giải-phẫu-lâm-sàng-khuôn-mặt-người-châu-á-tiêm-botox_compressed

19/11/2025 • by Bs CKI Phẫu thuật tạo hình, tái tạo và thẩm mỹ Trương Hoài Anh • botox
Ảnh bìa sách Giải phẫu Lâm sàng khuôn mặt Người Châu Á để Tiêm Botulinum Toxin và Chất làm đầy

Tóm tắt sách: Giải phẫu Lâm sàng khuôn mặt Người Châu Á để Tiêm Botulinum Toxin và Chất làm đầy

Cuốn sách là một tài liệu chuyên sâu, thiết yếu cho các bác sĩ và chuyên gia thẩm mỹ, đặc biệt là phẫu thuật tạo hình, da liễu, và răng hàm mặt, những người thực hiện các kỹ thuật tiêm Botulinum Toxin và Chất làm đầy (Filler) trên bệnh nhân Châu Á.

Nội dung chính của sách tập trung vào việc cung cấp một nền tảng giải phẫu lâm sàng chi tiết và chính xác về vùng mặt của người Châu Á. Đặc điểm giải phẫu của người Châu Á có những khác biệt đáng kể so với người phương Tây, đòi hỏi các chuyên gia phải có kiến thức chuyên biệt để đạt được kết quả thẩm mỹ tối ưu và giảm thiểu rủi ro biến chứng.

Nội dung nổi bật:

  • Giải phẫu ứng dụng: Phân tích các cấu trúc giải phẫu quan trọng như mạch máu, thần kinh, và các lớp mô mềm ở các vùng tiêm thường gặp (trán, thái dương, quanh mắt, mũi, cằm, môi).
  • Kỹ thuật tiêm an toàn: Hướng dẫn chi tiết các kỹ thuật tiêm để đảm bảo an toàn, bao gồm việc sử dụng kim tiêm cỡ nhỏ, cannula, và thực hiện hút kim trước khi tiêm tại các điểm khác nhau.
  • Phòng ngừa và xử lý biến chứng: Cung cấp kiến thức về nhận biết và xử lý các biến chứng sớm và muộn. Đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nắm vững giải phẫu và đặc tính của từng loại chất làm đầy để giảm thiểu di chứng.
  • Chăm sóc sau tiêm: Đưa ra các khuyến nghị về chăm sóc sau thủ thuật như tránh tiếp xúc với nhiệt độ cao/thấp, tránh chạm hoặc ấn vào vùng tiêm, và kiêng rượu bia/thuốc lá trong tuần đầu tiên.

Cuốn sách được minh họa bằng các hình ảnh giải phẫu lâm sàng rõ nét, giúp bác sĩ dễ dàng hình dung và ứng dụng trực tiếp vào thực hành lâm sàng.

Trang: / 193
Trang 1 Trang 2 Trang 3
📖 Xem bản dịch / Nội dung văn bản

94
3.1
Trán và vùng giữa hai đầu
lông mày
Đường chân tóc và lông mày lần lượt tạo thành
các đường phân định bên trên và bên dưới
trán. Trán có nếp nhăn có thể tạo ra ấn tượng
bị lão hóa; do đó, cấy mỡ và tiêm chất làm đầy
thường sử dụng như các phương pháp điều trị
thẩm mỹ để cải thiện bề mặt không đều của
trán thành những vùng đầy và mịn. Tiêm chất
làm đầy thẩm mỹ thường được sử dụng để tạo
độ cong lồi và mịn từ điểm chân tóc trán tới
lông mày (Hình 3.1). Ngược lại với hộp sọ dài
hay gặp ở các quần thể người da trắng, hộp sọ
ngắn hay gặp ở các quần thể người châu Á.
Trán mịn và lồi hơn cho phép toàn bộ khuôn
mặt trông nhỏ hơn, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ
của quần thể người châu Á.
Liệu pháp tiêm chất làm đầy thẩm mỹ có thể
được sử dụng để làm giảm sự hiện rõ thêm của
nếp nhăn cau mày, thường là kết quả của sự cau
mày liên tục, và để bù lại cho phần thể tích mất
đi gần khu vực giữa hai đầu lông mày, thường
do lão hóa gây ra.
3.1.1
Giải phẫu lâm sàng
Một vùng lõm rộng tự nhiên thường nằm giữa
ụ trán và vòm lông mày
tuy nhiên, có những trường hợp vùng giữa
trán hoặc vùng ngoài trên lông mày bị lõm
một phần. Các khu vực này cũng phải được
xác định trước khi điều trị. Ngoài ra, vùng
lõm từ “điểm giữa khớp trán” (điểm giữa ụ
trán)” đến vòm lông mày phải xác định từ
mặt ngoài (Hình 3.2).
Vùng trán rộng, và mô mềm mỏng (<2mm).
Teo mỡ dần sẽ xảy ra bẩm sinh và cả sau khi
sinh, dẫn đến hiện tượng gia tăng cấu trúc
xương, cho thấy biểu hiện của lão hóa. Trong
trường hợp này, hình dạng trán có thể thô và
không đồng đều; do đó, các khu vực lõm phải
xác định. Trán gồm có cơ trán-mô dưới da-da
với cân galea-mô liên kết lỏng-màng xương
của xương trán. Cơ trán rất mỏng và thành
phần mỡ dưới da ở trán rất ít (Hình 3.3).
3.1.2
Các vị trí tiêm và phương pháp
Tiêm
Trán là một khu vực rất nhạy cảm; do đó,
gây tê thần kinh là điều cần thiết trước
khi thực hiện tiêm chất làm đầy. Dây thần
kinh trên ổ mắt và dây thần kinh trên ròng
rọc đi ngang trán phải được gây tê (xem chủ
đề phương pháp gây tê trong Chương 1)
Hình. 3.1 Ranh giới bề mặt của vùng trán và vùng giữa hai đầu lông mày
3 Giải phẫu lâm sàng Vùng mặt trên để Tiêm chất làm đầy

95
Khi điều trị phía ngoài trán, dây thần kinh
gò má thái dương có thể cũng cần phải gây
tê. Gây tê thẩm thấu tại chỗ trực tiếp ở khu
vực này ưu tiên do khó gây tê chính xác hoàn
toàn dây thần kinh gò má thái dương (Hình
3.4).
Ưu tiên tiêm trên màng xương vào lớp mô
liên kết lỏng để an toàn và dành cho bề mặt
không đều đặn (Hình 3.3). Vì vùng trán rất
rộng, có khả năng cao sẽ phình lên không đều
do lớp bề mặt mỏng và rất khó để tăng thể tích.
Ngoài ra, khuyến khích tiêm trên màng xương
để tránh tiêm vào các nhánh động mạch và tĩnh
mạch trán chạy dọc theo lớp nông của trán.
Đối với vết lõm chung và rõ hơn ở nếp nhăn
cau mày, ưu tiên tiêm trên màng xương. Tuy
nhiên, khi các nếp nhăn cau mày xuất hiện nhẹ,
tiêm nông vào lớp dưới da có thể có hiệu quả
để loại bỏ nếp nhăn da.
Trong quá trình tiêm vào trán, rất khó
tránh tất cả các mạch máu; do đó, để điều trị
vùng trán, nên sử dụng kim cannuala
Ngay cả khi kim cannuala sử dụng để tiêm trên
màng xương, sự an toàn cũng không đảm bảo
100%. Hơn nữa, cần thận trọng hơn để tránh
các động mạch đi qua xương vào da và các
khu vực khác nơi các mạch máu phân nhánh.
Một phương pháp khả thi là tiêm sau khi đặt
cannuala lần đầu vào khu vực tiêm và chờ xem
liệu có xuất hiện tụ máu hay không. Khi sử
dụng kim cannuala có kích thước quá nhỏ, áp
lực quá mức có thể dẫn đến thủng tĩnh mạch;
do đó, nên dùng kim cannuala khoảng
23-25G.
Khi xác định điểm vào của kim cannuala,
cần phải tránh nơi động mạch thái dương
nông đi qua đường bên ngoài của cơ trán và
nơi động mạch trên ổ mắt phân nhánh. Khu
vực 2 cm phía trên lông mày trên mặt phẳng
dọc của khóe mắt ngoài là nơi nhánh trán của
động mạch thái dương nông đi qua. Có thể
tránh động mạch này trong khoảng 2 cm từ
góc mắt ngoài bằng cách tiêm từ đường biên
phía ngoài của trán (Hình 3.5).
Vùng lõm của trán
Điểm giữa khớp trán
Ụ Trán
a
b
Hình. 3.2 Ụ trán và vùng lõm của trán (a nhìn chính diện, b nhìn ngang)
3.1 Trán và vùng giữa hai lông mày

96
Da
Lớp dưới da
Cơ trán và cân
galea
Màng xương
Xương trán
Xương trán
Da
Màng xương
Lớp dưới da
Cơ trán.
Mô liên kết lỏng
Xương trán
b
a
Hình. 3.3 Các lớp giải phẫu của vùng trán và vùng giữa hai đầu lông mày ( a , b )
Vị trí tiêm kim cannuala phổ biến nhất
nằm ở biên giới giữa trán và vùng thái dương.
Ngoài ra điểm giữa khớp trán đường giữa
trán có thể phục vụ như một vị trí tiêm do sự
phân tán mạch máu tương đối không rõ rệt
của nó
(Hình 3.6a). Trong trường hợp độ cong của
điểm giữa khớp trán quá góc cạnh, rất khó
để tiêm dưới lớp cơ ở điểm cong góc. Trong
trường hợp này, vị trí tiêm phải được đặt ở
góc trong của lông mày
3 Giải phẫu lâm sàng Vùng mặt trên để tiêm chất làm đầy

97
và kim cannuala phải đặt vào dưới lớp cơ
(Hình 3.6b). Ngay cả khi sử dụng kim cannu-
ala làm dụng cụ tiêm, kim cannuala phải đặt
dưới lớp cơ và trên màng xương. Việc tiêm
phải được thực hiện khi kim cannuala từ từ
rút lại vị trí ban đầu (Hình 3.7 và 3.8).
Khi vùng tiêm bị sụt hoặc lõm một phần, có
thể sử dụng kim. Nếu có thể, nên chích kim qua
lớp cơ cho đến khi mũi kim chạm vào xương. Sau
khi chắc chắn răng kim đã chạm vào xương, cần
tiêm chất làm đầy
lên phía trên màng xương với một lượng nhỏ.
Xoa bóp khu vực tiêm và cho chất làm đầy lan
rộng khắp lớp mô liên kết lỏng để có thể ngăn
ngừa hiện tượng nhấp nhô bề mặt. Việc tiêm
chất làm đầy trực tiếp vào mạch máu có thể
xác nhận bằng việc thổi khí vào trước khi tiêm.
Việc sử dụng kim cannuala được khuyến nghị
khi tiêm vào vùng phân nhánh của động mạch
trên ổ mắt và động mạch trên ròng rọc.
Các phương pháp điều trị bằng chất làm đầy
lên vùng giữa hai đầu lông mày có rủi ro cao
nhất là mất thị lực ở bệnh nhân do tắc mạch
và tiêm nội mạch. Vì thế,
Dây thần kinh trên ổ mắt
Nhánh sâu của dây thần kinh trên ổ mắt
Dây thần kinh trên ròng rọc.
Dây thần kinh gò má thái dương.
Dây thần kinh tai-thái dương.
Hình. 3.4 Phân bổ thần kinh ở vùng trán và thái dương
Nhánh ở trán của động
mạch thái dương nông.
b
a
2cm
Fig. 3.5 Nhánh ở trán của động mạch thái dương nông đi qua đường biên ngoài của cơ trán (a,b)
3.1 Trán và vùng giữa hai lông mày

98
b
a
Hình. 3.6 Kỹ thuật tiêm chất làm đầy cho vùng trán sử dụng kim cannuala ((a) tiếp cận từ phía ngoài, (b) tiếp
cận từ phía trong)
a
b
Hình. 3.7 Tiêm chất làm đầy trên trán tử thi sử dụng kim cannuala (a) và sản phẩm chất làm đầy được đặt đúng
cách dưới cơ trán (b)
3 Giải phẫu lâm sàng Vùng mặt trên để tiêm chất làm đầy

