiểu được thực hiện nhanh,
có thể điều trị tại phòng khám để làm giảm đáng kể nếp nhăn, nếp gấp
da và vùng mất mô để che đi các dấu hiệu lão hóa.
• Chất làm đầy có dạng tạm thời và vĩnh viễn.
• Hyaluronic acid là chất làm đầy tạm thời phổ biến nhất có thể tiêm tan
nên ít gây hậu quả xấu hơn các loại khác.
• Chất làm đầy vĩnh viễn không được sử dụng phổ biến, nếu lựa chọn
những loại chất làm đầy này cần hiểu rằng chỉ có thể can thiệp phẫu
thuật để sửa các kết quả không mong muốn.
GIỚI THIỆU
Có nhiều loại chất làm đầy có sẵn được sử dụng trong việc chống lại
tác động của lão hóa. Theo thời gian có sự mất khối lượng mô ở mặt do thay
đổi của lớp mỡ bên dưới, cấu trúc collagen nâng đỡ và xương. Chất làm đầy
có thể được sử dụng để thay thế việc mất thể tích mô và làm đầy nếp nhăn.
Có hai loại chất làm đầy: tạm thời và vĩnh viễn. Chất làm đầy tạm thời bao
gồm các chất phân hủy sinh học được cơ thể hấp thụ. Chất làm đầy vĩnh
viễn không được hấp thụ và chỉ có thể được loại bỏ thông qua phẫu thuật.
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
20
CHẤT LÀM ĐẦY TẠM THỜI
A. Hyaluronic Acid (Juvéderm® và Restylane®)
Phần lớn các chất làm đầy trên thị trường là chất làm đầy tạm thời và
phổ biến nhất là hyaluronic acid. Hyaluronic acid là một hợp chất tự nhiên
có trong da có thể chứa một lượng lớn nước, từ đó duy trì cấu trúc và chức
năng của da. Hyaluronic acid hoạt động như chất làm đầy để thay thế mô bị
mất. Những thương hiệu phổ biến nhất của Hyaluronic acid là Juvéderm®
và Restylane® (xem bảng 1). Phần lớn các chất làm đầy này được nuôi cấy
từ vi khuẩn và sau đó được tinh chế. Vì vậy, nó có ít phản ứng dị ứng. Một
số chất làm đầy Hyaluronic acid cũ như Hylaform® được làm từ mào gà
trống, vì vậy nếu dùng những sản phẩm này cần cho bác sĩ biết nếu bạn bị
dị ứng với gà hoặc trứng.
B. Canxi hydroxylapatite (Radiesse®)
Canxi hydroxylapatite là một chất làm đầy tạm thời khác. Hợp chất
này đã được sử dụng trong lĩnh vực y học với nhiều ứng dụng trong hơn 20
năm qua. Sản phẩm thương mại nổi tiếng duy nhất trên thị trường cho chất
làm đầy này là Radiesse®, sử dụng các khối canxi hydroxylapatite trong
một loại gel để điều trị nếp nhăn trên khuôn mặt từ trung bình đến nặng và
mặt mất mô mỡ. Hợp chất này cũng đặc biệt hiệu quả khi được dùng trên
bàn tay. Không giống như axit hyaluronic, canxi hydroxylapatite làm tăng
sản xuất collagen để lấp đầy khiếm khuyết và sau đó tự phân huỷ. Hiệu quả
có thể kéo dài đến một năm.
C. Poly-L-Lactic Acid (Sculptra®)
Poly-L-Lactic Acid (PLLA) là chất làm đầy tạm thời có khả năng phân
hủy sinh học. Không giống như các chất làm đầy tạm thời khác, PLLA hoạt
động bằng cách tạo điều kiện để các nguyên bào sợi sản xuất collagen mới.
Trung bình, ba lượt điều trị trong một vài tháng là cần thiết để có kết quả tốt
nhất. Kết quả từ PLLA không phải là ngay lập tức và có sự khác nhau. Kết
quả sẽ xảy ra từ từ và có thể kéo dài hơn hai năm. Hiện tại PLLA được chấp
thuận để điều trị giảm mỡ vùng mặt ở bệnh nhân HIV ở các khu vực như
thái dương.
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
21
Hyaluronic
acid
- Không gây dị ứng
- FDA chấp thuận cho nếp gấp
mũi má nhưng được sử dụng hiệu
quả ở nhiều vị trí khác
- Kết quả ngay lập tức
- Có thể được loại bỏ bằng
Hyaluronidase (enzyme)
- Cần tái điều trị mỗi 6 tháng
để duy trì
Calcium
hydroxylapatite
- Hiệu quả kéo dài hơn Hyaluronic
acid,có thể đến 12 tháng
- Không dễ dàng loại bỏ, cần
phẫu thuật cắt bỏ hoặc chờ 12
tháng để cơ thể tái hấp thu
- Nguy cơ hình thành nốt sần
không đồng đều, phổ biến nhất
ở môi
Poly-L-Lactic
Acid
- Chất làm đầy tạm thời lâu nhất,
giữ được trong vòng 24 tháng
- Không thể loại bỏ
- Có thể gây sẹo ở những bệnh
nhân dễ bị sẹo
- Kết quả từ từ
- Cần khoảng ba lượt điều trị
để hiệu quả
Bảng 1. Các chất làm đầy tạm thời
D. Các chất làm đầy tạm thời khác bên ngoài nước Mỹ
Có thể gặp một số chất làm đầy cũ hơn thực hiện tiêm chất làm đầy
bên ngoài Hoa Kỳ (Các sản phẩm này bao gồm: Collagen bò (Zyderm I,
Zyderm II và Zyplast) và các sản phẩm collagen của con người
(CosmoDerm I, CosmoDerm II và CosmoPlast )). Những sản phẩm này đã
bị ngừng sản xuất vào năm 2009 ở Mỹ, vì vậy không có khả năng gặp phải
chúng. Tuy nhiên, nếu quyết định sử dụng collagen bò, cần phải test trên da
trước khi tiêm vì có 3% khả năng gặp phản ứng quá mẫn cấp tính.
CÁC VỊ TRÍ CÓ THỂ ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ
BẰNG CHẤT LÀM ĐẦY TẠM THỜI
Chất làm đầy tạm thời có thể được sử dụng để điều trị mất thể tích và
làm mờ nếp nhăn ở nhiều vị trí trên khuôn mặt. Những vị trí này bao gồm:
nếp nhăn trán, nếp glabellar (đường dọc giữa lông mày), đuôi mắt, má, nếp
mắt mũi, nếp mũi má, môi, cằm nhăn hoặc cằm lẹm, và những nơi khác.
Những thay đổi ở các khu vực này có thể làm mờ nếp nhăn, nếp gấp và các
dấu hiệu lão hóa khác (xem Hình 1).
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
22
Hình 1. Kết hợp Resteylene® Filler và Botox® Treatment cho Crows feet.
(A) Trước (B) Sau khi điều trị
HYALURONIC ACID VÀ BOTULIN TOXIN A
Phương pháp mới dùng chất làm đầy hyaluronic acid kết hợp botox để
điều trị các khu vực cử động nhiều như vùng glabellar. Hơn nữa, chất làm
đầy có thể được kết hợp với botox để điều trị khu vực khó như nếp chân
chim sâu (xem Hình 2). Với phương pháp này, chất làm đầy đã được chứng
minh là tồn tại lâu hơn ở những khu vực này (xem chương về botox® để
biết thêm thông tin) [1].
Hình 2. Polymethyl methacrylate cho nếp nhăn dưới mắt (A) Trước (B) sau 3 tháng.
