6 Hướng dẫn cách ghép mỡ cấu trúc, ghép microfat, tiêm mỡ vào trong da bằng
kim sắc nhọn, ghép nanofat và nhũ tương hoặc mỡ phân đoạn
47
Hình. 6.10 (tiếp theo)
6 Hướng dẫn cách ghép mỡ cấu trúc, ghép microfat, tiêm mỡ vào trong da bằng
kim sắc nhọn, ghép nanofat và nhũ tương hoặc mỡ phân đoạn
48
Hình 6.11 Nhũ tương hoặc mỡ phân đoạn. (a) Cơ chế nhũ tương của mảnh ghép
microfat được làm từ hai ống tiêm và sau đó rửa sạch và gạn mỡ. (b) Có thể thực
hiện tiêm ghép mỡ bằng ống cannula (nhũ tương hoặc mỡ phân đoạn) hoặc ống
syringe (SNIE, tiêm nhũ tương vào trong da bằng kim nhọn)
6 Hướng dẫn cách ghép mỡ cấu trúc, ghép microfat, tiêm mỡ vào trong da bằng
kim sắc nhọn, ghép nanofat và nhũ tương hoặc mỡ phân đoạn
49
Hình. 6.11 (tiếp theo)
6 Hướng dẫn cách ghép mỡ cấu trúc, ghép microfat, tiêm mỡ vào trong da bằng
kim sắc nhọn, ghép nanofat và nhũ tương hoặc mỡ phân đoạn
50
Hình 6.12 Ghép Nanofat: cơ chế nhũ tương và sau đó là lọc. Chất lỏng thu được
sau khi lọc thì gọi là nanofat. Tiêm nanofa bằng kim 27 G
6 Hướng dẫn cách ghép mỡ cấu trúc, ghép microfat, tiêm mỡ vào trong da bằng
kim sắc nhọn, ghép nanofat và nhũ tương hoặc mỡ phân đoạn
51
6.4 Sử dụng các yếu tố tăng
trưởng tiểu cầu trong trẻ hóa
vùng mặt
Để có được tiểu cầu, điều
rất quan trọng là sử dụng một
máy xoay để đảm bảo rằng các
ống chứa máu vẫn hoàn toàn
nằm ngang sau khi quay trong
máy ly tâm. Nếu sử dụng một
máy xoay xiên hoặc đứng, tiểu
cầu bị tác động với các tế bào
hồng cầu, và không còn lại ở
phần trên của ống nghiệm.
Khi lấy máu, điều quan
trọng là phải đảm bảo rằng kim
không làm hỏng mạch máu bỡi
vì nếu không nó sẽ bị đục và tiểu
cầu sẽ không được tách ra sau
khi ly tâm. Sử dụng kim luồn
trong tĩnh mạch, chúng tôi hút
bằng ống lấy máu có chứa ci
trate. Chúng tôi cũng có thể sử
dụng ống tiêm 20 ml và thêm 2
mL natri citrat.
Lắc đều hỗn hợp này và
đặt vào máy ly tâm dao động với
tốc độ 1800 vòng/phút trong 8
phút (Hình 6.13a). Sau này, sẽ
xuất hiện ba mức: ở trên nhất là
tiểu cầu và huyết tương; rất ít,
sau đó ở giữa có màu đen hơn là
lớp bạch cầu , tốt hơn là không
nên lấy bỏ lớp bạch cầu này vì
nó có thể làm tăng phản ứng
viêm; và cuối cùng là mức dưới
nhất với các tế bào hồng cầu.
Sau khi thu được tiểu cầu, ống
được đặt thẳng đứng trong giá
đỡ. Lớp 1/3 trên cùng của tiểu
cầu bao gồm rất ít huyết tương
trong yếu tố tăng trưởng (plas
mapoor in growth factor:PPGF);
lớp 1/3 giữa, yếu tố tăng trưởng
huyết tương (plasma growth
factor: PGF) với cùng nồng độ
tiểu cầu như trong máu; và lớp
1/3 dưới cùng, huyết tương giàu
yếu tố tăng trưởng (plasma rich
in growth factor:PRGF). Sau đó
với một pipet, chúng tôi tách
các tiểu cầu từ phần còn lại. Nếu
chúng tôi muốn lấy được PRGF,
chúng tôi sẽ loại bỏ hai phần ba
trên của ống nghiệm. Nếu chúng
ta muốn sử dụng tiểu cầu làm
chất chống viêm trong vùng cần
thực hiện liệu pháp tiêm trong
da, chúng ta sử dụng toàn bộ
nồng độ tiểu cầu (Hình 6.13b).
Sau khi có được tiểu cầu,
chúng được kích thích trước khi
tạo ra hỗn hợp. Thực hiện điều
này với canxi clorua theo tỷ lệ
1:20, tức là, 1 ml canxi clorua
thì thêm vào 20 ml tiểu cầu.