99
Động mạch trên
ròng rọc
Động mạch trên
ổ mẳt
Hình. 3.8 Mặt tiêm
chất làm đầy an toàn
trên trán và vùng
giữa hai đầu lông mày
Hình. 3.9 Kỹ thuật tiêm chất làm đầy lên vùng giữa hai đầu lông mày sử dụng kim cannuala
việc sử dụng kim cannuala là rất cần thiết. Khi
sử dụng kim, mô mềm của khu vực này được
nâng lên để cho phép tiêm vào dưới da
với lượng nhỏ. Một phương pháp khác là
châm kim
chạm vào xương và tiêm chất làm đầy với một
lượng nhỏ. Việc đặt kim cannuala phải tiến
hành từ giữa trán (Hình. 3.9 ).
3.1 Trán và vùng giữa hai lông mày

100
3.1.3
Tác dụng phụ
Hoại tử da ở trán có thể xảy ra do thiếu lưu
thông máu, và cần thận trọng đặc biệt đối với
sự phân nhánh của các mạch máu và các lớp
mô. Các động mạch cần được xử lý thận trọng
là động mạch trên ròng rọc, động mạch trên ổ
mắt, và nhánh ở trán của động mạch thái
dương nông (Hình 3.5 và 3.10). Động mạch
trên ổ mắt đi qua lỗ hoặc hõm trên ổ mắt,
trong khi động mạch trên ròng rọc đi qua vách
ngăn ổ mắt, lên trên trán và qua các lớp mô
dưới da và cơ. Vì vậy, khi điều trị tiêm chất
làm đầy lên trán, nên đặt kim cannuala và tiêm
dọc theo lớp trên màng xương. Cũng cần phải
cẩn thận đặc biệt để tránh làm tổn thương các
mạch máu đi qua lỗ hoặc hõm trên ổ mắt và
vùng mắt trong khi đặt kim hoặc hoặc cannuala
gần tới màng xương. Ngay cả việc sử dụng kim
cannuala cũng có nguy cơ gây tổn thương các
mạch máu và dây thần kinh; do đó, việc tiêm
chất làm đầy cần thực hiện
từ từ trong khi vẫn giữ cảnh giác với sự
xuất hiện tụ máu. Vì các tĩnh mạch có đường
kính lớn hơn và có thành mạch yếu hơn, các
tĩnh mạch vẫn dễ bị tổn thương và bị bầm
dập ngay cả khi sử dụng kim cannuala. Do
vậy, điều quan trọng là thực hiện tiêm chậm
và nhẹ nhàng. Tiêm một lượng lớn chất làm
đầy vào phía ngoài của trán có thể dẫn đến
các mạch máu bị ứ căng do áp lực gia tăng
tại chỗ. Cần thận trọng hơn nếu bệnh nhân
có các tĩnh mạch phồng lên ở vùng cần tiêm.
Các nếp nhăn ở vùng giữa hai đầu lông
mày đã trở thành những nếp nhăn tĩnh sẽ
rất khó xử lí. Trong những trường hợp như
vậy, kim tiêm sử dụng để tiêm trực tiếp chất
làm đầy vào lớp dưới da hoặc lớp cơ, trong
khi đường tiêm đi theo đường của nếp nhăn.
Trong thực tế, động mạch trên ròng rọc đi
lên nông hơn so với động mạch trên ổ mắt
lân cận. Khi tiêm chất làm đầy vào cùng này
bằng kim, cần xem xét đến nguy cơ chất làm
đầy khuếch tán khắp da và gây tổn thương
cho động mạch trên ròng rọc .
Nhánh ở trán của động
mạch thái dương nông
Động mạch trên ròng rọc
Động mạch & dây thần
kinh trên ổ mắt
b
a
Cơ mày
Hình. 3.10 Đường cung cấp máu của trán và vùng giữa hai đầu lông mày (a,b)
3 Giải phẫu lâm sàng Vùng mặt trên để tiêm chất làm đầy

101
Hơn nữa, cũng có rủi ro khi tiêm nội mạch
chất làm đầy vào động mạch trên ròng rọc.
Ngay cả khi tiêm được đặt ở lớp dưới da, một
mũi tiêm dễ gãy có thể làm tổn thương đám
rỗi mạch dưới da, dẫn đến hoại tử da cục bộ.
Để tránh tăng áp lực cục bộ ở lớp hạ bì, mũi
tiêm phải được thực hiện chậm và thận trọng
(Hình 3.11. và 3.13).
Kim cannuala khuyên dùng vì nó loại trừ
khả năng tiêm vào nội mạch. Hơn nữa, việc
sử dụng chất làm đầy quá nhiều hoặc sử
dụng các chất làm đầy ưa nước gây ra nguy
cơ hút nước, dẫn đến tình trạng sưng và
tăng áp lực tại chỗ. Nói chung, khi làm giảm
các nếp nhăn cau mày bằng cách tiêm chất
làm đầy, cần phải đặc biệt chú ý để tránh
động mạch trên ròng rọc chạy giữa hai đầu
lông mày (Hình 3.11) .
Hơn nữa, việc tiếp xúc với dây thần kinh
trên ổ mắt trong khi tiêm sẽ khiến bệnh nhân
cảm thấy đau khắp vùng đỉnh đầu hoặc vùng
chẩm. Để tránh mọi đau đớn không cần thiết,
nên đặt kim cannuala gần màng xương.
Lời khuyên: Tiêm chất làm đầy vào trán Khi
tiến hành tiêm chất làm đầy vào trán, nên tập
trung vào việc tạo ra các đường cong mịn hơn
là tăng thể tích (Hình 3.12). Trán là một vùng
rộng, mỏng có thể dễ dàng hình thành nên
những nếp nhăn khi không chăm sóc cẩn thận.
Để tránh những nếp nhăn, nên tiêm chất làm
đầy vào lớp màng xương với đặc tính phẳngvì
nó cũng giúp tránh được nguy cơ tiêm nội
mạch.
Kim cannuala thường sử dụng khi tiêm
chất làm đầy cơ trán; tuy nhiên, không dễ
dàng để liên tục đi theo các đường cong
trên ròng rọc khi duy trì đầu kim cannuala
trên màng xương. Nếu độ cong của trán
không được xem xét và việc tiêm chất làm
đầy thực hiện gián tiếp bằng kim cannuala
thẳng, một lượng lớn chất làm đầy có thể
chèn vào lớp dưới da. Ngay cả khi kim
cannuala ban đầu chạm vào màng xương,
kim cannuala có thể di chuyển từ vị
Cơ trán
Nhánh nông và
sâu của động
mạch trên ổ
mắt
b
Động mạch trên
ròng rọc
Động mạch
trên ổ mắt
a
Tĩnh mạch giữa
hai khóe mắt
Động mạch trên
ròng tọc
Động mạch trung
tâm từ động
mạch sống mũi
Hình. 3.11 Mô hình phân phối của động mạch trên ròng tọc và động mạch trên ổ mắt ở trán và vùng giữa
hai đầu lông mày (a) và mặt cắt đừng dọc giữa của trán (b)
3.1 Trán và vùng giữa hai lông mày

102
trí ban đầu theo độ cong trán và đi vào lớp
dưới da (Hình 3.13). Để tránh trường hợp
nói trên, cần phải xem xét đến độ dài của
kim cannuala và độ cong của trán trước khi
thực hiện tiêm. Ngoài ra, nhiều điểm chèn
phải xác nhận, và kim cannuala phải chèn
qua lớp cơ và chạm vào màng xương. Việc
tiêm sẽ tiến hành với áp suất và thể tích đều
nhau. Nên sử dụng kim cannuala mềm với
kích thước 23 -> 25 G
Lời khuyên: Tiêm chất làm đầy vào cùng giữa
hai đầu lông mày Các nếp nhăn thường được
phân thành hai nhóm: nếp nhăn tĩnh và nếp nhăn
động. Botox thường được sử dụng để điều trị
các nếp nhăn theo chuyển động cơ. Tuy nhiên,
trong trường hợp có các nếp nhăn tĩnh, có thể
cần phải điều trị bằng chất làm đầy. Các nếp
nhăn nông có thể được làm giảm bằng cách tiêm
chất làm đầy với lớp hạ bì hoặc lớp dưới da. Sự
xuất hiện của các nếp nhăn sâu hơn có thể được
làm giảm bằng cách thay thể tích thông qua chất
làm đầy. Sự di chuyển liên tục của các nếp nhăn
động có thể dẫn đến sự di chuyển của chất làm
đầy; do đó, việc tiêm chất làm đầy nên được thực
hiện với kỹ thuật tiêm chéo, thay vì tiêm dọc theo
nếp nhăn.
d
b
c
a
Hình 3.12 Giãn rộng trán sử dụng chất làm đầy trước (a,b) và sau khi (c,d) tiêm
3 Giải phẫu lâm sàng Vùng mặt trên để tiêm chất làm đầy

103
Hình. 3.13 Mặt tiêm
chất làm đầy nguy hiểm
trên trán và vùng giữa
hai đầu lông mày
3.2
Mí dưới sâu và dải gồ trước
sụn
Sự lõm vào ở vùng mí mắt trên có thể xảy ra
bẩm sinh hoặc do lão hóa, tạo ra vẻ ngoài mệt
mỏi và già nua. Đối với người châu Á, sự hiện
diện của dải gồ trước sụn tạo vẻ một đôi mắt
trẻ trung và dễ thương hơn khi mỉm cười (Hình
3.14).
3.2.1
Giải phẫu lâm sàng
Khu vực mí mắt và ổ mắt bao gồm mí mắt trên
(vùng phía trên khe mí và dưới lông mày), góc
mắt trong
(điểm phía trong nơi mí mắt trên và mí mắt
dưới gặp nhau), góc mắt ngoài (điểm phía
ngoài nơi mí mắt trên và mí mắt dưới gặp
nhau), và mí mắt dưới (vùng dưới khe mí).
Mặc dù không phải làcác thuật ngữ y học
tuyệt đối xác định trong giải phẫu lâm sàng,
vùng dưới mí mắt dưới, được hình thành
do sự co lại của cơ vòng mi, được gọi là dải
gồ trước sụn và đường bên dưới gọi là rãnh
trước sụn (Hình 3.15) .
Không giống như người Da trắng, cơ nâng
mi trên của người châu Á thường không
gắn liền với lớp hạ bì. So với người Da
trắng, lớp mỡ ổ mắt ở người châu Á kéo dài
hơn xuống dưới, khiến cho mắt
3.2 Mắt trũng và bọng mắt

104
Lông mày
Lông mi
Bờ củng mạc ngoài
Mí mắt dưới
Mào tuyến lệ
Bờ củng mạc trong
Mống mắt
Đồng tử
Hình. 3.15 Danh pháp cơ bản của mắt và vùng quanh ổ mắt
Mắt trũng
Bọng mắt
a
b
Rãnh bọng mắt
Hình. 3.14 Mắt
trũng (a) và bọng
mắt (b)
nhìn sưng hơn (Hình 3.16). Tuy nhiên, với
sự lão hóa, lượng mỡ ở ổ mắt có thể giảm đi,
dẫn đến một đường gờ ổ mắt rõ rệt và xuất
hiện một rãnh dưới mắt, hiện tượng này còn
được định nghĩa là mắt trũng. Trong trường
hợp này, tiêm chất làm đầy có thể làm giảm
sự xuất hiện của mắt trũng cũng như các triệu
chứng lão hóa và mệt mỏi.
3 Giải phẫu lâm sàng Vùng mặt trên để tiêm chất làm đầy