CHẤT LÀM ĐẦY LÂU DÀI
A. Polymethylmethacrylate microspheres (ArteFill®)
Chất làm đầy này bao gồm các hạt nhỏ (microspheres) trong một loại
gel có chứa collagen bò và lidocaine (thuốc gây tê). ArteFill® là chất làm
đầy lâu dài duy nhất được FDA chấp thuận và được sử dụng để làm đầy các
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
23
khiếm khuyết trên khuôn mặt và sẹo mụn. Ban đầu collagen bò lấp đầy
khiếm khuyết thể tích, theo thời gian các microspheres sẽ kích thích sự hình
thành collagen mới. Kết quả sẽ được thấy từ từ, kết quả tốt nhất xuất hiện
từ 3 đến 12 tháng sau khi điều trị [2].
B. Chất làm đầy lâu dài khác bên ngoài nước Mỹ
Polyarylamide hydrogel (Aquamid®) chứa một loại polymer trộn với
nước, và cũng có trong một công thức dày hơn (Aquamid® Reconstruction).
Nó hoạt động bằng cách làm đầy thể tích và tích hợp vào các mô mềm. Chất
làm đầy này chỉ nên được sử dụng ở lớp da sâu và không dùng cho nếp nhăn
nông. Polyalkylimide hydrogel (Bio-Alcamid®) có cấu trúc hóa học và tác
dụng phụ tương tự như polyarylamide hydrogel. Nó chủ yếu được sử dụng
để điều trị mất mỡ ở mặt liên quan trên bệnh nhân HIV. Silicone tiêm dạng
lỏng là một sản phẩm gây tranh cãi và không được phê duyệt là chất làm
đầy trong thẩm mỹ tại Mỹ.
TAI BIẾN THƯỜNG GẶP CỦA CHẤT LÀM ĐẦY
Với hầu hết các chất làm đầy, bao gồm Hyaluronic acid, các tác dụng
phụ phổ biến có thể gặp phải bao gồm: bầm tím, sưng và đỏ gần vị trí tiêm.
Sưng có thể được xử lý bằng áp đá lạnh tại chỗ. Ít gặp hơn, da có thể hoại
tử nếu các mạch máu đến nuôi da bị chặn. Nếu bị đau nhiều hoặc da đổi màu
tím ngay sau khi làm thủ thuật, hãy thông báo cho bác sĩ vì đây có thể là
những dấu hiệu có thể gây chết mô.
Chất làm đầy tạm thời có thể làm đỏ, sưng, bầm tím, đau hoặc ngứa.
Tiêm canxi hydroxylaptite có thể dẫn đến các nốt sần không viêm với tỷ lệ
khoảng 6%, đặc biệt khi tiêm vùng môi [3].
Chất làm đầy lâu dài có thể gây sưng thoáng qua tại chỗ tiêm, bầm tím,
khó chịu và đỏ. Những triệu chứng này thường tự khỏi theo thời gian. Nốt
sần cũng có thể hình thành tại vị trí tiêm nếu chất làm đầy được đặt quá nông
trên bề mặt trong da. Các nốt từ chất làm đầy tạm thời thường tự khỏi, nhưng
các nốt từ chất làm đầy lâu dài không giải quyết được. Nếu có tiền sử sẹo
lồi hoặc sẹo phì đại, nên tránh sử dụng các sản phẩm này vì chúng có thể
làm sẹo xấu đi. Điều quan trọng, cần test trên da trước khi sử dụng collagen
bò vì một số người có phản ứng dị ứng với collagen bò.
CÂN NHẮC TRƯỚC KHI DÙNG CHẤT LÀM ĐẦY LÂU DÀI
Nhiều kết quả thẩm mỹ có thể đạt được bằng cách sử dụng chất làm
đầy tạm thời mà không cần chất làm đầy lâu dài. Bất kỳ tai biến nào xảy ra
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
24
với chất làm đầy tạm thời có thể được đảo ngược hoặc có thể tự giải quyết
theo thời gian. Những thay đổi trên khuôn mặt sẽ xảy ra theo tuổi tác và sở
thích cá nhân trong thẩm mỹ cũng có thể thay đổi. Vì vậy có thể sử dụng
chất làm đầy tạm thời để điều chỉnh những thay đổi trên mặt khi có tuổi.
Hơn nữa, nếu từng có trải nghiệm không hài lòng với điều trị thẩm mỹ hoặc
chưa quen với chất làm đầy, tốt nhất nên bắt đầu với chất làm đầy tạm thời
để xem có thích hợp với sự thay đổi hay không.
CHUẨN BỊ CHO NGÀY ĐIỀU TRỊ
Trước khi tiêm chất làm đầy, nên tránh dùng thuốc kháng viêm không
steroid (NSAID), như ibuprofen. Ngoài ra, nên ngừng aspirin, vitamin E và
không uống quá nhiều rượu trong 1 tuần trước khi điều trị bằng chất làm
đầy [4]. Luôn tham khảo ý kiến bác sĩ đang theo dõi sức khoẻ chính trước
khi ngừng các biện pháp ngăn ngừa cục máu đông hoặc giảm nguy cơ đau
tim.
Bác sĩ có thể dùng thuốc gây tê tại chỗ cho khu vực điều trị trước khi
làm thủ thuật tiêm chất làm đầy. Ngoài ra, thuốc gây tê cục bộ như lidocaine
có thể được trộn với chất làm đầy. Một số chất làm đầy Hyaluronic acid có
bán trên thị trường như Juvéderm® Ultra XC và Juvéderm® Ultra Plus XC,
được trộn sẵn với lidocaine. Bác sĩ cũng có thể sử dụng kim nhỏ hoặc tiêm
chậm hơn để giảm đau.
CHĂM SÓC SAU TIÊM CHẤT LÀM ĐẦY
Nên hạn chế massage khu vực tiêm hoặc thực hiện các cử động khuôn
mặt quá mức [5]. Ngoài ra, tránh tập luyện nặng ít nhất 6 giờ sau khi điều
trị. Ngủ với đầu đặt cao, có thể được thực hiện bằng cách đặt 2-3 gối dưới
đầu [6]. Tất cả các hoạt động này sẽ làm giảm nguy cơ chất làm đầy di
chuyển đến các khu vực không mong muốn. Sau một ngày có thể tiếp tục
các hoạt động bình thường.
KẾT LUẬN
Tiêm chất làm đầy là một phương pháp xâm lấn tối thiểu để điều trị
các dấu hiệu lão hóa bằng cách làm đầy các khiếm khuyết trên da, mang lại
bề ngoài tươi trẻ hơn. Các thủ thuật này có thể được thực hiện tại phòng
khám trong một khoảng thời gian ngắn và cho phép trở lại hoạt động bình
thường trong vòng 24 giờ. Có rất nhiều loại chất làm đầy trên thị trường,
phần lớn trong số đó là chất làm đầy tạm thời bao gồm nhiều dạng
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
25
hyaluronic acid khác nhau. Ngoài ra còn có một vài chất làm đầy lâu dài và
làm đầy vĩnh viễn.
KHUYẾN NGHỊ
• Chọn bác sĩ đáng tin. Kết quả thành công với chất làm đầy đòi hỏi bác
sĩ phải có kỹ năng và kỹ thuật tốt, là chuyên gia được chứng nhận trong
lĩnh vực thẩm mỹ.
• Nếu chưa bao giờ tiêm chất làm đầy, hãy bắt đầu với chất làm đầy tạm
thời và đánh giá sự yêu thích kết quả điều trị trước khi chọn giải pháp
lâu dài hơn.