Nếu chúng ta muốn thực
hiện liệu pháp tiêm trong da,
điều quan trọng là phải thực
hiện kỹ thuật nhanh; một khi
tiểu cầu được kích thích bằng
canxi clorua, chúng tạo thành
gel và sau đó dung dịch không
thể tiêm được. Nếu quá trình
6 Hướng dẫn cách ghép mỡ cấu trúc, ghép microfat, tiêm mỡ vào trong da bằng
kim sắc nhọn, ghép nanofat và nhũ tương hoặc mỡ phân đoạn
52
này bị bỏ qua, tuy nhiên tiểu cầu
sẽ bị kích thích một lần trong cơ
thể.
Có thể trộn tiểu cầu với
microfat, nhũ tương hoặc cũng
có thể với nanofat. Khi chúng ta
muốn thực hiện liệu pháp tiêm
trong da, chúng ta trộn chúng
với nhũ tương hoặc nanofat.
Chúng cũng có thể trộn với vi
tamin; tức là, hỗn hợp chỉ có thể
chứa các tiểu cầu chống viêm
mà chúng ta sử dụng trong căng
da mặt hoặc tiểu cầu cộng với
nhũ tương trong trường hợp
tiêm trong da. Khi chúng tôi
thực hiện tiêm trong da và chỉ
cần một lượng nhỏ, chúng tôi
sử dụng phần PRGF và đôi khi
thêm vitamin vào hỗn hợp. Do
đó, việc lựa chọn hỗn hợp phụ
thuộc vào nhu cầu của từng
bệnh nhân (Hình 6.13c).
Trong
căng
da
mặt,
chúng tôi sử dụng tiểu cầu toàn
bộ vùng tách ra làm chất chống
viêm và đậy lại.
Trong liệu pháp tiêm
trong da với da bị tổn thương
cao, chúng tôi sử dụng tiểu cầu
với vitamin.
Để lấp đầy vùng má, rãnh
mũi má và đường marionette,
chúng tôi sử dụng tiểu cầu cùng
với nhũ tương hoặc microfat
[5].
6 Hướng dẫn cách ghép mỡ cấu trúc, ghép microfat, tiêm mỡ vào trong da bằng
kim sắc nhọn, ghép nanofat và nhũ tương hoặc mỡ phân đoạn
53
Hình 6.13 Yếu tố tăng trưởng tiểu cầu. (a) Máu thu được bằng ống citrate và ly
tâm trong máy ly tâm dao động. (b) Ba mức sau khi ly tâm. Đối với sự thoái hóa
của hạt tiểu cầu alpha, kích hoạt là cần thiết. (c) Nó có thể được kết hợp với mỡ,
nhũ tương, nanofat hoặc vitamin để tiêm khớp,
6 Hướng dẫn cách ghép mỡ cấu trúc, ghép microfat, tiêm mỡ vào trong da bằng
kim sắc nhọn, ghép nanofat và nhũ tương hoặc mỡ phân đoạn
54
Hình 6.3 tiếp tục
6 Hướng dẫn cách ghép mỡ cấu trúc, ghép microfat, tiêm mỡ vào trong da bằng
kim sắc nhọn, ghép nanofat và nhũ tương hoặc mỡ phân đoạn
55
Hình 6.3 tiếp tục
6 Hướng dẫn cách ghép mỡ cấu trúc, ghép microfat, tiêm mỡ vào trong da bằng
kim sắc nhọn, ghép nanofat và nhũ tương hoặc mỡ phân đoạn
56
Tài liệu tham khảo
4. Tonnard P, Verpaele A,
Peeters G, Hamdi M, Cornelissen
M, Declercq H. Nanofat grafting:
basic research and clinical ap
plications. Plast Reconstr Surg.
2013;132:1017–26.
1. Coleman SR. Facial aug
mentation
with
structural
fat grafting. ClinPlast Surg.
2006;33:567–77.
5. Serra-Mestre JM, Serra-Re
nom JM, Martinez L, Almadori
A,D’Andrea F. Platelet-rich plas
ma mixed-fat grafting: a reason
able prosurvival strategy for fat
grafts? Aesthetic Plast Surg.
2014;38:1041–9.
2. Lindenblatt N, van Hulle A,
Verpaele AM, Tonnard PL. The
role of
microfat grafting in facial con
touring. Aesthet Surg
J. 2015;35:763–71.
3. Zeltzer AA, Tonnard PL,
Verpaele AM. Sharp-needle in
tradermal
fat grafting (SNIF). Aesthet Surg
J. 2012;32:554–61.
7 Ghép mỡ mặt
57
Ghép mỡ mặt
7
Để có thể đạt được kết
quả trông tự nhiên nhất, điều
cần phải thiết là phải tạo được
các đường viền trẻ hóa ở mặt,
bổ sung cho các phương pháp
thông thường có thể điều chỉnh
da dư thừa lỏng lẻo với các kỹ
thuật để cung cấp thể tích tại
các điểm đã bị mất ở vùng mặt.