105
Vách ngăn
ổ mắt
Mỡ
dưới
vách
ngăn
Cơ nâng mi trên
Cơ vòng
mi
b
a
Hình. 3.16 Mặt cắt đứng dọc giữa của mí mắt trên và nhãn cầu (a Người châu Á, b Người Da trắng)
3.2.2
Các vị trí tiêm và phương pháp
tiêm
Về việc điều trị mắt trũng, sự lựa chọn của
bệnh nhân là điều quan trọng nhất. Tiêm chất
làm đầy có thể có tác dụng trong trường hợp
có sự giảm mỡ trong ổ mắt ở người cao tuổi.
Tuy nhiên, tốt nhất là bệnh nhân thuộc các
kiểu sau đây nên tránh tiêm chất làm đầy như
một liệu pháp khả thi để xử lí mắt hõm. Thứ
nhất, nếu bệnh nhân bị sụp mi, do sự teo đi
của cơ chuyển động của mí mắt, nên việc tăng
thể tích mí mắt trên bằng điều trị tiêm chất
làm đầy có thể làm cho sụp mi mắt nặng hơn.
Vì mắt hõm có thể là do bệnh nhược cơ, tình
trạng sức khỏe và miễn dịch của một người cần
phải được kiểm tra trước khi điều trị. Thứ hai,
có một hạn chế cho việc tiêm chất làm đầy để
điều trị mắt lõm, xuất phát từ chứng lồi mắt.
Do việc sử dụng chất làm đầy cứng có thể
gây ra nếp nhăn khi bệnh nhân nhắm mắt, nên
sử dụng các chất làm đầy mềm để điều trị
mắt hõm. Vì vậy, điều quan trọng là chỉ thực
hiện tiêm chất làm đầy sau khi đã xem xét sự
thay đổi thể tích mí mắt trên của bệnh nhân
ở trạng thái mở mắt và nhắm mắt.
Vì việc tiêm chất làm đầy vào lớp mỡ
sau vách ngăn ổ mắt vừa khó khăn và vừa
nguy hiểm, các vị trí tiêm cần đặt ở ngang mức
vách ổ mắt. Ngoài ra, chất làm đầy mềm có thể
được sử dụng để tiêm vào lớp mỡ dưới da.
Kim cannuala khuyên dùng để tránh tiêm vào
nội mạch và nên chèn vào vị trí hơi chạm vào
màng xương và sau đó hơi rút lại để cannuala
đặt vào trong vách ổ mắt. Nếu cannuala thâm
nhập không đủ sâu, các nếp nhăn có thể xuất
hiện khi mắt nhắm lại (Hình 3.17 và 3.18).
Các hình thức gây tê khuyến nghị trong
quá trình điều trị dải gồ trước sụn là gây tê
thần kinh dưới ổ mắt hoặc sử dụng thuôc bôi
gây tê riêng. Việc tiêm quá sâu trong quá trình
điều trị dải gồ trước sụn sẽ dẫn đến hình dạng
khuyết tật, trong khi việc tiêm quá nông sẽ
dẫn đến việc chất làm đầy hiện lên mũi tiêm
cần bề mặt da; do đó,
3.2 Mắt trũng và bọng mắt

106
thực hiện ở lớp mô dưới da. Để ngăn ngừa
nguy cơ nhô lên và lõm xuống quá mức của
bọng mắt, kim cannuala hoặc kim tiêm nên
chèn vào trong khi vẫn giữ một khoảng cách
tối thiểu với lông mi dưới (Hình 3.19 và 3.20).
Ở dải gồ trước sụn, độngmạch mí dưới phía
trong, một nhánh của động mạch mắt, nằm
trong mọi trường hợp (Hình 3.20a). Nhánh
động mạch này cung cấp màu cho sụn mi
của mí dưới, và có đường kính khoảng 1mm
ở góc mắt trong. Vì lý do này, việc tiêm chất
làm đầy quá sâu vào gần sụn mi bằng kim có
thể gây ra hiện tượng tiêm vào nội mạch trực
tiếp qua động mạch mắt (Hình 3.20b)
a
b
Hình. 3.17 Kỹ thuật tiêm chất làm đầy cho mắt trũng sử dụng kim cannuala (a) và mặt phằng tiêm lý tưởng (b)
3 Giải phẫu lâm sàng Vùng mặt trên để tiêm chất làm đầy

107
a
b
Hình. 3.19 Kỹ thuật tiêm
chất làm đầy vào bọng
mắt sử dụng kim tiêm (a)
và kim tiêm cannuala (b)
Hình. 3.18 Tiêm chất làm đầy vào mắt trũng của tử thi (a) và sản phẩm chất làm đầy được đặt đúng vị trí (màu lam)
dưới vách ngăn ổ mắt và dưới vòm ổ mắt (b)
3.2 Mắt trũng và bọng mắt

108
Động mạch mí mắt
dưới phía trong
Động mạch mí mắt
trên phía trong
a
b
Da
Lớp dưới da
Cơ vòng mi.
Vách ổ mắt
Mỡ dưới ổ mắt
Động mạch mí mắt dưới phía trong
Hình. 3.20 Động mạch mí mắt trên và dưới phía
trong phân phối máu cho mí mắt trên và dưới từ động
mạch mắt (a) và mặt phẳng tiêm chất làm đầy cho
bọng mắt sử dụng kim tiêm hoặc kim cannuala (b)
Hình dạng và thể tích mong muốn của dải
gồ trước sụn cần xác định sau khi quan sát
khuôn mặt khi cười của bệnh nhân. Mục tiêu
chung của việc điều trị là để cho phép dải gồ
trở nên rõ hơn một chút ngay cả khi bệnh
nhân không mỉm cười. Vì dải gồ có thể hình
thành với nhiều hình dạng khác nhau, chẳng
hạn như trở nên rộng hơn từ vùng 1/3
phía ngoài hoặc trở nên rõ hơn ở cuối phía
ngoài, việc tiêm chất làm đầy phải tập trung
vào việc điều chỉnh hình dạng tự nhiên của
dải gồ trước sụn ở bệnh nhân (Hình. 3.21 ).
Trước khi tiêm dải gồ, lượng mỡ dưới ổ
mắt hiện tại (chỗ phình mỡ dưới) phải xác
nhận. Một số bệnh nhân có phần mỡ dưới ổ
mắt dư thừa chèn vào bọng mắt. Trong
trường hợp này, phẫu thuật loại bỏ một lượng
mỡ dưới ổ mắt phù hợp có thể cho phép dải
gồ trở nên rõ ràng hơn. Trong các trường hợp
khác, dải gồ chỉ có thể nhìn thấy được khi bệnh
nhân mỉm cười do lớp mỡ dưới ổ mắt kết hợp
với dải gồ cho phép bọng mắt trở nên rõ nét
hơn. Trong trường hợp này, người tiêm
3 Giải phẫu lâm sàng Vùng mặt trên để tiêm chất làm đầy

109
Trạng thái nghỉ
Trạng thái cười
a
c
b
d
Hình. 3.21 Dải gồ sử dụng chất làm đầy, trước khi tiêm (a,c) và sau khi tiêm (b,d)
cần xem xét khả năng điều trị dải gồ dẫn đến
sự nhô ra quá mức của dải gồ khi mỉm cười.
Sự thành công của phương pháp điều trị này
phụ thuộc rất nhiều vào khả năng kiểm soát
lượng chất làm đầy của người tiêm sau khi
xem xét độ co dãn của rãnh dưới dải gồ. Có
thể ngăn ngừa sự kéo dài xuống phía dưới
của rãnh dưới dải gồ bằng cách tăng áp lực
lên vùng dưới rãnh dải gồ bằng một ngón tay
hoặc gạc bông trong khi tiêm chất làm đầy
với lượng nhỏ.
Chất làm đầy mềm có tính ưa nước thấp
khuyên nên dùng. Việc sử dụng chất làm đầy
tương đối cứng sẽ dẫn đến tình trạng dải gồ
hiện lên không đều và tạo cục. Tuy nhiên, các
chất làm đầy ưa nước sẽ khiến cho bọng mắt
có thể tích dư thừa. Phương pháp tối ưu để
điều trị bọng mắt là tiêm lượng vừa đủ chất
làm đầy mềm và tạo hình phù hợp. Để ngăn
chặn bất kỳ tình trạng vón cục không tự nhiên
và bất kỳ vị trí gián đoạn nào, có thể đặt một
miếng gạc bông ngay lập tức sau khi tiêm .
Do điều trị dải gồ thông qua tiêm chất
làm đầy hướng tới lớp dưới da hoặc lớp trong
cơ, hiệu quả của nó kéo dài hơn việc điều trị
bằng chất làm đầy ở các khu vực khác. Hiệu
quả có thể kéo dài trong ba năm với mũi tiêm
thích hợp.
Sự bầm tím, do sử dụng kim tiêm trong quá
trình điều trị dải gồ, có thể gây khó chịu cho
bệnh nhân. Vì vậy, nên sử dụng một kim tiêm
có kích thước 30-33 G. Ngoài ra, cần phải thận
trọng để tránh các động mạch chạy gần da.
3.2.3
Tác dụng phụ
Ở phía trong của lớp mỡ vách ngăn, nơi nổi
lên các nhánh động mạch mắt, các mạch
máu có thể dày (Hình 3.22). Vì vị trí nổi lên
này đánh dấu điểm bắt đầu của nhiều động
mạch quan trọng chạy khắp mặt, trán, mũi và
cuối cùng thông vào sâu hơn các động mạch
trung tâm võng mạc, cần đặc biệt chú ý khi
tiêm vào vùng này.
3.3
Thái Dương
Vùng thái dương bị hõm có thể tạo vẻ già nua
và mệt mỏi (Hình 3.23). Tiêm chất làm đầy vào
khu vực thái dương có thể tạo ra một đường
mượt hơn từ phía trán tới chỗ nhô lên của gò
má.
3.3 Thái Dương

110
Hình. 3.23 Lõm thái
dương. Có thể được
nhìn thấy rõ hơn khi
hạ thấp đầu và nhìn
lên trên
Động mạch trên ròng rọc
Vị trí nổi lên của nhánh
động mạch mắt.
Động mạch sống mũi
Động mạch góc
Động mạch mũi ngoài
Hình. 3.22 Cấp máu lên mí mắt
trên và dưới từ động mạch mắt
3 Giải phẫu lâm sàng Vùng mặt trên để tiêm chất làm đầy

111
Nhánh ở trán
Nhánh đỉnh
Tĩnh mạch thái dương nông
Động mạch thái dương nông
Hình. 3.24 Động mạch và tĩnh mạch thái dương nông nằm trong mạc thái dương đỉnh
3.3.1
Giải phẫu Lâm sàng
Theo định nghĩa trong từ điển, vùng thái
dương chỉ vùng lõm trên cạnh đầu và chứa hố
thái dương. Mặt khác, thái dương chỉ khu vực
nhỏ hơn xung quanh chóp trên trước và thực
tế nằm ở trước thóp trên trước một chút từ
quan điểm lâm sàng. Cơ thái dương chiếm hố
thái dương với hai lớp cân riêng biệt trên cơ.
Cân thái dương đỉnh (TPF), hay mạc thái
dương nông, là một dải nằm sâu bên trong
vùng da bao phủ khu vực thái dương và bao
quanh động mạch và tĩnh mạch thái dương
nông, và chạy tiếp xuống thành SMAS (Hình
3.24).
Nằm sâu bên trong cân thái dương nông,
mạc thái dương sâu hoặc mạc cơ thái dương
bao quanh cơ thái dương. Lớp nông của cơ
thái dương bắt nguồn từ cân này. Cân thái
dương sâu bám vào đường thái dương trên
và đi xuống phía dưới để phân chia thành hai
lớp (Lớp nông và lớp sâu của
cân thái dương sâu), hai lớp này bám vào
vòm gò má. Khoang tạo thành khi cân thái
dương sâu tách thành lớp nông và lớp sâu có
chứa một lượng nhỏ
mô mỡ và tĩnh mạch thái dương giữa(Hình.
3.25 ).
Tĩnh mạch thái dương giữa chạy trên vòm
gò má khoảng 20mm, và khoảng cách này gần
bằng chiều rộng của ngón trỏ khi đặt vào bờ
trên của vòm gò má. Quan trọng là người tiêm
cần phải quen thuộc với vị trí tương đối của
tĩnh mạch thái dương giữa trước khi thực hiện
điều trị bằng chất làm đầy. Tĩnh mạch sentinel,
tĩnh mạch mí mắt dưới và tĩnh mạch quanh ổ
mắt chảy vào tĩnh mạch thái dương giữa, đến
tĩnh mạch thái dương nông và chảy tiếp vào hệ
thống tĩnh mạch của cổ (Hình 3.25 và 3.26).
Động mạch thái dương sâu đi từ các nhánh
động mạch hàm trên vào cơ thái dương, nằm
trong mạc thái dương sâu. Động mạch này
phân nhánh vào động mạch thái dương sâu
trước và sau. Giữa xương thái dương và cơ
thái dương. Sau đó nó đi lên phía trên đến
hố thái dương, phân nhánh tại cơ thái dương
và mạc thái dương. Lớp mạch máu nằm dưới
bụng và gân của phần dưới cơ thái dương. Tuy
nhiên khi mạch máu đi qua phần trên của cơ
thái dương, chúng phân bố khắp cơ này (Hình
3.27).
3.3 Thái Dương