• Tránh tiêm chất làm đầy trong khu vực nguy hiểm. Tiêm chất làm đầy
ở một số vị trí như bộ phận sinh dục có nhiều rủi ro trong khi lợi ích
chưa được chứng minh.
• Làm đầy các vị trí có hiệu quả, ít rủi ro bao gồm vùng đầu, cổ và mu
bàn tay.
• Mỗi người có nhu cầu riêng. Việc lựa chọn chất làm đầy phụ thuộc
vào vị trí điều trị và độ sâu mất thể tích. Thảo luận nhu cầu cá nhân
với bác sĩ để cùng nhau để chọn ra phương pháp điều trị phù hợp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Carruthers, J., and A. Carruthers. 2003. “A prospective, randomized, parallel
group study analyzing the effect of BTX-A (Botox) and nonanimal sourced
hyaluronic acid (NASHA, Restylane) in combination compared with NASHA
(Restylane) alone in severe glabellar rhytides in adult female subjects: treatment
of severe glabellar rhytides with a hyaluronic acid derivative compared with the
derivative and BTX-A.” Dermatol Surg 29 (8):802-9.
2. Cohen, S. R., C. F. Berner, M. Busso, M. C. Gleason, D. Hamilton, R. E.
Holmes, J. J. Romano, P. P. Rullan, M. P. Thaler, Z. Ubogy, and T. R. V
ecchione. 2006. “ArteFill: a long-lasting injectable wrinkle filler material--
summary of the US Food and Drug Administration trials and a progress report
on 4- to 5-year outcomes.” Plast Reconstr Surg 118 (3 Suppl.):64S-76S. doi:
10.1097/01.prs.0000234873.00905.a4.
3. Tzikas, T. L. 2008. “A 52-month summary of results using calcium
hydroxylapatite for facial soft tissue augmentation.” Dermatol Surg 34 Suppl.
1:S9-15. doi: 10.1111/j.1524-4725.2008.34237.x.
4. Cohen, J. L. 2008. “Understanding, avoiding, and managing dermal filler
complications.” Dermatol Surg 34 Suppl. 1:S92-9. doi: 10.1111/j. 1524-
4725.2008.34249.x.
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
26
5. Lemperle, G., P. P. Rullan, and N. Gauthier-Hazan. 2006. “Avoiding and
treating dermal filler complications.” Plast Reconstr Surg 118 (3 Suppl.):92S-
107S. doi: 10.1097/01.prs.0000234672.69287.77.
6. Matarasso, S. L., J. D. Carruthers, M. L. Jewell, and Group Restylane
Consensus. 2006. “Consensus recommendations for soft-tissue augmentation
with nonanimal stabilized hyaluronic acid (Restylane).” Plast Reconstr Surg 117
(3
Suppl.):3S-34S;
discussion
35S-43S.
doi:
10.
1097/01.prs.0000204759.76865.39.
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
27
Chương 5
LỘT DA BẰNG HOÁ CHẤT
(CHEMICAL PEELS)
Tác giả: Fleta N. Bray, BS, Adam S. Aldahan, BS, Stephanie Mlacker, BS,
Keyvan Nouri, MD
University of Miami Miller School of Medicine, Department of Dermatology and
Cutaneous Surgery, Miami, FL, US
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
NHỮNG ĐIỂM CHÍNH
• Lột da bằng hóa chất chủ yếu được sử dụng để điều trị da bị tổn thương
do ánh sáng. Lột da là tạo ra tổn thương da có kiểm soát để da tự sửa
chữa lại, da trở nên đều màu, trẻ trung hơn.
• Lột da có thể được phân loại lột bề mặt, trung bình hoặc sâu, tùy thuộc
mức độ tác động vào từng độ sâu da. Lột sâu hơn thường dẫn đến cải
thiện da lớn hơn, tuy nhiên thời gian phục hồi kéo dài và nguy cơ biến
chứng tăng lên. Bác sĩ sẽ quyết định độ sâu và loại lột phù hợp nhất
với làn da và nhu cầu riêng của bệnh nhân.
• Lột bề mặt loại bỏ tất cả hoặc một phần của lớp biểu bì và có thể loại
bỏ một phần lớp bì nông.
• Lột bề mặt có hiệu quả trong điều trị da không đều màu, đốm nâu và
mụn trứng cá, ít hiệu quả trong điều trị nếp nhăn.
• Lột bề mặt có thời gian phục hồi nhanh nhất và nguy cơ biến chứng
thấp nhất.
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
28
• Lột trung bình loại bỏ tất cả các lớp biểu bì và một phần của lớp bì,
hiệu quả trong điều trị tổn thương da do ánh sáng, sẹo mụn nhẹ, dày
sừng ánh sáng và thay đổi màu da.
• Lột trung bình có hiệu quả nhiều hơn lột bề mặt. Da tiếp tục cải thiện
bề ngoài trong 3-4 tháng sau khi lột do collagen trong da được tái tạo.
• Lột sâu loại bỏ tất cả các lớp biểu bì và một phần của lớp bì, sâu hơn
vào da so với lột trung bình. Lột sâu có khả năng lớn nhất để cải thiện
bề ngoài của da, nhưng có thời gian phục hồi chậm nhất và nguy cơ
biến chứng lớn nhất.
GIỚI THIỆU
Lột da hóa chất cải thiện làn da thô ráp, không đều màu và nếp nhăn
là các vấn đề phổ biến của tổn thương da do ánh sáng. Lột da hóa chất cũng
có thể được sử dụng để điều trị tổn thương da như sẹo mụn và chấn thương.
Lột da hóa chất hoạt động bằng cách gây tổn thương da có kiểm soát để da
tự phục hồi lại sự trẻ trung và săn chắc. Lột da có thể được phân loại thành
các loại lột bề mặt, trung bình và sâu, tùy thuộc mức độ tác động vào từng
độ sâu da. Khi chọn lột sâu hơn, mức độ cải thiện da thường lớn hơn, tuy
nhiên, thời gian phục hồi sẽ lâu hơn và nguy cơ biến chứng tăng lên. Bác sĩ
sẽ quyết định loại và độ sâu của lột phù hợp nhất với làn da và nhu cầu riêng
của bệnh nhân.
LỘT BỀ MẶT NÔNG
Lột bề mặt loại bỏ tất cả hoặc một phần của lớp biểu bì và có thể kéo
dài một phần vào lớp bì, đến lớp bì nhú trên [1]. Lột da bề mặt rất hiệu quả
để điều trị các thay đổi sắc tố bề mặt da, đốm nâu và mụn trứng cá. Lột bề
mặt nông ít hiệu quả đối với nếp nhăn và cần nhiều lần điều trị để đạt hiệu
quả [1]. Các hóa chất lột bề mặt nông có sẵn bao gồm axit glycolic, axit
salicylic, axit α-hydroxy (AHA), axit trichloroacetic nồng độ thấp (TCA),
tretinoin, dung dịch Jessner [2]. Ở nồng độ cao hơn, những hóa chất này có
thể được sử dụng để lột trung bình.
Khi thực hiện lột bề mặt nông hoặc trung bình trong phòng khám ngoại
trú, bác sĩ sẽ làm sạch da bằng sữa rửa mặt và loại bỏ chất nhờn thừa bằng
dung dịch cồn / acetone. Bác sĩ sẽ bôi dung dịch lột 1 hoặc 2 lớp (Hình 1).