Các khoang mỡ nông và các túi
mỡ sâu có liên quan mật thiết
với nhau bởi các màng liên kết
giúp ổn định việc cung cấp máu
cho da bỡi các mạch xuyên ra
da, phải xem xét khi thay thế thể
tích đã mất bằng thể tích tương
đương chính xác trên khuôn
mặt [1].
Đối với các khoang mỡ
nông, mỡ vùng mũi (nasolabial
fat: NLF) và khoang mỡ vùng
má phía trong nông (superficial
medial cheek: SMC) chủ yếu tạo
thành vùng trung tâm của khu
ôn mặt. Cao hơn so với SMC và
trên cơ vòng mi là túi mỡ trong
ổ mắt, túi mỡ này dường như có
ít đường dẫn lưu bạch huyết. Từ
bên ngoài đến góc mắt ngoài, có
khoang mỡ má nông ở giữa và
khoang mỡ thái dương ngoài.
Các khoang mỡ sâu bao gồm
mỡ nằm dưới cơ vòng mi (sub
orbicularis oculi fat: SOOF), có
2 túi mỡ trong và ngoài và nằm
sâu dưới cơ vòng mi ở mí mắt
dưới và nằm ngay sát dưới một
tổ chức cân dày đặc gọi là hệ
thống cân mạc nông (superfi
cial muscular aponeurotic sys
tem SMAS) bao bọc cơ vòng mi.
Ở vùng giữa mặt, thì khoang mỡ
trong-sâu (deep medial cheek:
DMC), chia thành một đơn vị
phía trong nằm sâu và từ kho
ang mỡ phía trong đến khoang
mỡ mũi-má và một phần ngoài
(DLC), đó là được tìm thấy từ
sâu tới SMC, có lẽ là khoang mỡ
quan trọng nhất khi cải thiện
độ nhô mong muốn ở vùng má
trước. Khi tiêm mỡ vào kho
ang này, nên tránh tiêm mỡ ra
bên phía ngoài để tránh mỡ di
chuyển đến chỗ thấp của má.
Phần mở rộng của túi mỡ má là
nằm ngay bên cạnh DLC [1 -3].
Trong các chương tiếp theo,
7 Ghép mỡ mặt
58
chúng tôi sẽ mô tả các vùng nơi
để tiêm mỡ vào vùng mặt theo
thứ tự địa hình từ trán đến cổ
(Hình. 7.1)
Hình 7.1: Những vùng để ghép mỡ ở
mặt. Dấu “?” thì thích vùng nào tiêm
vào vùng đó, không có tiêu chuẩn
chung, tùy vào từng trường hợp và kết
hợp với tạo hình mũi.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Rohrich RJ, Pessa JE. The fat
compartments of the face: anat
omy and clinical implications
for cosmetic surgery. Plast Re
constr Surg. 2007;119:2219–
27; discussion 2228–31.
2. Gierloff M, Stöhring C, Bud
er T, Wiltfang J. The subcuta
neous fat compartments in
relation to aesthetically import
ant facial folds and rhytides. J
Plast Reconstr Aesthet Surg.
2012;65:1292–7.
3. Surek CC, Beut J, Stephens R,
Jelks G, Lamb J. Pertinent anat
omy and analysis for midface
volumizing procedures. Plast
Reconstr Surg. 2015;135:818e–
29.
8 Ghép mỡ vùng trán, thái dương và vùng
quanh mắt
59
Ghép mỡ vùng trán, thái dương
và vùng quanh mắt
8
Trẻ hóa làm căng lên
vùng quanh mắt và phần trên
của mặt có hai ứng dụng. Đầu
tiên, đây là một kỹ thuật hữu ích
để làm đầy và sửa chữa các loại
nếp nhăn xuất hiện trong quá
trình lão hóa ở vùng này, đây là
một trong những vấn đề điều trị
thường xuyên nhất. Mỡ là một
trong số các chất làm đầy được
sử dụng và cho kết quả tốt.
Thứ hai, tiêm mỡ đang
là kỹ thuật trẻ hóa cách mạng
vùng quanh ổ mắt, được hiểu
là không chỉ loại bỏ da thừa và
túi mỡ mí mắt bằng phẫu thuật
tạo hình mí mắt mà còn điều
chỉnh sự lõm xuống trên toàn
bộ vùng quanh mắt và cải thiện
sự chuyển đổi sang các vùng lân
cận như vùng má, vùng trán và
vùng thái dương.
8.1 Đường cau mày
Nếp nhăn của đường cau
mày có thể phân chia như sau:
chiều dọc - do gây ra bởi sự tăng
hoạt động của đầu ngang của cơ
cau mày; chiều ngang - nằm ở
gốc mũi, chủ yếu là do sự tăng
hoạt động của cơ tháp mũi; và
chiều xiên - được hình thành
bởi phần xiên của cơ cau mày
và 1 phần của cơ hạ mày [1, 2].