112
Hình. 3.25 Các lớp giải phẫu của thái dương
Động mạch thái dương nông
Tĩnh mạch thái dương giữa
Mạc thái dương sâu
Mạc thái dương nông
3 Giải phẫu lâm sàng Vùng mặt trên để tiêm chất làm đầy
Tĩnh mạch sentinel
Tĩnh mạch quanh ổ mắt

113
Tĩnh mạch sau hàm dưới
Động mạch cảnh ngoài
Động mạch hàm trên
Đám rối chân bướm
Động mạch và tĩnh mạch
thái dương sâu
Động mạch và tĩnh mạch
thái dương nông
Hình. 3.27 Sự phân bố của động mạch và tĩnh mạch thái dương sâu nằm trong cơ thái dương
Tĩnh mạch thái dương giữa
Vòm gò má
Hình. 3.26 Tĩnh mạch thái dương giữa
3.3.2
Các vị trí Tiêm và phương pháp
Tiêm
Trong trường hợp tiêm chất làm đầy bằng kim
cannuala, cần gây tê. Tuy nhiên, rất khó để
gây tê khu vực này. Có thể thử phong bế thần
kinh gò má thái dương, nhưng rất có thể việc
gây tê sẽ không có hiệu quả. Để giảm cơn đau
có thể xảy ra, chất làm đầy có chứa lidocaine
được khuyên dùng. Khi tiêm bằng kim tiêm,
chất làm đầy có chưa lidocaine thường sẽ đủ
để gây tê. Kim tiêm khuyên dùng khi có hiện
tượng lõm từng điểm ở vùng thái dương; kim
cannuala khuyên dùng cho vùng rộng hơn.
Khu vực thái dương chứa nhiều mạch máu, và
đã có báo cáo về trường hợp bị mù do tiêm
chất làm đầy không chính xác. Mặc dù nguyên
nhân chính xác chưa được biết, vẫn cần thận
trọng để tránh tính trạng tiêm vào nội mạch.
Khi tiêm vào khu vực thái dương bị lõm,
chất làm đầy phải được tiêm ở độ sâu
3.3 Thái Dương

114
của cơ - màng xương. Trong trường hợp
này, mũi tiêm cần được thực hiện giữa hố
thái dương và cơ thái dương. Do vùng thái
dương bị lõm quá lõm
việc điều trị vùng này rất phức tạp, ngay cả với
một lượng tương đối lớn chất làm đầy (Hình
3.28a, 3.29, và 3.31).
a
b
Hình. 3.28 Kỹ thuật tiêm chất làm đầy vào cùng lõm thái dương sử dụng kim tiêm (a) và kim cannuala (b)
a
b
c
Hình. 3.29 Tiêm sâu chất làm đầy vào vùng thái dương của tử thi (a) và bóc tách mẫu vật để chỉ ra vị trí
của sản phẩm chất làm đầy bên dưới cơ thái dương (b,c)
3 Giải phẫu lâm sàng Vùng mặt trên để tiêm chất làm đầy

115
Hình. 3.30 Tiêm nông chất làm đầy vào vùng lõm thái dương của tử thi (a) và bóc tách mẫu vật để chỉ ra vị trí
của sản phẩm chất làm đầy bên dưới mạc thái dương nông và sâu (b,c)
Ép vào vùng thái dương sẽ khiến cho cân
thái dương đỉnh dính vào da và cân thái dương
sâu dính vào khoảng trống hình thành bởi cơ
giữa hai cân này. Sự hiện diện của mạch máu
ở khu vực này tương đối ít; do đó, đâm qua
khu vực này bằng kim cannuala là tương đối
an toàn. Khi sử dụng kim cannuala, việc tiêm
gần cung gò má sẽ an toàn hơn so với việc tiêm
gần nhánh ở trán của động mạch thái dương
nông (Hình 3.28b, 3.30, và 3.31)
3.3 Thái dương

116
3.3.3
Tác dụng phụ
Mạch đập của động mạch thái dương nông có
thể dễ dàng cảm nhận ở phía trước tai ngoài.
Khi tiêm chất làm đầy vào khu vực này, đường
đi của động mạch thái dương nông cần xem xét
bằng cách sờ được mạch đập của nó. Khi tiêm
theo chiều dọc vào khu vực này bằng kim tiêm,
cần thận trọng vì kim tiêm đâm xuyên qua
nhiều lớp và có thể gây tổn thương các mạch
máu và thậm chỉ cả xương thái dương. Kiểm
tra xem có tụ máu hay không là một biện pháp
phòng ngừa tốt. Mặc dù việc sử dụng cannuala
an toàn hơn so với kim tiêm, việc tiêm cần
thực hiện ở khu vực có ít hoặc không có mạch
máu.
Cần phải xem xét và tránh các vị trí của
tĩnh mạch sentinel và tĩnh mạch thái dương
giữa trước khi tiêm. Đặc biệt là tĩnh mạch thái
dương giữa chạy song song với cung gò má đi
qua giữa các lớp nông và sâu của cân thái
dương sâu. Tĩnh mạch thái dương giữa nằm
cách khoảng 20mm (chiều rộng 1 đốt ngón tay)
ở phía trên cung gò má. Khi tiêm quá nhiều
chất làm
đầy dây thần kinh gò má thái dương có thể bị
chèn ép với sự tăng áp lực tại chỗ mặc dù triệu
chứng là không rõ ràng.
Lời khuyên: Điều trị thái dương bằng chất
làm đầy Thái dương là khu vực dễ bị bỏ qua
trong quy trình phẫu thuật thẩm mỹ ở mặt. Sự
cần thiết và hiệu quả của việc tiêm chất làm
đầy vào thái dương có thể không rõ ràng, đặc
biệt là ở phụ nữ, vì thái dương thường che
bởi tóc mái
Tiêm chất làm đầy vào thái dương sẽ thực
hiện sau khi đánh giá toàn bộ khuôn mặt của
bệnh nhân. Đối với người có khuôn mặt nhìn
chung là cân đối, việc tiêm chất làm đầy vào
thái dương có thể khiến bệnh nhân không hài
lòng. Mặt khác, bệnh nhân có vùng thái dương
bị lõm với cung gò má cao có nhiều khả năng
cảm thấy rất hài lòng sau khi tiêm chất làm
đầy vào cùng thái dương. Hơn nữa, một bác
sĩ phải xác định chính xác những khu vực nào
ở thái dương bị lõm. Quan trọng nhất,
Hình. 3.31 Tiêm sâu
chất làm đầy vào màng
xương của hố thái
dương bên dưới cơ thái
dương
3 Giải phẫu lâm sàng Vùng mặt trên để tiêm chất làm đầy

117
việc tiêm chất làm đầy nên được thực hiện để
tạo ra một đường bao mịn giữa trán và gò má.
Lời khuyên: Bốn lớp có thể tiêm chất làm
đầy vào thái dương Nhìn chung có bốn lớp
có thể tiêm khi điều trị thái dương. Lớp thứ
nhất là vùng giữa cân thái dương đỉnh (cân
thái dương nông) và cân thái dương sâu; lớp
thứ hai là vùng giữa lớp nông và lớp sâu của
cân thái dương sâu; lớp thứ ba là vùng giữa
cân thái dương sâu và cơ thái dương; và lớp
thứ tư là vùng giữa cơ thái dương và xương
của hố thái dương.
Khi tiêm vào lớp thứ nhất giữa cân thái
dương đỉnh và cân thái dương sâu, nên sử
dụng cannuala để hạn chế tối đa khả năng
gây tổn thương đến động mạch và tĩnh mạch
thái dương nông, và nhánh ở trán của dây
thần kinh mặt. Việc tiêm vào nội mạch của
động mạch thái dương nông phải tránh vì đây
là động mạch chính cung cấp máu cho vùng
trán phía trên và phía ngoài. Xoa bóp khu vực
tiêm là điều quan trọng vì các nếp nhăn có thể
xuất hiện do da mỏng ở khu vực thái dương.
Để giảm thiểu bầm tím và tổn thương mạch
máu, kim cannuala phải đặt lên lớp trên cân
thái dương sâu.
Đệm mỡ thái dương nông và tĩnh mạch thái
dương giữa xuất hiện ở lớp thứ hai giữa lớp
nông và lớp sâu của cân thái dương sâu. Một
nhánh của tĩnh mạch thái dương giữa cùng với
tĩnh mạch sentinel, tĩnh mạch mí mắt dưới, và
tĩnh mạch quanh ổ mắt chảy vào tĩnh mạch thái
dương nông và đi vào hệ thống tĩnh mạch cổ.
Nếu xảy ra tình trạng tiêm chất làm đầy vào
nội mạch, sự tăng đột ngột áp suất trong mạch
sẽ khiến máu và chất làm đầy chảy ngược lại
vào xoang hang qua tĩnh mạch quanh ổ mắt
và tĩnh mạch mắt trên. Do đó, khi tiêm vào lớp
thứ hai, vị trí của tĩnh mạch thái dương giữa,
2cm phía trên cung gò má, phải xác nhận
Nên thực hiện hút kim trước khi tiêm để
tránh tiêm vào nội mạch.
Khoảng trống giữa cân thái dương sâu và
cơ thái dương là không gian tiềm năng, có thể
được tạo thành bằng cách đặt đúng kim tiêm
và kim cannuala đủ sâu tới cân thái dương
sâu. Việc tiêm trên lớp này thường thực hiện
với kim cannuala sau khi đâm vào cân thái
dương sâu. Đây là lớp tương đối ít mạch và
nông so với cơ thái dương. Sau khi tạo điểm
vào bằng kim cho tới lớp cơ thái dương, kim
cannuala nên chèn vào cân thái dương nông
và cân thái dương sâu. Ngay sau khi đặt đầu
kim cannuala vào dưới cân thái dương sâu,
kim cannuala phải hướng song song với mặt
phẳng cơ. Sau khi truyền một lượng đủ chất
làm đầy, cần thực hiện xoa ấn bằng tay để làm
đều bề mặt.
Tiêm vào lớp thứ tư trên bề mặt xương
của hố thái dương là tương đối an toàn, vì
động mạch thái dương sâu và v.v. có xu
hướng chỉ cung cấp máu vào các cơ, trong
khi sự nối thông với các mạch máu khác là
rất ít. Tuy nhiên, để tránh tiêm trực tiếp
vào mạch máu, trước hết phải kiểm tra bề
mặt xương của hố thái dương bằng kim.
Một mũi tiêm an toàn hơn có thể thực hiện
vào bề mặt xương sâu dưới cơ bằng cách sử
dụng kỹ thuật tiêm xiên góc, sau khi chạm
vào xương bằng đầu kim, thực hiện tiêm
chéo góc 45o. Trong khu vực này, mạch
máu nằm trong cơ chứ không nằm ở bề mặt
xương của hố thái dương. Vì vậy, rủi ro đối
với mạch máu có thể giảm thiểu nếu thực
hiện tiêm xiên góc để tiếp cận bề mặt
xương. Để tiếp cận bề mặt xương của hố
thái dương, nên sử dụng một mũi kim đủ
dài. Tiêm vào lớp thứ tư sẽ an toàn hơn và
có ưu thế là có ít khả năng gặp phải bất
thường trên bề mặt. Tuy nhiên, mũi tiêm
thực hiện có tính đến bất lợi là có thể cần
một lượng chất làm đầy lớn hơn do áp lực
từ cân thái dương sâu dính chặt.
3.3 Thái dương