Xuất hiện một lớp màng trắng mờ trên bề mặt của khuôn mặt, điều này cho
thấy dung dịch lột đã có tác dụng. Trong thời gian này, bệnh nhân có thể bị
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
29
châm chích và cảm giác bỏng nhẹ. Sau đó, bệnh nhân có thể dùng nước mát
hoặc kem dưỡng ẩm nhẹ để làm cho cảm giác trên da tốt hơn. Da trở nên đỏ
và căng, sau đó da sẽ bong ra [1]. Thời gian phục hồi và tác dụng của thủ
thuật lột sẽ phụ thuộc vào loại và nồng độ của dung dịch lột. Bác sĩ có thể
chỉ định thêm điều trị hỗ trợ như kem hydroquinone sau khi lột da. Kem
hydroquinone có thể làm giảm tình trạng tăng sắc tố không mong muốn sau
khi lột da bằng hóa chất. Sử dụng retinoid trước khi lột da hóa chất có thể
làm tăng tác dụng của lột, vì vậy nên trao đổi với bác sĩ và làm theo hướng
dẫn một cách cẩn thận nếu muốn sử dụng retinoid kết hợp với lột. Quan
trọng nhất, hãy nhớ luôn luôn sử dụng các biện pháp chống nắng.
Hiệu quả của nhiều lần lột bề mặt nông sẽ không bao giờ đạt được mức
hiệu quả giống như một lần lột trung bình hoặc sâu [2]. Tuy nhiên, lột bề
mặt nông có thể phù hợp với các cá nhân chỉ cần hiệu quả khiêm tốn, tiện
lợi do sử dụng dễ dàng, rủi ro thấp, ít thời gian nghỉ và chi phí thấp hơn.
LỘT DA TRUNG BÌNH
Lột da trung bình loại bỏ lớp biểu bì và một phần lớp bì, gây tổn
thương tới lớp bì nhú trên [1]. Lột da trung bình thường đạt được bằng sự
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
30
phối hợp một số các chất lột (Hình 2). Các công thức phối hợp các thành
phần điển hình như dung dịch Jessner và TCA (thường được sử dụng nhất),
axit glycolic và TCA, và CO2 rắn và TCA (mạnh nhất) [2]. Nồng độ TCA
cao hơn hoặc một hợp chất gọi là phenol cũng có thể được sử dụng để lột
trung bình, tuy nhiên một số bác sĩ da liễu không khuyến nghị các phương
pháp này vì nồng độ TCA cao hơn có thể gây mất sắc tố hoặc sẹo và phenol
không được sử dụng phổ biến [1, 2].
Những lý do phổ biến để sử dụng lột da trung bình bao gồm tổn thương
da do ánh sáng, sẹo mụn nhẹ, dày sừng ánh sáng và thay đổi sắc tố [2]. Nên
gặp bác sĩ trước khi thực hiện lột trung bình hoặc sâu để thảo luận trước về
tiên lượng điều trị, trong và sau khi làm thủ thuật, thảo luận với bác sĩ về
phương pháp giảm đau khi làm thủ thuật và liệu có cần dung thêm thuốc an
thần hay không. Giống như lột bề mặt nông, bác sĩ có thể đề nghị điều trị
kết hợp với retinoid và kem làm trắng da cũng như các biện pháp chống
nắng. Sau khi lột da, chờ làn da cải thiện trong khoảng 3-4 tháng sau thực
hiện khi collagen trong da tiếp tục được tái cấu trúc [2].
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
31
LỘT SÂU
Lột sâu loại bỏ lớp biểu bì và sâu trong lớp bì, gây tổn thương ở lớp bì
giữa [1]. Lột bằng Baker-Gordon phenol là phương pháp chính để đạt được
lột sâu [2]. Mặc dù có thể đạt được lột sâu bằng cách sử dụng TCA nồng độ
cao, nhưng điều này không được khuyến khích do khả năng mất sắc tố và
sẹo (Hình 3). Lột sâu có khả năng thay đổi đáng kể bề mặt của da, bao gồm
nếp nhăn sâu (Hình 4), nhưng đi kèm với rủi ro nhiều và thường là lựa chọn
điều trị cuối cùng cho các tổn thương da nghiêm trọng. Ngoài các nguy cơ
gây sẹo và rối loạn sắc tố tại chỗ, hợp chất phenol còn gây độc cho gan, thận
và tim [1]. Bác sĩ sẽ yêu cầu xét nghiệm máu trước khi làm thủ thuật để đảm
bảo các cơ quan quan trọng của cơ thể hoạt động tốt và chịu đựng được quy
trình. Lột phenol sâu cần phong bế thần kinh cục bộ và an thần sâu hoặc gây
mê toàn thân. Bác sĩ sẽ xem xét những rủi ro của gây mê, không phải bệnh
nhân nào cũng phù hợp để thực hiện.
Vào buổi thực hiện, bệnh nhân rửa mặt và tẩy trang, không ăn sáng.
Sau khi được gây mê, quá trình lột sâu bắt đầu. Quá trình lột mất từ 60 đến
90 phút [2]. Sau khi lột sâu, bệnh nhân có thể sử dụng túi nước đá để có cảm
giác dễ chịu, vì sự cảm giác bỏng khó chịu có thể kéo dài 6-8 giờ. Bác sĩ có
thể kê toa thêm thuốc giảm đau. Mặc dù lột sâu có khả năng lớn nhất để cải
thiện làn da về lâu dài, nhưng trong vài tháng sau khi thực hiện có thể bị đỏ
da kéo dài hoặc giảm sắc tố dạng đốm.
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
32
VỊ TRÍ VÀ LOẠI DA
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
33
Lột hóa chất thường được thực hiện ở vùng đầu và cổ [2]. Lột vùng
bàn tay và cánh tay khó dự đoán hiệu quả và không được thực hiện phổ biến.
Điều quan trọng là loại da ảnh hưởng đến kết quả của lột da hoá chất. Nhiều
bác sĩ không thực hiện lột da trung bình hoặc sâu trên những người có màu
da trung bình hoặc tối màu vì tăng nguy cơ tai biến khi lột hoá chất [2]. Da
thường bị giảm sắc tố hoặc tăng sắc tố.
AI KHÔNG NÊN LỘT DA HÓA CHẤT
Phải có những tiên lượng cụ thể khi thực hiện quy trình, nếu không
khách hàng có thể bị thất vọng nếu kỳ vọng không được đáp ứng hoặc phát
sinh các biến chứng. Cần thông báo cho bác sĩ về các loại thuốc đang dùng
và các can thiệp y tế khác. Một số loại thuốc, như isotretinoin cho mụn trứng
cá, có thể làm quá trình lột da hóa chất không an toàn, thông báo cho bác sĩ
về lịch sử lành thương bất thường nếu có. Nếu khách hàng có những vết sẹo
phì đại, sẹo lồi sau chấn thương thì lột da bằng hóa chất không phải là
phương pháp phù hợp. Nếu khách hàng đã từng lột da hóa chất trong quá
khứ, hãy cho bác sĩ biết loại lột và thời điểm thực hiện trước đó. Lột da hóa
chất không nên được lặp lại quá sớm.
KẾT LUẬN
Lột da hóa chất, khi được áp dụng một cách thích hợp người thực hiện
có kiến thức, có thể là một phương tiện an toàn và hiệu quả để đạt được sự
tái tạo bề mặt da. Điều quan trọng khi lột da hóa chất là cần sử dụng kem
chống nắng và các biện pháp chống nắng khác, luôn bảo vệ làn da của mình.