Trước khi ghép mỡ, nên điều
chỉnh để giảm sự tăng động
của các cơ này. Có thể thực hiện
điều này bằng cách tiêm botu
linum 10 ngày trước khi phẫu
thuật [3] hoặc bằng cách cắt bỏ
phần ngang của cơ cau mày và
cơ tháp mũi bằng cách sử dụng
đường rạch tạo hình ở mí mắt
trên [4].
Các đường nhăn cau
mày dọc thì điều trị bằng cách
tiêm mỡ dưới da với kỹ thuật
dùng kim đầu nhọn tiêm mỡ
vào trong da (SNIF). Điểm vào
là phần trên của nếp nhăn cau
mày. Lượng mỡ tiêm vào khoảng
từ 0,5->1 ml ở cả hai bên (Hình
8.1a). Sau đó, chúng tôi sẽ tiêm
trong da từ đầu bên kia bằng
SNIF (Hình 8.1b). Nếu tiêm như
vậy mà chưa loại bỏ được nếp
nhăn cau mày thì chúng tôi tiêm
dọc nhũ tương vào trong da và
nằm bên trên nó (Hình 8.1c).
Sau khi điều trị hai đường nhăn
8 Ghép mỡ vùng trán, thái dương và vùng
quanh mắt
60
cau mày dọc, chúng tôi làm đều
vùng trên gốc mũi. Xử lý các nếp
nhăn ngang ở gốc mũi và ở vùng
ở giữa bằng SNIF dưới da cho
đến khi sửa chữa hết toàn bộ
vùng trên gốc mũi và gốc mũi.
Hình. 8.1 Đường cau mày. (a) Tiêm dưới da với SNIF. (b) Tiêm trong da với
SNIF. (c) Tiêm dọc nhũ tương vào trong da (SNIE)
a
b
c
8 Ghép mỡ vùng trán, thái dương và vùng
quanh mắt
61
8.2 Đuôi lông mày
Để định hình lại vành ổ
mắt và hơi nhấc đuôi lông mày
lên, đầu tiên chúng ta đánh dấu
điểm ra của dây thần kinh trên
ổ mắt, theo một đường thẳng
đứng từ giữa đồng tử, nó giao
nhau với lông mày [2]; chúng
tôi cũng xác định vùng tiêm
theo hình elip dọc theo bờ trên
xương ổ mắt bằng cách sờ nắn.
Đầu tiên, chúng tôi dùng kim
Abbocath số 16 chọc thủng da;
sau đó chúng tôi dùng cannu
la tiêm microfat dưới da khắp
vùng cho đến khi chúng tôi thấy
hài lòng với kết quả. Bằng cách
này, khi tiêm khoảng 1 ml mỡ
thì chúng ta có được sự tái tạo
tốt ở đuôi lông mày (Hình 8.2).
Hình. 8.2 Đuôi lông mày. Trên, Chọc qua da bằng Abbocath. Quan sát và đánh
dấu trước khi tiêm; Dưới, Tiêm mỡ bằng cannula đầu tù.
8 Ghép mỡ vùng trán, thái dương và vùng
quanh mắt
62
8.3 Vùng thái dương
Đôi khi chúng tôi thực
hiện tiêm mỡ ở vùng thái dương
bằng microfat. Chúng tôi đặt
kim Abbocath số 16G và
sau đó thực hiện tiêm dưới da
bằng ống cannula sau khi hút
và phân bố đều mỡ, hết sức cẩn
thận để không làm tổn thương
bất kỳ tĩnh mạch nào (Hình 8.3).
Hình. 8.3 Vùng thái dương. Trên, chọc qua da bằng Abbocath; dưới, tiêm mi
crofat với cannula cùn
8 Ghép mỡ vùng trán, thái dương và vùng
quanh mắt
63
8.4 Tiêm điều trị nếp nhăn
chân chim ở bờ ngoài ổ mắt
Để điều trị vết chân chim
xuất hiện ở bờ ngoài của ổ mắt,
đầu tiên chúng ta tiêm microfat
bằng ống cannula dọc theo toàn
bộ bờ ổ mắt (Hình 8.4a).
Sau đó, chúng tôi thực hiện tiêm
SNIF bằng cách sử dụng kim để
tiêm trong mặt phẳng da-dưới
da ở tại vị trí thấp nhất của mỗi
nếp nhăn hình quạt (Hình 8.4b).
a
b
Hình. 8.4 (a) Để điều trị nếp
nhăn chân chim ở bờ ngoài ổ
mắt, trước tiên chúng tôi tiêm
microfat với cannula. (b) Tiêm
SNIF cho từng nếp nhắn riêng
8 Ghép mỡ vùng trán, thái dương và vùng
quanh mắt
64
8.5 Rãnh lệ
Rãnh má-mũi hoặc rãnh
lệ là rãnh nằm ở phía trong của
mí mắt dưới, chạy xuống dưới
và xiên từ lệ đạo giữa cơ nâng
cánh mũi và cơ vòng mi mắt
(Hình. 8.5a).