118
Tài liệu đọc thêm
Cơ mặt và cổ
1. Lee JY, Kim JN, Kim SH, Choi HG, Hu KS, Kim HJ,
Song WC, Koh KS. Anatomical verification and des-
ignation of the superficial layer of the temporalis
muscle. Clin Anat. 2012;25(2):176–81.
Mạch máu ở mặt và cổ
2. Jung W, Youn KH, Won SY, Park JT, Hu KS, Kim
HJ. Clinical implications of the middle temporal vein
with regard to temporal fossa augmentation. Dermatol
Surg. 2014;40(6):618–23.
3. Lee HJ, Kang IW, Won SY, Lee JG, Hu KS, Tansatit
T, Kim HJ. Description of a novel anatomical venous
structure in the nasoglabellar area. J Craniofac Surg.
2014;25(2):633–5.
4. Lee JG, Yang HM, Hu KS, Lee YI, Lee HJ, Choi YJ,
Kim HJ. Frontal branch of the superficial temporal
artery: anatomical study and clinical implications
regarding injectable treatments. Surg Radiol Anat.
2015;37(1):61–8.
5. Yang HM, Jung W, Won SY, Youn KH, Hu KS,
Kim HJ. Anatomical study of medial zygomatico-
temporal vein and its clinical implication regard-
ing the injectable treatments. Surg Radiol Anat.
2014;37(2):175–80.
Dây thần kinh Ngoại biên ở Mặt và cổ
6. Won SY, Kim DH, Yang HM, Park JT, Kwak HH, Hu
KS, Kim HJ. Clinical and anatomical approach using
Sihler’s staining technique (whole mount nerve stain).
Anat Cell Biol. 2011;44(1):1–7.
3 Giải phẫu lâm sàng Vùng mặt trên để tiêm chất làm đầy

119
© Springer Science+Business Media Singapore 2016
H.-J. Kim et al., Clinical Anatomy of the Face for Filler and Botulinum Toxin Injection,
DOI 10.1007/978-981-10-0240-3_4
Giải phẫu lâm sàng vùng Mặt
giữa để Tiêm chất làm đầy

4
Kyle K. Seo, MD, PhD & Hee-Jin Kim, DDS, PhD (Illustrated by Dr. Kwan-Hyun Youn)

120
4.1
Rãnh lệ
4.1.1
Giải phẫu Lâm sàng
Rãnh lệ là những vùng bị lõm vào của phần
quanh ổ mắt nằm ở vùng giữa khoảng 1/3,
phía dưới mắt. Mí mắt dưới có thể tạo ra chỗ
gợn lên trong khu vực này, tạo nên một vẻ
ngoài trông mệt mỏi (Hình 4.1)
Rãnh lệ hình thành ở bờ, nơi gặp nhau
mà phần da tương đối mỏng từ dưới lông mày
và phần da tương đối dày từ mũi. Rãnh lệ có
thể xuất hiện ở mọi đối tượng ở mọi lứa tuổi.
Rảnh lệ hình thành thấy rõ vì nhiều lý do; tuy
nhiên, sự giảm thể tích các mô xung quanh
vùng quanh ổ mắt là lý do quan trọng nhất.
Thoát vị mô mỡ ổ mắt, sự kéo căng da, và
sự thay đổi thể tích các mô có thể là nguyên
nhân bổ sung. Phân tích tử thi cho thấy hai
đến ba dây chằng giữ cơ vòng (ORL) ép cơ
vòng mi sâu vào xương. Trên thực tế, khu
vực quanh ổ mắt chùng xuống kết hợp với
các sợi cơ phía dưới của cơ vòng mi để tạo
ra hình ảnh bị treo bởi các sợi ORL.
Ngoài ra, có thể quan sát thấy góc nhô ra
của mỡ chùng xuống phía dưới vùng quanh
ổ mắt (Hình 4.2).
Các ORL đóng vai trò như một chiếc neo từ
cơ vòng mi đến ổ mắt. Cơ vòng mi gắn trực
tiếp vào xương từ mào lệ trước viền ổ mắt
trong. ORL thay thế cơ tại điểm này để chạy
theo ổ mắt và kéo dài ra phía ngoài. Phần giữa
của ORL gắn chặt vào phần sâu của cơ vòng
mi (Hình 4.3a). Trong khi đó, phần ngoài của
ORL khác với phần trong ở điểm là nó bao
gồm các vách ngăn lỏng lẻo và kéo dài (Hình
4.3b).
Chắc chắn rằng các ORL gắn liền với bề mặt
của viền ổ mắt bao gồm nhiều chứ không phải
một dây chằng duy nhất gắn kết sâu hơn tới lớp
sâu của cơ vòng mi. Tuy nhiên, không có gắn
kết trực tiếp nào bởi ORL vào lớp hạ bì của da
(Hình 4.4).
Tĩnh mạch mí mắt dưới và tĩnh mạch góc đi
ngang qua khu vực gần rãnh lệ, do đó, nên sử
dụng cannuala để ngăn bầm tím (Hình 4.5).
Hình. 4.1 Rãnh nước
mắt
4 Giải phẫu lâm sàng vùng mặt giữa để Tiêm chất làm đầy

121
Dây chằng giữ lại cơ vòng
Cơ vòng mi
Dây chằng giữ lại cơ vòng
Mỡ dưới cơ vòng mi
(SOOF)
Cơ nâng môi trên
Mỡ dưới ổ mắt
a
b
Mỡ dưới ổ mắt chùng xuống
Da (bọc ở mí mắt)
Hình. 4.2 Mặt cắt đứng dọc giữa mí mắt dưới ở người trẻ (a) và người đã bị lão hóa (b)
4.1 Rãnh nước mắt
a
b
Vách ổ mắt
Cơ vòng mi
Dây chằng giữ lại cơ vòng
Hình. 4.3 Phần ngoài ( a ) và phần trong ( b ) của dây chằng giữ lại ổ mắt

122
Dây chằng giữ lại cơ vòng
a
Cơ vòng mi
b
Hình. 4.4 Mặt cắt mô học của mí mắt dưới có đường viền chỗ nối mí-má bình thường ( a ) và vi ánh phóng đại
của nó ( b )
Tĩnh mạch mặt Tĩnh mạch mí mắt dưới.
Tĩnh mạch góc
Hình. 4.5 Tĩnh mạch mí
mắt dưới
4 Giải phẫu Lâm sàng vùng Mặt giữa để Tiêm chất làm đầy

123
4.1.2
Các vị trí Tiêm và phương pháp
tiêm
Cần ghi nhớ hai lớp khi tiến hành tiêm chất
làm đầy. Khi mô mềm nằm dưới ORL bị teo
nghiêm trọng, chất làm đầy nên tiêm sâu vào
lớp mỡ dưới cơ vòng mi (SOOF) của khoang
trước gò má để khôi phục thể tích. Khi thể tích
của SOOF khôi phục, chất làm đầy nên tiêm vào
mô dưới da nằm ở phần trên của cơ vòng mi
để tạo nên một vẻ ngoài được trau chuốt tỉ mỉ
(Hình 4.6 và 4.22a). Thông thường, việc tiêm
chất làm đầy vào lớp nông của cơ vòng mi sẽ
khiến chất làm đầy bị vón cục; tuy nhiên việc
điều trị bằng chất làm đầy trên rãnh lệ là một
ngoại lệ, khi mà việc tiêm chất làm đầy vào lớp
nông của cơ vòng mi đưa đến những kết quả
lâm sàng tốt hơn.
Chỉ sử dụng chất làm đầy HA. Vì các chất làm
đầy chứa các chất phát sinh của collagen như
canxi có thể vón thành cục, cho nên không nên
sử dụng các loại chất làm đầy này cho bệnh
nhân có da mỏng. Nên khuyến nghị dùng các
chất làm đầy HA có khả năng giữ nước thấp,
bởi vì các chất làm đầy HA có khả năng giữ
nước cao có thể dẫn đến sưng phồng dai dẳng
1-2 tuần sau khi tiêm. Bên cạnh đó, cần phải
khuyến cáo sử dụng chất làm đầy mềm thích
hợp có độ nhớt-đàn hồi thấp để tránh vón cục.
Vì nhiều mạch máu đi qua khu vực ổ mắt, cho
nên, việc sử dụng cannuala được khuyến nghị
đặc biệt. Điểm vào của kim cannuala phải cách
điểm rãnh lệ 1 cm theo đường thẳng (Hình
4.7). Khi tiêm vào lớp SOOF, nên đặt cannuala
cỡ 23-27 G; khi tiêm vào lớp nông của cơ vòng
mi nên sử dụng cannuala 30 G.
4.1 Rãnh nước mắt
Hình. 4.6 Kỹ thuật
tiêm chất làm đầy lên
rãnh nước mắt sử
dụng kim cannuala

124
4.2
Rãnh giữa má
4.2.1
Giải phẫu Lâm sàng
Rãnh dưới má ám chỉ sự chùng xuống của vùng
kéo dài từ khóe mắt trong đến vùng gò má trước.
Rãnh mí dưới-má có thể bao gồm cả rãnh nước
mắt (Hình 4.8). Bất kể lứa tuổi, rãnh mí dưới-má
có thể kéo dài đến rãnh giữa má (dải Ấn Độ). Sự
lõm xuống của vùng ổ mắt dưới không chỉ dẫn
đến một quầng thâm rõ rệt mà còn tạo ra vẻ ngoài
mệt mỏi, già nua.
Vùng gò má trước bao gồm các lớp mô sau
đây: da, lớp mỡ gò má nông, cơ vòng mi, mỡ
dưới cơ vòng mi (SOOF), lớp cơ của cơ nâng
môi trên và cơ gò má nhỏ, và màng xương của
hàm trên nơi các dây thần kinh dưới ổ mắt
xuất hiện (Hình 4.9). Trong vùng này, các dây
chằng da gò má nằm dọc theo viền dưới cả cơ
vòng mi (Hình 4.10).
Cơ vòng mi có vai trò phân chia đệm mỡ
gò má thành lớp nông và lớp sâu. Phần của
lớp sâu nằm phía dưới cơ vòng mi được gọi
là mỡ dưới cơ vòng mi (SOOF) (Hình 4.11).
Sự phân bố mỡ tạo nên đệm mỡ gò má thay
đổi theo độ tuổi. Lão hóa không chỉ dẫn đến
sự yếu đi và chùng xuống của phần dưới của
SOOF mà còn dẫn đến sự võng xuống của đệm
mỡ gò má phía trên nếp gấp mũi môi. Trong
khi đó, dây chằng gò má hỗ trợ và ngăn hiện
tượng chùng
xuống của phần trên của SOOF, do đó đệm
mỡ gò má có thể được chia thành phần trên
và phần dưới bằng rãnh giữa má. Nếu sự nhô
ra của mỡ dưới ổ mắt kèm theo chứng sa mi
mắt dưới, rãnh lệ sẽ võng xuống nhiều hơn.
Ở khoảng 30% người châu Á, động mạch
góc đi vòng quanh vùng gò má trước trong
khi đi theo bờ dưới-giữa của dải cơ trong của
cơ vòng mi. Do đó, khi tiêm chất làm đầy vào
rãnh giữa má, phải cẩn thận để tránh gây tổn
thương động mạch này (Hình 4.12). Đặc biệt
khuyến nghị sử dụng kim cannuala. Ngay cả
khi sử dụng kim cannuala, cần thận trọng để
không chọc vào các mạch máu trên mặt với
áp lực quá lớn.
Hình. 4.8 Rãnh mí dưới-má
Cơ vòng mi
Dải cơ trong của cơ
vòng mi
Sản phần chất làm đầy được
nhuộm màu (màu xanh lá cây đậm)
Hình. 4.7 Chất làm đầy
được tiêm một cách phù
hợp và SOOF để điều trị
rãnh nước mắt của tử thi
4 Giải phẫu Lâm sàng vùng Mặt giữa để Tiêm chất làm đầy

125
Cơ vòng mi
Mỡ dưới ổ mắt
Mỡ dưới cơ vòng mi
(SOOF)
Dây thần kinh dưới ổ mắt
Cơ nâng môi trên
Cơ vòng môi
Mỡ giữa gò má nông
SMAS
Vách ngăn ổ mắt
Cơ nâng cánh mũi môi
trên
Hình. 4.9 Các lớp giải phẫu của mặt giữa
4.2 Rãnh mí dưới-Má
Dây chằng da gò má
Cơ vòng mi
a
b
Dây chằng da gò má
Tĩnh mạch mí mắt dưới
Hình. 4.10 Dây chằng da gò má (a nhìn từ trên xuống, b nhìn chính diện)