Trao đổi với bác sĩ để xác định phương pháp lột da hóa chất có phù hợp với
bản thân hay không nếu muốn thực hiện.
KHUYẾN NGHỊ
• Lột da hóa chất chủ yếu được sử dụng trên mặt và cổ. Lột da vùng mặt
có thể có nguy cơ sẹo và rối loạn sắc tố cao hơn.
• Sử dụng kem chống nắng sau khi lột hóa chất, vì lúc này da đặc biệt
dễ bị tổn thương.
• Có thể dùng lột da bề mặt để điều trị da không đều màu, đốm nâu và
mụn trứng cá.
• Có thể dùng lột da bề mặt cho những bệnh nhân muốn phục hồi nhanh
và ít nguy cơ biến chứng nhất.
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
34
• Sử dụng kem hydroquinone sau lột bề mặt để giúp ngăn ngừa sự thay
đổi sắc tố không mong muốn, đặc biệt là ở những người da sẫm màu.
• Có thể dùng lột da trung bình để điều trị tổn thương da do ánh sáng,
sẹo mụn nhẹ, dày sừng ánh sáng và thay đổi sắc tố.
• Không sử dụng nồng độ cao TCA hoặc phenol để lột trung bình, vì có
thể gây mất sắc tố hoặc sẹo.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tanzi, EL, and TS Alster. 2012. “Ablative Lasers, Chemical Peels, and
Dermabrasion.” In: Fitzpatrick’s Dermatology in General Medicine, edited by
LA Goldsmith, SI Katz, BA Gilchrest, AS Paller, DJ Leffell and K Wolff.
McGraw-Hill.
2. Monheit, GD, and MA Chastain. 2012. “Chemical and Mechanical Skin
Resurfacing.” In: Dermatology, edited by JL Bolognia, JL Jorizzo and JV
Schaffer. New York: Elsevier.
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
35
Chương 6
MÀI MÒN DA
(DERMABRASION)
Tác giả: Mohammed Alsaidan, MD, Sanjana Iyengar, MD, Vidhi V.
Shah, BA, Fleta N. Bray, BS, Keyvan Nouri , MD
University of Miami Miller School of Medicine, Department of Dermatology and
Cutaneous Surgery, Miami, FL, US
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
NHỮNG ĐIỂM CHÍNH
• Mài mòn da là một thủ thuật có thể làm ở phòng khám, được sử dụng
để thay đổi bề mặt da và thúc đẩy sự phát triển của làn da mới.
• Siêu mài mòn da phù hợp cho bệnh nhân muốn cải thiện thẩm mỹ về
tông màu và kết cấu của da lão hoá nhẹ.
• Mài mòn da và siêu mài mòn da là các thủ thuật hiệu quả trong thẩm
mỹ để cải thiện các nếp nhăn, sẹo, sẹo lồi, mảnh da ghép, xăm, mụn
và da bị tổn thương do ánh sáng mặt trời.
GIỚI THIỆU
Mài mòn da là một thủ thuật được sử dụng để thay đổi bề mặt da và
thúc đẩy sự phát triển của làn da mới [1]. Thủ thuật này đã được thực hiện
trong nhiều năm để tái tạo bề mặt da và cải thiện bề mặt của các vết sẹo.
Mặc dù sự phổ biến của kỹ thuật này đã giảm đi với sự ra đời của lột da hóa
chất, siêu mài mòn da và tái tạo bề mặt bằng laser, mài mòn da vẫn giữ được
một số lợi ích so với các quy trình khác [2, 3]. Điều trị nếp nhăn sâu và ngăn
ngừa tổn thương tiền ung thư có thể hiệu quả hơn khi sử dụng phương pháp
mài mòn da so với các kỹ thuật khác [4].
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
36
TÌM HIỂU VỀ MÀI MÒN DA
Da được chia thành ba lớp: lớp biểu bì và lớp bì và lớp hạ bì. Lớp biểu
bì là lớp da bề mặt, bao gồm nhiều lớp tế bào da (được gọi là tế bào sừng)
liên tục tái tạo. Lớp bì được chia thành 2 lớp: lớp bì nhú và lớp bì lưới. Lớp
bì lưới là lớp sâu hơn của lớp bì và bao gồm collagen giàu protein, cung cấp
cho da độ đàn hồi và sức căng [1].
Siêu mài mòn da nhắm vào lớp biểu bì bề mặt, trong khi mài mòn da
nhắm vào cả lớp biểu bì và lớp bì [3, 4]. Tổn thương có kiểm soát của lớp
bì dẫn đến sự kích thích của một số tế bào trong lớp bì, được gọi là nguyên
bào sợi. Các nguyên bào sợi bắt đầu quá trình chữa lành bằng cách sản sinh
collagen, giúp cải thiện bề mặt của da [1, 4].
Da mặt có nguồn cung cấp máu phong phú, các chất dinh dưỡng và
oxy để chữa lành các khu vực bị tổn thương. Các tuyến bã nhờn và nang
lông cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phục hồi lớp bì. Trong quá
trình thủ thuật, có thể chảy một lượng máu nhỏ do tổn thương vào lớp bì [1].
Kết quả cải thiện sẽ nhiều hơn nếu thâm nhập sâu hơn vào lớp bì, nhưng
nguy cơ tác dụng phụ cũng sẽ tăng lên, như sẹo và thay đổi sắc tố [1].
LỊCH SỬ MÀI MÒN DA
Mài mòn da có thể được bắt nguồn từ năm 1500 trước Công nguyên
khi các bác sĩ Ai Cập sử dụng giấy nhám để làm mờ sẹo [4]. Kromeyer, một
bác sĩ da liễu người Đức vào những năm 1900, đã bắt đầu điều trị các vấn
đề về da bằng một mũi xoay hoặc mâm quay [3, 4]. Việc sử dụng mài mòn
da được mở rộng để xóa hình xăm chấn thương trên mặt vào năm 1947 [5].
Năm 1953, thiết bị nha khoa chạy điện đã được sửa đổi để sử dụng trong
mài mòn da [6]. Sẹo mụn, tổn thương da tiền ung thư, nếp nhăn, sẹo, hình
xăm và nốt ruồi được điều trị bằng thiết bị này trong cùng năm [2].
Trong hơn 60 năm qua, các dụng cụ và kỹ thuật được sử dụng cho
dermabrasion đã được tối ưu hóa để tạo ra kết quả tốt nhất.
DERMABRADERS
Dermabraders là thiết bị được sử dụng để tái tạo bề mặt da, bao gồm
một động cơ điện, quay với tốc độ khác nhau. Phần đầu thô, có thể là bàn
chải dây hoặc đầu kim cương, có nhiều kích cỡ và hình dạng khác nhau. Bác
sĩ hoặc phẫu thuật viên chọn công cụ dựa trên diện tích và độ sâu thâm nhập
[3]. Trong suốt quá trình, dermabrader được nhẹ nhàng chạm lên da khi nó
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
37
đang chuyển động. Kết quả có thể được nhìn thấy tùy thuộc vào tốc độ và
lực áp được sử dụng [3]. Trong khi dermabraders thường được sử dụng cho
thủ thuật này, việc sử dụng giấy cát tiệt trùng cũng có thể mang lại kết quả
tốt. Bất kể công cụ nào được sử dụng, kỹ thuật phù hợp với người vận hành
có kinh nghiệm là rất quan trọng.