Để xử lý rãnh lệ, chúng
tôi tiêm nhũ tương qua ống can
nula. Ở khoảng 2 cm từ lệ đạo
(trong rãnh lệ, ở đỉnh xa nhất),
chúng tôi đặt một ống cannu
la Abbocath và sau đó sử dụng
ống cannula nhỏ để tiêm nhũ
tương, lấp đầy toàn bộ lãnh lệ
theo hướng đi xuống. Cần hết
sức cẩn thận và chỉ nên tiêm
một lượng nhũ tương rất nhỏ
trong từ khoảng 0,2 ->0,4 ml.
Sau khi tiêm nhũ tương này vào
mặt phẳng dưới da, chúng tôi
nhẹ nhàng dùng ngón tay mas
sage nhẹ để làm bằng phẳng nó.
Nếu da có màu sẫm, đầu tiên
chúng ta tiêm nanofat [5] vào
lớp da phía trên rãnh lệ với
số lượng rất nhỏ (Hình 8.5 b).
Sau đó, chúng tôi massage làm
phẳng nó bằng ngón tay (Hình
8.5c) và tiêm nhũ tương vào
mặt phẳng dưới da nếu cần
(Hình 8.5d).
8 Ghép mỡ vùng trán, thái dương và vùng
quanh mắt
65
a
b
Hình. 8.5 Rãnh lệ. (a) Vị trí của rãnh lệ. (b) Nếu da màu đen, tiêm nanofat hay
tiêm SNIE. (c) Sau khi tiêm nanofat, tốt nhất nên làm phẳng vùng này bằng ngón
tay. (d) Để sửa chữa vùng lõm xuống của rãnh lệ thì tiêm microfat hay nhũ tương
với cannula đầu tù.
8 Ghép mỡ vùng trán, thái dương và vùng
quanh mắt
66
Hình. 8.5 tiếp tục
8 Ghép mỡ vùng trán, thái dương và vùng
quanh mắt
67
8.6 Điều trị mắt hõm và thoát
vị túi mỡ mí dưới và quầng
thâm quanh mắt.
Bệnh nhân muốn lấy bỏ
mỡ thừa mí mắt dưới, nhưng
họ cũng muốn giảm quần
thâm quanh mắt hay hõm
mắt (Hình 8.6a). Để đạt được
điều này, trước tiên, chúng tôi
thích thực hiện phẫu thuật tạo
hình dưới lấy mỡ qua đường
kết mạc (Hình 8.6 b,c) [6,7].
Trong những trường hợp cần
thiết, mặc dù chúng tôi ưu tiên
điều trị vùng da thừa của mí
mắt dưới một cách thận trọng,
chúng tôi thực hiện lột da bằng
axit trichloroacetic hoặc cắt da
tối thiểu mà không cần cắt bỏ cơ
vòng mi, sử dụng kỹ thuật kẹp
da lên; điều này cho phép chúng
tôi giữ nguyên phần ở giữa của
sụn mi dưới và giảm nguy cơ lộ
giác mạc hoặc lộn mi dưới [8].
Sau khi điều chỉnh này,
chúng tôi đánh giá chiều cao của
mí mắt, có thể không để quá dài
và có thể biểu hiện sự mệt mỏi,
mặc dù thoát vị mỡ đã được giải
quyết. Bây giờ chúng tôi thực
hiện ghép mỡ quanh bờ ổ mắt
để giảm chiều cao của mí mắt
dưới.
Với sự trợ giúp của ống
cannula và với microfat, chúng
tôi thực hiện ghép mỡ nhỏ ở bờ
ổ mắt theo hướng trên đi xuống
dưới. Điều rất quan trọng là
không sử dụng microfat trong
mí dưới để tránh không đều từ
bờ mi đến xương ổ mắt . Sau đó
chúng tôi rút ống cannula ra và
đặt một ống cannula và tiêm
nhũ tương; chúng tôi nhẹ nhàng
tiêm nhũ tương từ bờ ổ mắt
hướng lên trong vùng mí mắt
bị trũng nhẹ, để nó vẫn phẳng
và kết hợp với mỡ mà chúng
tôi đã tiêm vào bờ ổ mắt (Hình
8.6d, e). Do đó, với hỗn hợp nhũ
tương và microfat, chúng tôi
điều chỉnh chiều cao của mí mắt
dưới và cải thiện màu da. Chúng
tôi tiếp tục với việc ghép micro
fat trong vùng má nếu cần thiết
phải sửa chỗ lõm xuống.
Lượng mỡ ghép ở vùng
mắt là microfat từ bờ ổ mắt
xuống đến vùng má là 0,5->1 ml
và nhũ tương từ bờ ổ mắt trở
lên là từ 0,3->0,5 ml.