126
Gờ ổ mắt
Phần thuộc mí mắt
Phần thuộc ổ mắt
SOOF
a
Gờ ổ mắt
Vách ổ mắt
b
Cơ vòng mi
Hình. 4.11 Giải phẫu của mỡ dưới cơ vòng mi ( SOOF ). ( a ) Giải phẫu mí mắt dưới cho thấy phần phía trên
của mỡ dưới cơ vòng mi (SOOF) ( b nhìn từ trên xuống)
Nhánh đi vòng
Động mạch môi trên
Động mạch môi dưới
Hình. 4.12 Nhánh đi vòng của động mạch mặt dọc rãnh mí dưới-má
4 Giải phẫu Lâm sàng vùng Mặt giữa để Tiêm chất làm đầy

127
4.2.2
Các vị trí Tiêm và phương pháp
Tiêm
Độ sâu của mũi tiêm chất làm đầy là độ sâu
của khoang trước gò má trong lớp SOOF (Hình.
4.13a and 4.22 ). Mặc dù nguời ta thường nói
rằng mũi tiêm nên nhắm vào ngay phía trên
vùng màng xương trong khoang trước gò má,
tuy nhiên các mũi tiêm đặc biệt nhắm vào
lớp SOOF sâu hơn phía trên cơ nâng môi trên
và cơ gò má nhỏ. Thứ nhất, các chất làm đầy
nên tiêm sâu vào lớp SOOF để làm đầy tất cả
các phần bị hóp của khoang trước gò má. Thứ
hai, các chất làm đầy nên tiêm vào lớp dưới
da phía trên cơ vòng mi.
Nên tiến hành tiêm chất làm đầy theo
nguyên tắc là, trước tiên, tiêm chất làm đầy
ngay tại phần trung tâm của khu vực bị lõm
nhiều nhất và phần chất làm đầy còn lại sẽ
tiêm tương ứng ở
phía trên và phía dưới phần trung tâm để tạo
ra độ cong tự nhiên.
Việc sử dụng kim cannuala được khuyến
nghị do có nhiều mạch máu ở vùng này. Thông
thường, điểm đặt kim cannuala phải được
đặt thẳng đứng cách phần dưới của rãnh
giữa má 1cm. Trong hầu hết các trường hợp,
vị trí bắt đầu tiêm tương ứng với điểm nơi mà
đường vuông góc bắt đầu từ khóe mắt ngoài
giao với đường nằm ngang đi qua bờ dưới
của cánh mũi (Hình 4.13b,c). Tuy nhiên, vị trí
bắt đầu tiêm nên điều chỉnh theo chiều dài
và hướng của rãnh giữa má. Khi tiêm vào lớp
SOOF vì mục đích khôi phục thể tích, nên
sử dụng chất làm đầy HA kết hợp với kim
cannuala 23-27 G. Kkíicmh cỡnnuala quyết
định tùy thuộc vào sản phẩm làm đầy. Thay
vì chất làm đầy có chứa canxi
4.2 Rãnh mí dưới-Má
b
c
a
Tĩnh mạch mí mắt dưới
Khoang trước gò má
Hình. 4.13 Khoang trước gò má phía dưới cơ vòng mi ( a ) và các kỹ thuật tiêm chất làm đầy cho và rãnh mí
dưới-má sử dụng kim cannuala ( b , c )

128
vá các chất phát sinh của collagen, chất làm
đầy HA có thể tan rã là lựa chọn an toàn nhất.
4.3
Rãnh mi dưới-gò má
4.3.1
Giải phẫu Lâm sàng
Rãnh mi dưới-gò má hình thành dọc gờ ổ mắt
bên ở phía dưới giữa cạnh ngoài của mí mắt
dưới và gò má. Rãnh mi dưới-gò má có thể
không đều và có chỗ sưng lên, khiến cho các
quầng thâm mắt trở nên rõ rệt. Rãnh mi dưới-
gò má có thể hình thành do sự nhô ra của
mỡ dưới ổ mắt và sự tích tụ của ụ mỡ gò má
(Hình 4.14).
4.3.2
Các vị trí Tiêm và phương pháp
tiêm
Nên chèn kim cannuala cách góc mắt ngoài 0,5
cm (Hình 4.15). Nên dùng kim cannuala 30 G để
làm đầy rãnh này. Trước tiên, nên tiêm chất làm
đầy sâu vào mặt trong của vách ngăn ổ mắt để làm
tăng thể tích tổng thể. Nếu thể tích tạo ra không
đủ sau khi tiêm sâu, nên tiêm chất làm đầy ở phía
trên cơ vòng mi một chút.
4.4
Nếp gấp mũi môi
4.4.1
Giải phẫu Lâm sàng
Rãnh mũi môi bắt đầu ở rãnh cánh mũi và
rãnh cánh mũi-má chạyxuống dưới bên cạnh
môi trên. Rãnh mũi môi không phải là một
nếp nhăn đơn giản, mà là một đường cong ba
chiều độc đáo ở chỗ nó là kết quả của một nếp
nhăn hình thành làm ranh giới trong của đệm
mỡ gò má do sự chèn ép da của cơ nâng môi
trên và cơ gò má lớn dọc theo mũi môi. Kết
quả là, rãnh mũi môi có thể được định nghĩa
là một trong những thành phần tự nhiên của
khuôn mặt chứ không phải là một rãnh hình
thành do lão hóa (Hình 4.16).
Các cơ nâng môi trên, chẳng hạn như cơ nâng
cánh mũi môi trên (LLSAN), cơ nâng môi trên
Hình. 4.14 Rãnh mi dưới-gò má
Hình. 4.15 Kỹ thuật
tiêm chất làm đầy cho
rãnh mi dưới-gò má
sử dụng kim cannuala
4 Giải phẫu Lâm sàng vùng Mặt giữa để Tiêm chất làm đầy

129
(LLS), cơ gò má nhỏ (Zmi), gắn vào da tại
rãnh mũi môi dọc theo đường lên môi trên và
cơ vòng môi (Hình. 4.17 ).
Rãnh mũi môi có thể sâu, dài và rõ rệt hơn
do sự võng xuống của da và đệm mỡ gò má, sự
teo lại của mỡ má sâu bên trong, và các thay
đổi trong cấu tạo mỡ (Hình 4.16). Tuy nhiên,
sự gắn kết của các cơ nâng môi trên vào da
trên rãnh mũi môi làm cho mỡ gò má không
chảy thêm xuống tận dưới rãnh mũi môi,
nhưng sẽ làm cho rãnh mũi môi tự nhiên trở
nên tệ hơn. Bên cạnh đó, chuyển động cơ lặp
đi lặp lại cùng với tuổi tác có thể tạo ra rãnh
mũi môi trên da.
Trong khoảng 77% người châu Á, các động
mạch trên mặt chạy ngang hơi hướng đến mặt
trong của nếp gấp mũi môi (Hình. 4.18 ); do đó,
nên cẩn trọng để tránh nguy cơ tiêm nội mạch
khi tiêm chất làm đầy vào vùng này. Ngoài ra,
trong khoảng 56% (kiểu mũi môi (37%) và kiểu
trán (18.6 %), Hình. 1.43 ) người châu Á, một
phần động mạch môi trên và động mạch mũi
bên có tiếp xúc với cơ vòng môi tại mặt trong
của nếp gấp mũi môi. Nên cẩn trọng khi tiêm
nông phía dưới nếp gấp mũi môi do có thể sẽ
bị bầm tím nặng.
Động mạch mặt và các nếp gấp mũi môi ở
người châu Á
Ở 93,3% người châu Á, động mạch mặt chạy
gần nếp gấp mũi môi. Hình 4.19 mô tả động mạch
mặt trong mối quan hệ với nếp gấp mũi môi. Động
mạch mặt nằm ở phía ngoài, cách cánh mũi 3.2 ± 4.5
mm; động mạch cũng nằm cách góc môi 13.5
± 5.4 mm.
Với 42,9% người châu Á, {nasal division}
của động mạch mặt chạy ngang qua mặt
trong của rãnh mũi môi; ở 23,2% người châu
Á, {nasal division} của động mạch mặt chạy
ngang qua mặt ngoài của rãnh mũi môi. Ở các
trường hợp còn lại (33,9%), động mạch mặt
chạy ngang qua rãnh mũi môi (Hình 4.19). Ở
43% người châu Á, động mạch mặt trèo lên
trên cách rãnh mũi môi 5mm.
Ở 30% người châu Á, nhánh đi vòng của
động mạch mặt (loại II) chạy dọc theo rãnh mí
dưới-má và chuyển hướng sang phía trong tại
khu vực dưới ổ mắt (Hình 4.20). Khoảng cách
trung bình được thể hiện trong Hình 4.20.
Hình. 4.16 Nếp gấp mũi môi
4.4 Nasolabial Fold
Cơ nâng cánh mũi môi trên.
Cơ nâng môi trên.
Cơ gò má nhỏ.
Cơ gò má lớn.
Nếp gấp mũi môi.
Hình. 4.17 Sự chèn ép da của các phần của cơ nâng môi trên và nếp gấp mũi môi

130
B (42.9 %)
D (19.6 %)
E (14.3 %)
C (23.2 %)
Hình. 4.19 Vị trí động
mạch mặt liên quan
đến nếp gấp mũi môi
ở quần thể người Hàn
Quốc và Thái Lan
Cơ gò má nhỏ
Động mạch mặt
Cơ nâng cánh mũi môi
trên
Nếp gấp mũi môi
Hình 4.18 Nhánh
động mạch mặt bên
dưới nếp gấp mũi môi
(đường nét đứt)
4 Giải phẫu Lâm sàng vùng Mặt giữa để Tiêm chất làm đầy

131
4.4 Nếp gấp mũi môi
Hình . 4.20 Vị trí nhánh đi vòng của động mạch mặt. V1
đường thẳng đứng chạy qua điểm chính giữa giữa khóe
mắt trong và khóe mắt ngoài, V2 đường thẳng đứng
chạy qua khóe mắt trong, HL đường nằm ngang chạy
qua khóe mắt trong của cả hai bên, A điểm chuyển
hướng của đường cong động mạch mặt, B điểm giao
nhau giữa động mạch mặt với V1, C điểm giao nhau
giữa động mạch mặt với V2 (OOc cơ vòng mi)
Hình. 4.21 Kỹ thuật tiêm chất làm đầy cho nếp gấp
mũi môi sử dụng kim cannuala
4.4.2
Các vị trí tiêm và phương pháp
tiêm
Trước khi tiêm rãnh mũi môi, bác sĩ nên
tưởng tượng rãnh mũi môi như là một tam
giác cân. Tam giác này bao gồm một đường
cơ sở từ điểm xuất phát của rãnh mũi môi
tới biên dưới của cánh mũi, và cạnh dài phía
trên của tam giác là rãnh mũi-môi. Cạnh dài
còn lại phía dưới của tam giác là vùng lõm
dưới rãnh mũi môi. Nên tiêm các chất làm
đầy với mục đích điều chỉnh thể tích vùng
lõm dưới của tam giác cân với đường viền
của lớp mỡ ở phía trên của tam giác này
(Hình 4.21) .
Trước tiên, cần tiến hành phục hồi thể tích
với chất làm đầy trong hố nanh (Hình 4.22);
sau đó tiêm chất làm đầy lùi lại

132
từ một vị trí tiêm nằm trong cách nếp gấp mũi
môi 1-5 mm. Khi tiêm vào hố nanh, nên tiêm
ngay trên màng xương. Ở phần trong của nếp
gấp mũi môi, thực hiện tiêm trên lớp nông
của
Tiêm dưới da đối với rãnh nước mắt
Tiêm sâu đối với rãnh mí dưới-má ở
khoang trước gò má
Tiêm sâu đối với nếp gấp mũi môi
a
b
Hình. 4.22 Các mặt phẳng thích hợp để tiêm chất làm đầy lên vùng mặt giữa (a) và hai mặt phẳng tiêm có khả
năng an toàn để nâng nếp gấp mũi môi (b)
4 Giải phẫu Lâm sàng vùng Mặt giữa để Tiêm chất làm đầy