CHỈ ĐỊNH
Mài mòn da có nhiều chỉ định cho da. Nó có thể được sử dụng để điều
trị nếp nhăn, sẹo, sẹo lồi, mảnh da ghép, hình xăm, mụn trứng cá và da bị
tổn thương do ánh sáng mặt trời [2, 3, 7]. Tổn thương tiền ác tính và tổn
thương ác tính bề mặt có thể được điều trị bằng dermabrasion trong một số
trường hợp. Ung thư biểu mô tế bào đáy và tế bào vảy đã được điều trị thành
công bằng kỹ thuật tái tạo bề mặt da, việc sử dụng dermabrasion nên được
thận trọng vì nó ngăn cản sự phân độ chính xác của khối u [3].
CHUẨN BỊ TRƯỚC THỦ THUẬT
Trước khi bắt đầu thủ thuật, bác sĩ sẽ khám và lấy thông tin tiền sử về
da. Hạn chế của thủ thuật nên được thảo luận để bệnh nhân có những kỳ
vọng thực tế. Ví dụ, dermabrasion phù hợp hơn cho các nếp nhăn nhỏ và có
thể không hiệu quả trong việc điều trị các nếp nhăn sâu với cùng một mức
tác động [3].
Một số vấn đề nên được trao đổi với bác sĩ. Tiền sử sẹo xấu, thiếu máu,
rối loạn chảy máu, bùng phát herpes trước đó, lichen planus và bệnh vẩy
nến nên được thông báo [1, 7]. Việc sử dụng steroid kéo dài và sử dụng
thuốc chống đông máu và thuốc giảm đau như thuốc kháng viêm không
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
38
steroid (NSAID) cũng cần lưu ý [1]. Trước khi làm thủ thuật, nên ngưng
dùng thuốc làm loãng máu và bất kỳ loại thuốc nào gây tăng sắc tố [3]. Dự
phòng bằng thuốc kháng virus khi mài mòn da quanh miệng hoặc toàn mặt.
Ngoài ra, nếu có tiền sử dị ứng hoặc bệnh chốc lở, bệnh nhân có thể được
chỉ định điều trị dự phòng bằng kháng sinh [7]. Nếu có đợt bùng phát herpes
gần đây, nên đợi ít nhất 6 đến 8 tuần trước khi điều trị [1, 7]. Mụn trứng cá
viêm có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng, có thể phải uống kháng sinh
trước khi làm thủ thuật [3]. Isotretinoin, một thuốc uống điều trị toàn thân
cho mụn trứng cá, có thể gây ra sẹo phì đại cho những người được làm thủ
thuật, nên ngưng dùng isotretinoin tối thiểu 6 tháng trước khi làm thủ thuật
[1]. Những người đã được căng da mặt nên trì hoãn việc trị liệu da trong 6
tháng sau khi phẫu thuật [7].
Trong quá trình mài mòn da, các hạt máu nhỏ có thể xuất hiện trong
không khí do cơ chế xoay của đầu mài mòn; do đó, những bệnh nhân có
bệnh truyền qua đường máu như viêm gan C và HIV nên được loại trừ khỏi
quy trình [1]. Thay đổi sắc tố có thể xảy ra sau khi làm thủ thuật ở những
bệnh nhân có loại da sẫm màu [1, 3]. Hydroquinone có thể được chỉ định
trước khi làm thủ thuật để giúp ngăn ngừa tăng sắc tố [3]. Phơi nắng nên
được giảm thiểu trong 2 tháng trước khi làm thủ thuật [1]. Tretinoin có thể
được dùng cho bệnh nhân một vài tuần trước khi làm thủ thuật để thúc đẩy
quá trình lành vết thương.
THỰC HIỆN THỦ THUẬT
Dermabrasion là một thủ thuật được thực hiện tại phòng khám, gây tê
tại chỗ. Gây tê cục bộ hoặc gây mê toàn thân có thể được thực hiện nếu cần
thiết [3]. Ngoài ra, thổi lạnh có thể được sử dụng để làm mát da và ngăn
ngừa tổn thương nhiệt thứ phát [1, 2]. Khu vực mài mòn da được đánh dấu
và chia thành các phần [3]. Trước khi làm thủ thuật, da được khử trùng [1].
Trong suốt quá trình, da bị kéo căng trong khi dermabrader di chuyển
trên da với áp lực không đổi và nhẹ nhàng. Bác sĩ bắt đầu ở khu vực bên
ngoài và đi từ từ vào bên trong để đảm bảo điều trị toàn bộ [1]. Không thấy
chảy máu khi điều trị lớp bề mặt của da, còn được gọi là lớp biểu bì. Một
lượng nhỏ chảy máu được ghi nhận khi đi vào lớp sâu hơn của da, hoặc lớp
bì nhú. Mài mòn da ở lớp sâu của da, hoặc lớp bì lưới, có thể dẫn đến sẹo
đáng kể [3]. Cần thận trọng xung quanh mí mắt, môi và vùng thái dương vì
những vùng này dễ bị sẹo hơn.
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
39
CHĂM SÓC SAU THỦ THUẬT
Sau thủ thuật, gạc ngâm nước muối được áp vào vết thương hở để thúc
đẩy quá trình lành vết thương [3]. Sử dụng thuốc bôi kháng sinh, kem dưỡng
ẩm, băng vết thương và làm sạch vết thương hàng ngày [1]. Phải mất 1 đến
2 tuần để lành thương. Thời gian phục hồi kéo dài 2 đến 4 tuần. Đỏ và sưng
có thể kéo dài 1 đến 2 tháng. Bệnh nhân có thể trở lại làm việc trong vòng
2 tuần. Bệnh nhân nên giảm thiểu phơi nắng và sử dụng kem chống nắng để
tránh tăng sắc tố [3]. Hydroquinone có thể được sử dụng nếu tăng sắc tố xảy
ra [3].
BIẾN CHỨNG
Nếu được thực hiện bởi một bác sĩ có chuyên môn, sẽ có kết quả lâm
sàng tốt với các tác dụng phụ tối thiểu. Thay đổi sắc tố là biến chứng phổ
biến nhất. Sẹo, sẹo lồi, mụn trứng cá [7] và sự hình thành các nang nhỏ màu
trắng, được gọi là milia, có thể được nhìn thấy sau khi mài mòn da [2, 3, 7].
Các vùng xương như gò má và vùng môi trên dễ bị tổn thương sâu hơn [7].
Nếu áp lực không đều trong suốt quá trình, da có thể xuất hiện vệt và đốm
[1]. Các biến chứng sau thủ thuật cũng bao gồm nhiễm trùng do vi khuẩn,
nấm hoặc virus. Những nhiễm trùng này cần được bác sĩ điều trị kịp thời để
tránh sẹo. Steroid tại chỗ hoặc toàn thân có thể được sử dụng để điều trị
bệnh chàm và viêm da do mài mòn da [1].
SIÊU MÀI MÒN DA (MICRODERMABRASION)
Microdermabrasion là một thủ thuật thẩm mỹ ít xâm lấn phổ biến. Thủ
thuật có thể được thực hiện bởi những người không phải bác sĩ tại các spa,
phòng khám thẩm mỹ và phòng khám [3]. Nó có thể được lặp lại trong
khoảng thời gian ngắn với các lần thực hiện kéo dài 30 phút và không cần
thời gian nghỉ ngơi [8]. Microdermabrasion là tốt nhất cho bệnh nhân muốn
cải thiện tông màu và kết cấu của da. Thủ thuật làm giảm sản xuất dầu trên
da, giữ độ ẩm cho da và cải thiện kết cấu của da [1].