Nếu vùng da dưới mi mắt
bị sẫm màu, chúng ta có thể cải
thiện màu sắc bằng cách tiêm
nanofat vào lớp trong da với
số lượng rất nhỏ (tối đa 0,3 ml
hoặc 0,4 ml) bằng cách sử dụng
kim 27G (Hình 8.6 f). Chúng tôi
nhẹ nhàng làm phẳng nó bằng
ngón tay cho đến khi hết bất
thường ở vùng này. Điều này
phải được thực hiện trước khi
tiêm mỡ vào mặt phẳng sâu, bởi
vì trong trường hợp này, việc
8 Ghép mỡ vùng trán, thái dương và vùng
quanh mắt
68
massage sẽ thay thế mỡ sẽ tiêm
sâu bên dưới bề mặt da.
a
b
c
8 Ghép mỡ vùng trán, thái dương và vùng
quanh mắt
69
Hình. 8.6 Phẫu
thuật tạo hình mi
mắt và ghép mỡ.
(a) Dạng lão hóa
mí dưới hay gặp.
(b) Giải phóng
cung bờ mi sẽ
giúp cải thiện da
sẫm mà bên du
wois mắt. (c) Lấy
mỡ qua kết mạc
mi mắt. (d) Tiêm
nhũ tương từ bờ
ổ mắt hướng đến
vùng mí mắt. (e)
Tiêm
microfat
trong vùng bờ ổ
mắt và vùng má
để cải thiện da ở
những vùng này.
(f) Tiêm nanofat
hay SNIE để cải
thiện màu sắc da
của mi mắt dưới.
d
e
f
8 Ghép mỡ vùng trán, thái dương và vùng
quanh mắt
70
Tài liệu tham khảo
1. Janis JE, Ghavami A, Lemmon
JA, Leedy JE, Guyuron B. Anato
my of the corrugator supercilii
muscle: part I. Corrugator
topography.
Plast
Reconstr
Surg. 2007;120:1647–53.
2. Janis JE, Ghavami A, Lem
mon JA, Leedy JE, Guyuron B.
The anatomy of the corruga
tor supercilii muscle: part II.
Supraorbital nerve branching
patterns. Plast Reconstr Surg.
2008;121:233–40.
3. Bassichis BA, Thomas JR. The
use of Botox to treat glabellar
rhytids. Facial Plast Surg Clin
North Am. 2005;13:11–4.
4. Knize DM. Transpalpebral ap
proach to the corrugator super
cilii and procerus muscles. Plast
Reconstr Surg. 1995;95:52–60;
discussion 61–2.
5. Tonnard P, Verpaele A,
Peeters G, et al. Nanofat graft
ing: basic research and clinical
applications. Plast Reconstr
Surg. 2013;132:1017–26.
6. Perkins SW, Dyer 2nd WK,
Simo F. Transconjunctival
approach to lower eyelid
blepharoplasty. Experience,
indications, and technique in
300 patients. Arch Otolaryngol
Head Neck Surg.
1994;120:172–7.
7. Serra-Renom JM, Serra-Me
stre JM. Periorbital rejuvena
tionto improve the negative
vector with blepharoplasty and
fat graftingin the malar area.
Ophthal Plast Reconstr Surg.
2011;27:442–6.
8. Kim EM, Bucky LP. Power of
the pinch: pinch lower lid
blepharoplasty. Ann Plast Surg.
2008;60:532–7.
9 Vùng má: Nâng những chỗ lõm ở mặt
71
Vùng má: Nâng những chỗ lõm ở
mặt
9
Theo chúng tôi, việc điều
chỉnh những vector âm (chỗ
lõm) trên khuôn mặt là một
trong những ứng dụng quan
trọng nhất của phương pháp
ghép mỡ trong trẻ hóa vùng
mặt. Thuật ngữ vectơ âm đề cập
đến như da bị chảy xệ và teo các
khoang mỡ ở má, làm cho mí
dưới trông chảy xệ khi nhìn ng
hiên và khi góc của má nằm phía
sau bề mặt giác mạc [1, 5].
Một khuôn mặt trẻ có mí
mắt dưới ngắn và tròn cong đầy
đặn trước hơn so với bề mặt
giác mạc khi nhìn nghiên; do đó,
khi người đó đang cười, túi mỡ
má nổi lên, mang lại vẻ ngoài trẻ
trung hơn. Cách hiệu quả nhất
để đạt được các tính năng này
là chuyển đổi vectơ âm (lõm) ở
vùng giữa mặt trên thành vectơ
dương (lồi) ở giữa mặt trên.
Khi ghép mỡ ở má cũng
giúp làm cho hai gò má đối xứng
hơn; thực tế, đó là kỹ thuật duy
nhất cho phép chúng ta cân
bằng hoàn toàn xương gò má.
Nhờ các đặc tính của ghép mỡ
có phân đoạn mạch máu, nên
chất lượng của da cũng được cải
thiện sau khi tiêm [4].