133
cơ vòng môi (Hình 4.23). Tiêm vào hạ bì cũng
có thể là một phương pháp điều trị phối hợp
hiệu quả khi rãnh này trên mặt quá rõ (Hình
4.22b).
Điều trị Nếp nhăn mũi môi và động mạch
Mặt bằng chất làm đầy
Động mạch mặt là điểm quan trọng cần thận
trọng. Thiếu máu cục bộ của động mạch mặt
do tiêm vào nội mạch hoặc dồn nén ngoài
mạch có thể dẫn đến hoại tử da. Đây là một
trong những tác dụng phụ thường gặp nhất
khi tiêm chất làm đầy. Động mạch mặt là
một mạch máu chính trên mặt đi ra từ động
mạch cảnh ngoài. Người ta biết là nên tiến
hành phía trước trên từ vùng trước cơ cắn
phía trước góc hàm dưới đến phần tiếp giáp
của mũi. Động mạch mặt phân ra các nhánh
của môi dưới, môi trên, mũi ngoài, và động
mạch góc trên mặt.
Ở mặt dưới, động mạch mặt nằm sâu hơn
cơ bám da cổ và cơ hạ góc miệng. Do động
mạch tiếp tục đi lên phía trên, nó chạy giữa
cơ cười và cơ gò má lớn ngay trước đệm mỡ
má. Trong vùng này, động mạch mặt không
bao giờ đi cùng bởi bất kỳ cơ nào. Tại vị trí
này, động mạch mặt cho thấy bề ngoài dạng
như con rắn, con heo
hơn nữa, động mạch không được bảo vệ từ
lớp cơ bên dưới lớp mỡ nông. Động mạch
thường nằm bên cạnh góc miệng (Hình 4.24).
Tiêm chất làm đầy trong vùng này có thể
làm đứt động mạch mặt theo sau đó là tụ
máu nhiều, bầm tím, phù nề trên diện rộng.
Cần xem xét đến hiện tượng tụ máu nếu xảy
ra vết sưng ngoài đột ngột trên má hoặc nếu
bệnh nhân biểu hiện ra nổi lên da hình hạt
sồi và hạt dẻ trong quá trình tiêm chất làm
đầy.
Để ngăn ngừa tác dụng phụ nêu trên, bác
sĩ phải thường xuyên nhận thức được sự có
mặt của nhánh động mạch mặt dưới da mặt
trong quá trình chọc kim tìm điểm vào; do
đó, bác sĩ phải thận trọng để đảm bảo rằng
kim nhẹ nhàng xuyên qua da khi tạo điểm
vào cho kim cannuala. Hơn nữa, cần sử dụng
kim cannuala có kích thước lớn, tối thiểu là
27G, để giảm nguy cơ chọc vào hoặc làm tổn
thương các mạch máu. Hơn nữa, đầu kim
cannuala phải đi vào mặt trong trên gần phía
mũi trước tiên, và sau đó phải chầm chậm
tiêm lùi chất làm đầy sau khi
4.4 Nếp gấp mũi môi
Động mạch mặt
Sản phẩm chất làm đầy được
nhuộm màu (màu xanh là cây đậm)
nằm trong nếp gấp mũi môi
Hình. 4.23 Tiêm chất làm đầy trên nếp gấp mũi môi của tử thi có sử dụng kim cannuala (tiêm sâu)

134
nhận thấy là không gây ra tổn thương mạch
máu. Cách tiêm này giúp ngăn không cho chất
làm đầy thấm vào bất kỳ mạch máu bị tổn
thương nào.
Vùng bên phía trên tính từ góc miệng là
một vùng nguy hiểm khác khi tiêm chất làm
đầy vào rãnh mũi môi. Nhánh môi trên là
phần cung cấp chính của môi trên. Trong hầu
hết các trường hợp, động mạch môi trên phân
nhánh từ động mạch mặt và điểm phân nhánh
của nó nằm trong hình vuông cạnh 1,5 cm ở
mặt bên phía trên của góc môi (Hình 4.25 ).
Sau khi độngmạchmôi trênphân nhánhtừ động
mạch mặt, nó chạy phía trên đường viền môi
dưới cơ vòng môi, với độ sâu tối thiểu là 3mm.
Sau đó nó chạy dưới đường viền môi trước khi
đến gần điểm cao nhất của cung Cupid. Phải cẩn
thận khi tiêm kim tiêm vào vùng này hoặc khi
tạo điểm vào cho kim cannuala bằng kim tiêm.
Do đó, khi tiêm chất làm đầy vào rãnh mũi môi,
các vị trí tiêm nên đặt cách điểm kết thúc nếp
gấp mũi môi 1 cm hoặc vị trí cách bên 1 cm và
dưới 1 cm tương ứng từ góc môi.
15 mm
15 mm
Hình. 4.25 Hai vùng nguy
hiểm trong khi tiêm chất làm
đầy đối với nếp gấp mũi môi
(hộp màu xanh lá vùng phân
nhánh của động mạch môi
trên, vòng tròn màu tím phần
còn lại của động mạch mặt
không bao phủ cơ)
Cơ gò má lớn
Cơ cười
Phần cuộn lại của động
mạch mặt
Đệm mỡ má
Hình. 4.24 Phần cuộn lại của động mạch mặt giữa cơ cười và cơ gò má lớn không bao phủ cơ
4 Giải phẫu Lâm sàng vùng Mặt giữa để Tiêm chất làm đầy

135
Kích thước của kim cannula phải thay đổi trong
khoảng 23-27 G theo loại chất làm đầy được sử
dụng (Hình. 4.22 ).
4.5
Má hóp
4.5.1
Giải phẫu Lâm sàng
Sự lõm xuống của má không chỉ tạo ra vẻ bề ngoài
lão hóa và mệt mỏi mà còn dẫn đến sự nhô lên của
vòm gò má. Trong số các quần thể người châu Á
ưa chuộng má căng tròn, điều trị bằng chất làm
đầy đối với má hóp khá là phổ biến. Hơn nữa, sự
lõm xuống của má trước dẫn đến sự đặc biệt dễ
nhận thấy của nếp gấp mũi môi bằng cách trùng
khớp má với nếp gấp mũi môi (Hình 4.26).
Má bao gồm phần da, lớp mỡ dưới da, cơ
mặt và SMAS, đệm mỡ má, cơ mút và niêm
mạc miệng (Hình 4.27). Mỡ trong má có thể
chia thành lớp nông của mô mỡ trên cơ mặt
và đệm mỡ má sâu vào các cơ mặt. Đệm mỡ
miệng (đệm mỡ Bichat) là một trong vài mô
mỡ được
bao trong vỏ nang. Đệm mỡ này là đệm mỡ
sâu nằm giữa cơ mút và một số cơ nông. Phần
dưới của đệm mỡ má có trong khoang má. Mô
mỡ bao gồm các tiểu thùy nhỏ, và hai mô mỡ
có thể phân biệt được ngay cả khi dùng mắt
thường. Đệm mỡ má bao gồm thân trung tâm
(Thùy má) nằm sát với cơ mút; mặt bên được
bao quanh bởi cơ nhai, một vài trong số các cơ
mặt, và tuyến mang tai (Hình 4.27 và 4.28).
Không nên nhầm lẫn với mô mỡ gò má nằm
dưới da má. Các phần mở rộng của đệm mỡ
má nằm ở hố chân bướm khẩu cái (thùy), hố
thái dương (thùy), và khoang má (thùy). Từ góc
nhìn thẩm mỹ, thân trung tâm và các vùng mở
rộng vô cùng quan trọng vì chúng chiếm 50%
trong tổng mỡ má và teo mỡ má theo độ tuổi
làm má hóp thêm trầm trọng. Đệm mỡ má được
nâng đỡ bởi cơ cười, và sự lão hóa của cơ cười
thường dẫn đến sự chúng xuống của má trước
và rãnh môi- má (Hình 4.28).
4.5.2
Các vị trị chèn và phương pháp
chèn
Hai lớp tiêm có khả năng là lớp mỡ dưới da
và đệm mỡ má (Hình 4.29a). Do việc tiêm vào
đệm mỡ má đòi hỏi một lượng lớn chất làm
đầy dù cho má hóp là do teo mỡ má, việc tiêm
chất làm đầy vào đệm mỡ má không thường
khuyến khích trừ trường hợp má hóp nghiêm
trọng. Do tính chất chặt khít và rắn chắc của
đệm mỡ má, việc tiêm chất làm đầy có thể làm
cằm đôi trầm trọng thêm trong một số trường
hợp.
Vùng tiêm lý tưởng cho má hóp là vùng từ
rãnh mũi môi đến cơ cằm và vùng từ phần
dưới của vòm gò má đến điểm chảy xệ của
má. Trong trường hợp này, khuyến cáo sử
dụng kim cannuala vì vùng mục tiêu rộng.
Vị trí vào của kim cannuala phải được đặt
cách bên 1 cm và dưới góc miệng (góc môi)
2 cm (Hình 4.29b). Dù các chất dẫn xuất của
collagen chẳng hạn như chất làm đầy có chứa
canxi có thể được sử dụng, việc sử dụng chất
làm đầy HA có thể giáng hóa được khuyên
dùng.
4.5 Má hóp
Hình 4.26 Má hóp

136
Vòm gò má
Đệm mỡ má
Cơ mút
Cơ gò má lớn
Đệm mỡ
nông
Cơ thái dương
Cơ cắn
Hàm dưới
Đệm mỡ má
Tĩnh mạch mặt
Cơ cười
Tuyến mang tai
a
b
Hình. 4.27 Mặt cắt vành ( a ) và mặt cắt ngang ( b ) của đầu cho thấy đệm mỡ má
4 Giải phẫu Lâm sàng vùng Mặt giữa để Tiêm chất làm đầy

137
4.5 Má hóp
Cơ gò má lớn
Cơ cười
Đệm mỡ má
Cơ gò má lớn
Cơ cười
Thùy má
Cơ cắn.
Thùy thái dương
Thùy chân bướm - hàm
dưới
Đệm
mỡ má
a
b
Hình. 4.28 Đệm mỡ má và thùy của đệm mỡ má ( a , b )

138
4.6
Lõm dưới gò má
4.6.1
Giải phẫu lâm sàng
Lõm dưới gò má dẫn đến gò má bị nhô ra.
Điều trị bằng chất làm đầy đối với lõm dưới
gò má đề nghị cho những ai muốn có một
khuôn mặt đầy đặn với gò má đỡ nhìn thấy
hơn (Hình 4.30).
Dây chằng da cơ cắn tạo thành từ bờ dưới của
vòm gò má đến bờ trước của cơ cắn (Hình.
1.25). Dây chằng này là một trong những dây
chằng giữ giả và gắn với phần da bao phủ
SMAS và má. Theo độ tuổi, dây chằng này trở
nên lỏng lẻo, và SMAS bao phủ cơ cắn chùng
xuống. Điều này cũng dẫn đến sự chùng xuống
của toàn bộ vùng má.
a
b
1 cm
Hình. 4.29 Kỹ thuật tiêm chất làm đầy đối với má hóp ( a ) và các mặt phẳng tiêm dưới da thích hợp ( b )
4 Giải phẫu Lâm sàng vùng Mặt giữa để Tiêm chất làm đầy