Microdermabrasion có thể được sử dụng trong điều trị nếp nhăn, mụn
trứng cá, sẹo mụn, vết rạn da và lỗ chân lông to. Quy trình không xâm lấn
nên hạn chế hiệu quả đối với việc điều trị da khác vì nó chỉ nhắm vào lớp
biểu bì. Do đó, thực hiện thủ thuật nhiều lần là cần thiết để đạt được hiệu
quả thấy rõ [3, 9]. Khoảng hai đến ba lượt điều trị được thực hiện mỗi lần
để đạt được kết quả cần thiết [8, 9].
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
40
Thủ thuật này bao gồm một thiết bị có chùm tinh thể mịn để bào bề
mặt da sau đó hút sạch các mảnh mô vụn [3, 8, 9]. Độ sâu của siêu mài mòn
da phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sự tiếp xúc của da với thiết bị và lực hút
chân không. Các tổn thương lặp đi lặp lại cho da kích thích các tế bào da và
collagen tăng sinh. Điều này làm cải thiện bề mặt của các nếp nhăn [8].
Microdermabrasion có thể gây ra các vết trầy xước nhỏ và sẹo nếu
được thực hiện mạnh bạo. Khánh hàng có thể cảm thấy đau và đỏ với thủ
thuật này. Những biến chứng này được điều trị bằng thuốc kháng viêm
không steroid như Ibuprofen [3]. Microdermabrasion an toàn cho mọi loại
da với tỷ lệ rất thấp bị tăng sắc tố sau viêm. Kích ứng mắt có thể xảy ra trong
các thiết bị dựa trên tinh thể. Di chuyển tay cầm microdermabrasion từ vùng
da bị nhiễm trùng sang vùng da thường có thể truyền một số bệnh do virus,
chẳng hạn như mụn cóc hoặc molluscum contagiosum. Mặc dù hiếm, phát
ban có thể xuất hiện và có thể nghiêm trọng. Các trường hợp không nên điều
trị bằng dermabrasion và microdermabrasion bao gồm những người có tiền
sử xạ trị ở vùng cần điều trị, sẹo phì đại và sử dụng isotretinoin gần đây [1].
KẾT LUẬN
Với người có kinh nghiệm, dermabrasion và microdermabrasion là các
thủ thuật hiệu quả trong thẩm mỹ. Mặc dù sự phổ biến của dermabrasion đã
giảm đi khi các quy trình mới hơn được đưa ra như tái tạo bề mặt da bằng
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
41
laser, nhưng dermabrasion vẫn giữ được một số lợi ích so với các quy trình
này ở những trường hợp nhất định. Tư vấn bởi bác sĩ thẩm mỹ có kinh
nghiệm sẽ hướng dẫn bệnh nhân phương pháp tốt nhất cho từng trường hợp
cá nhân.
KHUYẾN NGHỊ
• Nên trao đổi với bác sĩ về mài mòn da nếu quan tâm đến việc loại bỏ
các nếp nhăn nông.
• Báo cáo tiền sử sẹo lành kém, thiếu máu, rối loạn chảy máu, bùng phát
herpes trước đó, lichen planus và bệnh vẩy nến cũng như sử dụng
steroid, thuốc chống đông máu, thuốc giảm đau như thuốc kháng viêm
không steroid (NSAID) trước khi bắt đầu.
• Bệnh nhân nên giảm thiểu phơi nắng và sử dụng kem chống nắng để
tránh tăng sắc tố sau các thủ thuật trị liệu da.
• Nếu có tiền sử dùng phóng xạ ở vùng cần điều trị, sẹo phì đại hoặc sử
dụng isotretinoin gần đây, nên tránh dùng dermabrasion và
microdermabrasion.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Smith, J. E. 2014. “Dermabrasion.” Facial Plast Surg 30 (1):35-9. doi: 10.1055/s-
0033-1363759.
2. Gold, M. H. 2003. “Dermabrasion in dermatology.” Am J Clin Dermatol 4 (7):467-
71.
3. Kim, E. K., R. V. Hovsepian, P. Mathew, and M. D. Paul. 2011. “Dermabrasion.”
Clin Plast Surg 38 (3):391-5, v-vi. doi: 10.1016/j. cps.2011.05.001.
4. Lawrence, N., S. Mandy, J. Yarborough, and T. Alt. 2000. “History of
dermabrasion.” Dermatol Surg 26 (2):95-101.
5. Iverson, P. C. 1947. “Surgical removal of traumatic tattoos of the face.” Plast
Reconstr Surg (1946) 2 (5): 427-32.
6. Kurtin, A. 1953. “Corrective surgical planing of skin; new technique for treatment
of acne scars and other skin defects.” AMA Arch Derm Syphilol 68 (4):389-97.
7. Campbell, R. M., and C. B. Harmon. 2008. “Dermabrasion in our practice.” J Drugs
Dermatol 7 (2):124-8.
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
42
8. Friedman, S., and J. Lippitz. 2009. “Chemical peels, dermabrasion, and laser
therapy.” Dis Mon 55 (4):223-35. doi: 10.1016/j.disamonth.2008. 12.004.
9. Karimipour, D. J., G. Karimipour, and J. S. Orringer. 2010. “Microdermabrasion: an
evidence-based
review.”
Plast
Reconstr
Surg
125
(1):372-7.
doi:
10.1097/PRS.0b013e3181c2a583.
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
43
Chương 7
KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ LASER
Tác giả: Adam S. Aldahan, BS, Vidhi V. Shah, BA, Stephanie Mlacker,
BS, Sahal Samarkandy, MD, Keyvan Nouri1, MD
Department of Dermatology and Cutaneous Surgery, University of Miami Miller
School of Medicine, Miami, FL, US
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
NHỮNG ĐIỂM CHÍNH
• Laser hoạt động bằng cách khuếch đại và phát ra các chùm ánh sáng
cường độ cao có bước sóng đơn theo hướng đồng nhất.
• Laser cung cấp một giải pháp thay thế cho phẫu thuật loại bỏ các tổn
thương mạch máu cũng như các tình trạng sắc tố của da.
• Laser nhuộm xung (PDL), laser Potassium Titanyl phosphate (KTP)
và Nd:YAG là những phương thức điều trị phổ biến đối với các tổn
thương mạch máu của da.
• Laser Q-switched không xâm lấn và ánh sáng xung mạnh (IPL) được
sử dụng để nhắm mục tiêu là melanin trong các vùng sắc tố.
• Những biến chứng hay gặp của điều trị bằng laser bao gồm thay đổi
màu da và sẹo.
• Những người da sậm màu có nguy cơ cao bị biến chứng sau khi điều
trị bằng laser, như da không đều màu.
• Phương pháp điều trị bằng laser có hiệu quả khác nhau tùy thuộc vào
từng cá nhân và tình trạng da cụ thể được điều trị.
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
44
GIỚI THIỆU
Laser (Light Amplification by Stimulated Emission of Radiation) là từ
viết tắt của ánh sáng khuếch đại bằng phát xạ kích thích. Laser hoạt động
bằng cách khuếch đại và phát ra các chùm ánh sáng cường độ cao có bước
sóng đơn theo hướng đồng nhất. Laser cung cấp năng lượng dưới dạng ánh
sáng đến các vùng mục tiêu trên da qua một quá trình được gọi là quá trình
quang nhiệt chọn lọc [1]. Bước sóng ngắn hoạt động bề mặt da, trong khi
bước sóng dài thâm nhập sâu hơn vào da.
Mục tiêu chính của laser đối với da là các phân tử hấp thụ ánh sáng
còn được gọi là thể nhiễm sắc (chromophores).