9.1 Ghép mỡ má
Để ghép mỡ ở má, chúng
tôi sử dụng hai điểm vào. Điểm
đầu tiên nằm dưới góc mắt
ngoài 2 cm ngang mức với cung
xương gò má. Với ống Abbocath
14 G, chúng tôi tạo ra một điểm
vào để đưa ống chích cannu
la Coleman. Chúng tôi tạo các
đường hầm hình nang quạt sâu
xiên ngang qua vùng má, lấp
đầy từ bờ xương ổ mắt xuống
dưới và đến bên ngoài mũi và
rãnh mũi má. Chúng tôi đưa ống
cannula qua và tiêm mỡ vào,
tiêm lùi kim. Chúng tôi sử dụng
từ 5 - >7 ml microfat ở những
điểm này.
Sau đó, thực hiện điểm
vào thứ hai ở phần dưới của
rãnh mũi má ngang mức mép
miệng bằng ống cannula Abbo
cath 14 G hướng lên trên. Sau
đó, qua cannula Coleman, chúng
tôi tạo ra ba, bốn hoặc năm
9 Vùng má: Nâng những chỗ lõm ở mặt
72
đường hầm hình quạt cho đến
khi có được hình dạng chính xác
(Hình 9.1). Điều rất quan trọng
là không tiêm microfat vào mí
mắt dưới vì nguy cơ sẽ hình
thành u nang [4, 5].
Hình. 9.1 Ghép mỡ má với ghép microfat bằng cannula đầu tù. “1–4”Điểm tiêm
thích hợp để tiêm mỡ
Tài liệu tham khảo
1. Pessa JE, Desvigne LD, Za
doo VP. Changes in ocular
globe-toorbital
rim
position
with age: implications for aes
thetic blepharoplasty of the
lower eyelids. Aesthetic Plast
Surg. 1999;23:337–42.
2. Yaremchuk MJ. Subperioste
al and full-thickness skin rhyt
idectomy. Plast Reconstr Surg.
2001;107:1045–57.
3. Shaw Jr RB, Katzel EB, Koltz
PF, Yaremchuk MJ, Girotto JA,
Kahn DM, Langstein HN. Aging
of the facial skeleton: aesthetic
implications and rejuvenation
strategies. Plast Reconstr Surg.
2011;127:374–83.
4. Serra-Renom JM, Serra-Me
stre JM. Periorbital rejuvena
tion to improve the negative
vector with blepharoplasty and
fat grafting in the malar area.
Ophthal Plast Reconstr Surg.
2011;27:442–6.
5. Rohrich RJ, Ghavami A,
Constantine FC, Unger J, Mo
jallal A. Liftandfi ll face lift:
integrating the fat compart
ments.
Plast
ReconstrSurg.
2014;133:756e–67e.
10 Rãnh mũi má và nếp nhăn môi-cằm
73
Rãnh mũi má và nếp nhăn môi-
cằm
10
Các rãnh mũi-má hay
nếp nhăn môi- cằm nếu nó sâu
xuống thì đó là dấu hiệu phổ
biến của lão hóa ở mặt. Mặc
dù các kỹ thuật nâng hay đính
chỉ vẫn có thể giải quyết thành
phần sa xuống của các nếp gấp
này, nhưng chúng không thể
điều chỉnh các thiếu hụt khác về
thể tích hoặc thay đổi trọng lực
ở bệnh nhân lớn tuổi, điều này
có thể làm sâu hơn các rãnh mũi
má hoặc môi xung quanh vùng
quanh miệng [1, 2].
Vì lý do này, đây là hai
trong số các khu vực sử dụng số
lượng filler khác nhau. Việc lựa
chọn chất làm đầy phụ thuộc
chủ yếu vào độ sâu của nếp
nhăn, chất lượng của da và ý
muốn của bệnh nhân đối với kết
quả nhất định.
Tuy nhiên, việc áp dụng
phương pháp ghép mỡ tự thân
ở những vùng này ít thành công
hơn những vùng khác. Ở một
mức độ nào đó, điều này là do
tiêm mỡ qua ống cannula sẽ tạo
độ đầy lên và cải thiện vẻ ngoài
thẩm mỹ nhưng ít hiệu quả hơn
cho đường viền mịn hơn. Khi
sử dụng ống cannula một mình
để chỉnh sửa các nếp rãnh sâu,
lâu dài, chúng tôi đã thấy rằng
nếp nhăn sẽ xuất hiện trở lại
trong một thời gian ngắn mặc
dù phẫu thuật đã thành công.
Trong những trường hợp này,
các nỗ lực để làm đầy nếp nhăn
sẽ không thu được kết quả thẩm
mỹ hoàn toàn thỏa đáng.
Tuy nhiên, bây giờ, chúng
tôi có các phương pháp tiêm mi
crofat mới theo ý của chúng tôi
kết hợp việc sử dụng ống can
nula và kim sắc nhọn cho phép
tiêm một cách nông hơn [3].