139
4.6.2
Các vị trí tiêm và phương pháp
tiêm
Độ sâu của việc tiêm chất làm đầy phải là ở
mô mỡ dưới da trên cơ cắn. Vùng tiêm có thể
xác định bởi các thông số sau: vòm gò má
(trên), 1/2 giữa cơ cắn (dưới), và bờ trước và
bờ sau của cơ cắn (lần lượt là trước và sau).
Tiêm chất làm đầy nên tiến hành để tạo ra sự
chuyển tiếp từ vùng lõm nhất dưới vòm gò
má đến giữa cơ cắn.
Vị trí vào của kim cannuala phải đặt ở vị trí
giao nhau giữa đường thẳng đứng vẽ từ góc
mắt ngoài và đường xiên vẽ từ góc miệng đến
gờ bình tai.
Khó có thể tăng khối lượng [chất làm đầy]
đối với lõm dưới gò má, do mô liên kết dày
đặc bên dưới da. Trong vùng này, có rất nhiều
cấu trúc mạc cứng chắc, và việc tiêm nhiều
chất làm đầy có thể dẫn đến các nhấp nhô
không mong muốn và phình ra trong quá trình
cử động. Một phương pháp khả thi là phá vỡ
sự gắn kết của các cân dày đặc bằng kim tiêm
nhọn và tiêm chất làm đầy sau đó; tuy nhiên,
có thể có vết thâm tím và ống tuyến mang
tai bị thương tổn (Hình 4.31). Có thể sử dụng;
chất dẫn xuất của collagen chẳng hạn như
chất làm đầy chứa canxi, nhưng chất làm đầy
HA là an toàn nhất.
4.7
Mũi
4.7.1
Giải phẫu Lâm sàng
Mũi, nằm ở phần trung tâm của khuôn mặt,
đóng vai trò thẩm mỹ quan trọng trong
việc tạo ra sự hài hòa cân đối giữa mắt và
miệng (Hình. 4.32). Đối với những người
châu Á có sống mũi tương đối thấp thì
việc tiêm chất làm đầy thay vì phẫu thuật
tạo hình mũi có thể là phương pháp đơn
giản và hiệu quả cho việc nâng mũi. Dù
các chất làm đầy có lợi thế là ít xâm lấn
hơn so với phẫu thuật, lượng chất làm đầy
sẽ giảm dần theo thời gian bằng cách
phân giải một cách tự nhiên, và cần phải
tiêm định kỳ để duy trì kết quả lâm sàng.
Về vấn đề an toàn, các tác dụng phụ chẳng
hạn như có thắt mũi có thể xảy ra sau
phẫu thuật không liên quan đến quy trình
tiêm chất làm đầy; tuy nhiên, hiệu quả
thẩm mỹ của các phương pháp điều trị
bằng chất làm đầy hạn chế ở chỗviệc tiêm
chất làm đầy không thể làm cho đầu mũi
tù sắc nét hơn hoặc làm mũi lớn nhỏ đi,
loại bỏ chỗ lồi, và thu hẹp mũi rộng. Tuy
nhiên, trong số các quần thể người châu
Á có nhu cầu nâng mũi, việc tiêm chất làm
đầy thường là phương pháp thay thế
thích hợp cho quy trình phẫu thuật xâm
lấn.
Vì các tiêu chí về vẻ đẹp thẩm mỹ thay đổi
đối với các quần thể khác nhau nên rất khó để
đưa ra một góc mũi lý tưởng được cho là hấp
dẫn nhất. Tuy nhiên, nó giúp ghi nhớ một loạt
các góc mũi đem đến cho con người ta vẻ ngoài
hấp dẫn: góc mũi trán, 115-130o; góc mũi mặt,
35-30o; và góc mũi môi, 90-110o (Hình 4.33).
Người châu Á thương có da dày hơn và mô
dưới da nhiều hơn sơ với người Da trắng. Từ
góc độ thẩm mỹ, có nhiều mô mềm trong mũi
giúp giảm đến mức thấp nhất vẻ ngoài nhấp
nhô dễ xảy ra ở người Da trắng hơn. Khi điều
trị các trường hợp đặc biệt chẳng hạn như mũi
khoằm, bác sĩ phải ý thức được rằng chỗ nối
giữa xương mũi (rhinion) là vùng mỏng nhất
của sống mũi.
4.7 Mũi
Hình. 4.30 Lõm dưới gò má

140
Từ góc độ lâm sàng, mô dày dưới da ở các
quần thể châu Á là một điểm cần thận trọng
bởi vì tiêm không đúng cách có thể dẫn đến
tiêm vào nội mạch các sản phẩm chất làm
đầy trong lớp dưới da.
Mô mềm của mũi bao gồm da, lớp mỡ
nông,
lớp cân, lớp mỡ sâu, và màng xương hoặc
màng sụn (Hình 4.34). Lớp cân nằm giữa
lớp mỡ nông và lớp mỡ sâu. Các cơ gần mũi
nối với nhau bởi SMAS (lớp cân cơ nông)
bao quanh vùng mặt.
b
a
Hình. 4.31 Kỹ thuật
tiêm chất làm đầy đối
với lõm dưới gò má
(a) và các mặt phẳng
tiêm dưới da thích
hợp (b)
4 Giải phẫu Lâm sàng vùng Mặt giữa để Tiêm chất làm đầy

141
4.7 Mũi
Gốc mũi
Chỗ nối giữa
xương mũi
Cánh mũi
Gai mũi trước
Đỉnh mũi
Hình. 4.32 Các mốc nhân chủng
học trên mũi
Điểm cằm
Góc mũi
trán
115–130°
Điểm giữa hai đầu lông mày
Góc mũi
mặt
36°
Góc mũi
mặt
90–110°
Gai mũi trước
Gốc mũi
Hình. 4.33 Các góc mặt lý tưởng

142
Người ta biết rằng các động mạch chính của
sống mũi nằm ở các lớp mỡ nông hoặc sâu. Tuy
nhiên, ở phần dưới của sống mũi, các nhánh
động mạch sống mũi nằm gần kề lớp cân và
lớp mỡ sâu (Hình 4.34). Mặt khác, ở phần trên
của sống mũi (mũi xương), động mạch sống
mũi chạy trong lớp mỡ nông ngay trên lớp cân
(Hình 4.35).
Các cơ cạnh mũi bao gồm (1) cơ mảnh
khảnh, (2) cơ mũi, (3) cơ hạ vách mũi, và
(4) cơ nở mũi và của cánh mũi. Ngoài các
cơ đã nêu ra trước đó, có các cơ khác gắn
với cánh mũi (Hình 4.36).
1. Cơ mảnh khảnh: cơ mảnh khảnh là cơ nhỏ
đi ra từ xương mũi và sụn cánh mũi ngoài và
gắn với phần da ở gốc mũi và vùng giữa hai
đầu
lông mày. Tại vị trí này, các sợi cơ mảnh
khảnh được xen kẽ với các sợi cơ trán. Cơ
mảnh khảnh đảm nhận việc kéo phần giữa
của lông mày và tạo thành một nếp nhăn
ngang của vùng giữa hai đầu lông mày.
2. Cơ mũi: cơ mũi được tạo thành bởi phần
ngang và phần cánh mũi. Phần ngang của
cơ mũi dạng hình tam giác bắt nguồn từ hố
nanh của hàm trên và chèn vào sụn cánh
mũi ngoài. Phần cánh mũi là một cơ hình
vuông đi ra từ hàm trên phía trên răng cửa
ngoài của hàm trên và chèn vào phần
dưới của sụn cánh mũi ngoài.Phần ngang
và phần cánh mũiđảmnhận việc thu hẹp
các lỗ mũi bằng sự co cơ của lỗ mũi và mở
rộng các lỗ mũi một cách tương ứng.
3. Cơ hạ vách mũi: cơ hạ vách mũi nằm sâu
bên trong môi
Hình. 4.34 Các lớp của mũi ngoài
Da
Lớp mỡ nông
Lớp cơ sợi
Lớp mỡ sâu
Màng sụn
4 Giải phẫu Lâm sàng vùng Mặt giữa để Tiêm chất làm đầy

143
bắt nguồn từ hố răng cửa của hàm trên và
đính vào phần di động của vách mũi và xen
kẽ với các sợi cơ sâu của cơ vòng môi. Cơ
này hoạt động để kéo đầu mũi xuống nhằm
mở rộng lỗ mũi.
4. Cơ nở-tiền đình mũi nằm giữa da ngoài và
da tiền đình của thùy cánh mũi. Các sợi cơ
của cơ này tỏa ra dọc theo tiền đình mũi
hình vòm. Cơ nở lỗ mũi trước bắt nguồn
từ bề mặt trước trong nửa ngoài của cuống
ngoài và sụn cánh phụ gần kề cuống ngoài.
Ngoài các cơ nêu ở trên, 90% cơ hạ cánh
mũi môi trên và 28% cơ gò má nhỏ đính vào
cánh mũi (Hình 4.37).
Việc điều trị bằng chất làm đầy phải tiến
hành với nhận thức đầy đủ về các động mạch
và tĩnh mạch phân bố trong mũi. Dù hiếm gặp
nhưng có những trường hợp mà việc tiêm vào
nội mạch dẫn đến các vấn đề gây ra bởi các
sản phẩm chất làm đầy trong các mô xung
quanh. Các triệuchứngtiếp theo có thể được
chia thànhtắc nội mạch và dồn ép ngoài mạch
Kim cannuala khuyên dùng để giảm khả năng
tiêm vào nội mạch.
Các động mạch chính của mũi bao gồm
động mạch mũi ngoài đi ra từ động mạch mặt
và động mạch sống mũi đi ra từ động mạch
mắt. Nối động mạch - tĩnh mạch do các nhánh
của động mạch mũi ngoài và động mạch sống
mũi là một đặc điểm giải phẫu đặc trưng của
mũi ngoài (Hình 4.38 và 4.39).
Hơn nữa, các nhánh trụ giữa mũi đi ra từ
động mạch môi trên phân bố ở đầu mũi (Hình
4.40). Ngoài động mạch mũi ngoài, động mạch
dưới cánh mũi đi ngang dưới cánh mũi. Nhìn
chung, động mạch mũi ngoài và động mạch
sống mũi chủ yếu đảm nhận việc cấp máu cho
vùng đầu mũi. Các nhánh của động mạch sống
mũi và động mạch góc phân bố ở sống mũi
(Hình 4.39 và 4.40).
Động mạch sống mũi mảnh và như đã nêu
ở trên, chạy ở lớp mỡ sâu ở dưới sống mũi.
Tuy nhiên, ở phần trên của sống mũi, động
mạch sống mũi thường nằm tại lớp mỡ
nông của cơ mảnh khảnh. Động mạch sống
mũi bắt nguồn từ động mạch mắt; do đó,
nó thường chạy dọc theo
4.7 Mũi
Động mạch mũi ngoài
Động mạch sống mũi
Động mạch trên ròng rọc
Hình. 4.35 Sự thông mạch
máu giữa động mạch sống
mũi và động mạch mũi
ngoài

hacklink satın al mumu模拟器 雷电模拟器 向日葵 giftcardmall/mygift giftcardmall balance mygift giftcardmall matbet matbet giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Betgaranti Betgaranti Güncel Adres Betgaranti Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Fim İzle Fim İzle Giriş Fim İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Fim İzle Fim İzle Güncel Adres Fim İzle jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Giriş Casibom Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Jojobet Jojobet Giriş Jojobet Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Deneme Bonusu Film İzle Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Türkçe Dublaj Film İzle Film İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi perabet perabet giriş holiganbet holiganbet giriş Casibom Lesfillmercom Casibom Lesfillmercom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Gerbergirlcom Casibom Gerbergirlcom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Spcelectriccontrolcom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş marsbahis marsbahis giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş matbet matbet giriş matbet güncel giriş vaycasino vaycasino güncel giriş vaycasino giriş matbet matbet giriş pusulabet pusulabet giriş pusulabet pusulabet güncel giriş pusulabet giriş matbet matbet güncel giriş matbet giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Resmi Adres pusulabet pusulabet giriş pusulabet güncel giriş Fixbet Fixbet Güncel Giriş Salvobet Salvobet Giriş Salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Turk Porno Turk Porno Giriş Turk Porno casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi casibom casibom jojobet izmir escort izmir buca escort buca escort jojobet casibom holiganbet holiganbet giriş jojobet holiganbet holiganbet giriş jojobet jojobet jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş izmir escort izmir buca escort buca escort izmir escort bayan salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Deneme Bonusu Veren Giriş Deneme Bonusu Veren salvobet salvobet salvobet salvobet Casibom betgaranti betgaranti betgaranti matbet matbet giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Salvobet jojobet Salvobet Salvobet Salvobet Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Güncel Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis bahsegel Fixbet Fixbet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş 1xbet 1xbet Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Listesi Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet grandpashabet grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler vaycasino vaycasino giriş Casibom Casibom Giriş www.giftcards.com Marsbahis Casibom Casibom Casibom Casibom Casibom Grandpashabet Grandpashabet Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Marsbahis Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Casibom Fixbet Fixbet Giriş Casibom Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Holiganbet Holiganbet Güncel Adres Nevşehir escort Kapadokya escort Nevşehir escort bayan nevşehir eskort escort nevşehir Casibom Casibom Giriş Adresi Kapadokya esc Casibom Casibom Resmi Adres Matbet Matbet Matbet Güncel Adres Pusulabet Pusulabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Trabzon escort escort trabzon Trabzon escort bayan Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet casibom grandpashabet casibom güncel giriş casibom grandpashabet güncel giriş holiganbet grandpashabet casibom giriş grandpashabet grandpashabet casibom casibom giriş