Các thể nhiễm sắc chính là melanin, oxyhemoglobin và nước. Melanin
là sắc tố tạo màu cho da và có mặt trong lớp đáy của biểu bì và trong nang
lông. Laser nhắm mục tiêu melanin khi điều trị các tổn thương sắc tố và triệt
lông. Oxyhemoglobin chiếm một phần của các tế bào hồng cầu và là mục
tiêu chính của laser trong điều trị các tổn thương mạch máu. Khi laser tác
động oxyhemoglobin, khu vực xung quanh nó nóng lên và dẫn đến phá hủy
toàn bộ mạch máu.
LASER NHUỘM XUNG (PULSED DYE LASERS)
Laser loại này sử dụng ánh sáng có bước sóng nằm trong khoảng từ
585-600nm. Loại laser này có thể cung cấp năng lượng với một xung ngắn
hoặc một xung dài. Mỗi xung ngắn kéo dài khoảng 0,5 giây, trong khi mỗi
xung dài kéo dài 1,5 giây trở lên.
Các xung ngắn có khoảng thời gian giữa mỗi xung ít hơn và do đó có
năng lượng cực đại cao hơn các xung dài. Xung quá ngắn có thể gây ra nhiều
tác dụng phụ hơn như bầm tím, tuy nhiên xung quá dài có thể không điều trị
hiệu quả một số tổn thương nhất định.
Điều chỉnh thời gian xung đòi hỏi một bác sĩ có kinh nghiệm, biết sự
cân bằng phù hợp giữa việc điều trị có hiệu quả các tổn thương và giảm tác
dụng phụ.
LASER HỒNG NGOẠI (ND: YAG)
Những laser này có bước sóng dài hơn cho phép điều trị các tổn thương
sâu hơn trên da. Loại laser được sử dụng phổ biến nhất trong danh mục này
là Nd: YAG xung dài (1064nm). Vấn đề duy nhất với loại laser này là nó
không thể nhắm chính xác mục tiêu oxyhemoglobin trong mạch máu. Do
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
45
đó, bác sĩ phải sử dụng mức năng lượng cao hơn để điều trị các tổn thương
mạch máu, có thể dẫn đến sẹo.
FREQUENCY-DOUBLED ND:YAG LASERS (KTP)
Laser này cho ánh sáng với bước sóng 532nm, được hấp thụ tốt hơn
bởi các mục tiêu trong các mạch máu như oxyhemoglobin. Loại laser này
không thâm nhập rất sâu vào da và do đó chỉ giới hạn ở các tổn thương mạch
máu bề mặt.
Tia laser này cũng được hấp thụ bởi các sắc tố trong da và có nguy cơ
làm giảm sắc tố. Do đó, nên tránh dùng tia laser này trên da tối màu.
ALEXANDRITE LASERS
Laser Alexandrite có bước sóng 755nm, khiến chúng trở nên lý tưởng
để nhắm mục tiêu deoxyhemoglobin được tìm thấy chủ yếu trong các tĩnh
mạch. Laser Alexandrite được sử dụng để điều trị các mạch máu cỡ trung
bình, trái ngược với PDL chỉ giới hạn ở các mạch máu nông hơn [2]. Bước
sóng tương đối dài cũng cho phép chúng nhắm vào các mạch máu sâu hơn
trong da. Một ưu điểm khác của laser Alexandrite là chúng ít được hấp thụ
hơn bởi melanin, do đó ít gây ra sự thay đổi sắc tố da hơn. Tuy nhiên, laser
Alexandrite có liên quan đến nguy cơ tạo sẹo cao.
Q-SWITCHED LASER
Loại laser này được sử dụng để điều trị trên da theo từng xung ngắn
nên đạt được năng lượng cực đại rất cao. Chúng có thể được sử dụng để
nhắm mục tiêu melanin, thành phần làm da tối màu. Do đó, laser Q-switched
rất hiệu quả trong điều trị các sắc tố da. Chúng cũng được sử dụng rộng rãi
để xóa hình xăm.
Những laser này thường yêu cầu nhiều đợt điều trị để làm sạch tổn
thương.
ÁNH SÁNG XUNG MẠNH
(INTENSE PULSED LIGHT)
Ánh sáng xung mạnh sử dụng ánh sáng có phổ bước sóng rộng, dao
động từ 500-1400nm. Ưu điểm của phương pháp này là khả năng lọc ra các
bước sóng nhất định để nhắm vào các tổn thương cụ thể. Ánh sáng xung
mạnh cũng sử dụng đầu điều trị kích thước lớn, có thể nhanh chóng điều trị
Beautiful Skin- A Dermatologist’s Guide to a Younger Looking You
Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
.
46
các tổn thương với diện tích bề mặt lớn. Tuy nhiên, do năng lượng cao, ánh
sáng xung mạnh có nguy cơ thay đổi sắc tố, phỏng và sẹo cao. Vì những lý
do này, việc làm mát vị trí tiếp xúc là cần thiết để giảm thiểu thiệt hại cho
lớp biểu bì.
KẾT HỢP LASERS
Các loại laser khác nhau có thể được sử dụng kết hợp để tận dụng ưu
thế của các ánh sáng được hấp thụ bởi oxyhemoglobin. Sự kết hợp phổ biến
nhất bao gồm laser PDL (595nm) và laser Nd: YAG (1064nm). Sự kết hợp
này được sử dụng để điều trị các tổn thương kháng với điều trị bằng laser
đơn.
CHUẨN BỊ TRƯỚC THỦ THUẬT
Trao đổi với bác sĩ các loại thuốc dùng, cũng như các tình trạng dị ứng
trước đó. Một số loại thuốc có thể cần phải tạm dừng trước khi làm thủ thuật.
Sử dụng kem chống nắng trên khu vực thực hiện ít nhất 4 tuần trước khi làm
thủ thuật. Nếu thực hiện thủ thuật liên quan đến chân, hãy sắp xếp ai đó đưa
về nhà sau đó. Trao đổi về các rủi ro của thủ thuật, bao gồm chảy máu, bầm
tím, bỏng và nhiễm trùng.
Nếu quyết định điều trị bằng laser cho các vấn đề da, an toàn của quy
trình là ưu tiên hàng đầu. Bác sĩ sẽ yêu cầu đeo kính bảo vệ mắt trong suốt
quá trình do ánh sáng phát ra từ laser có thể gây tổn thương mắt và thậm chí
mù lòa. Nếu điều trị khu vực gần mắt, bác sĩ có thể sử dụng tấm chắn mắt
kim loại đặc biệt trong suốt quá trình. Nhiều cá nhân lo ngại về đau đớn
trong quá trình điều trị bằng laser, vì vậy cần thảo luận về sự cần thiết phải
gây tê tại chỗ với bác sĩ. Đôi khi, không cần gây tê. Tuy nhiên, vị trí và kích
thước của khu vực điều trị, loại laser được sử dụng và mức chịu đựng của
bệnh nhân sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu gây tê. Thông thường nhất là một loại
kem gây tê tại chỗ hoặc tiêm có thể được sử dụng để kiểm soát cơn đau trong
suốt quá trình.
SAU THỦ THUẬT
Tránh tiếp xúc lâu với ánh nắng mặt trời để giảm nguy cơ phát triển
những vùng da tối màu. Dùng kem chống nắng phù hợp có chỉ số ít nhất 30
SPF vì phơi nắng sau khi điều trị bằng laser có thể dẫn đến da không đều
màu và xuất hiện đốm nâu. Làm mát da để ngăn ngừa viêm tại chỗ. Không