Sự kết hợp của hai kỹ
thuật tiêm sẽ mang lại kết quả
khả quan hơn so với tiêm bằng
ống cannula đơn thuần trong
mặt phẳng dưới da. Kết hợp
tiêm dọc theo đường của nếp
nhăn với tiêm ngang và vuông
góc không chỉ giúp tăng cường
làm đầy các rãnh hoặc nếp nhăn
10 Rãnh mũi má và nếp nhăn môi-cằm
74
này mà còn ngăn các mô xung
quanh bị gập vào trong vì thiếu
tổ chức hỗ trợ, do đó ngăn ngừa
nếp nhăn quay trở lại.
10.1 Rãnh mũi má
Điểm vào: nơi chúng tôi
chọc ống cannula nhỏ bằng ống
cannula Abbocath 14-G ở tại
vị trí đầu xa của rãnh mũi-má.
Đầu tiên, chúng tôi chọc ống
cannula xiên dọc theo nếp gấp
môi-má cho đến khi tiếp xúc với
chân của cánh mũi và sau đó
tiêm microfat, tiêm lùi kim. Để
lấp đầy rãnh mũi má, chúng tôi
sử dụng từ 1->2 mL trong mặt
phẳng dưới da (Hình 10.1a).
Sau đó, chúng tôi tiêm mỡ vào
trong da bằng kim nhọn (SNIF)
vuông góc với nếp rãnh mũi-má,
tiêm chìm trong da nhưng nông,
dài 1 cm (Hình 10.1b). Trong
trường hợp nếp rãnh mũi-má
có nếp nhăn ở giữa sâu, trong
đó đường ở giữa vẫn tồn tại sau
khi tiêm, chúng tôi thực hiện
tiêm SNIF hoặc SNIE trong da
rất nhẹ nhàng vào rãnh mũi má
(Hình 10.1c).
10.2 Đường môi - má
Đầu tiên chúng tôi thực
hiện đánh dấu vùng cần chính
mỡ, theo đường môi-má hoặc
chỗ lõm xuống. Sau đó, với sự
trợ giúp của ống cannula Abbo
cath 14 G, chúng tôi đặt ống can
nula theo hướng dọc xiên theo
đường môi-má. Chúng tôi thực
hiện ghép mỡ trong hai hoặc ba
đường chích kim dưới da để lấp
đầy toàn bộ nếp nhăn này với số
lượng tối đa là 1 ->2 mL. Sau đó,
bằng cách sử dụng SNIF, ngay
dưới lớp da, chúng tôi thực hiện
ba hoặc bốn mũi tiêm trong
da rộng 1 cm và vuông góc với
đường môi-má và song song với
nhau, tiêm 2->3 ml mỗi lần để
lấp đầy chỗ lõm (Hình 10.2).
10 Rãnh mũi má và nếp nhăn môi-cằm
75
Hình. 10.1 Rãnh
mũi
má.
(a)
Tiêm mỡ microfat.
(b) Nhiều đường
tiêm SNIF vuông
góc với rãnh mũi
má. “1–4” là thích
hợp để tiêm mỡ
vùng này. (c) Nếu
rãnh mũi má đã
xóa sạch thì vẫn
tiêm thêm SNIF
trong da
a
b
c
10 Rãnh mũi má và nếp nhăn môi-cằm
76
Hình. 10.2 Đường môi-má.
(a) Tiêm mỡ microfat.
(b) Tiêm SNIF vuông góc.
“1–3” là thích hợp để tiêm vùng này
10 Rãnh mũi má và nếp nhăn môi-cằm
77
Tài liệu tham khảo
1. Rohrich RJ, Ghavami A, Con
stantine FC, Unger J, Mojallal A.
Liftand-
fi ll face lift: integrating the fat
compartments. Plast Reconstr
Surg. 2014;133:756e–67.
2. Pezeshk RA, Stark RY, Small
KH, Unger JG, Rohrich RJ. Role
of autologous fat transfer to the
superficial fat compartments
for peri- oral rejuvenation. Plast
Reconstr Surg. 2015;136:301e–
9.
3. Zeltzer AA, Tonnard PL, Ver
paele AM. Sharp-needle intra
dermal fat grafting (SNIF). Aes
thet Surg J. 2012;32:554–61.
11 Vùng môi và Quanh môi
78
Vùng môi và quanh môi
11
Môi là một vùng mà phải
đặc biệt quan tâm để không tạo
ra biến dạng và tiêm quá nhiều.
Chúng tôi ưu tiên thực hiện
tiêm microfat dọc theo toàn bộ
đường viền bờ môi bằng cách
chích mỡ bằng kim nhọn (SNIF)
ở mặt phẳng nông dưới da vì
chúng tôi muốn đường viền
môi xuất hiện dưới dạng đường
thẳng trên toàn bộ cung nhân
trung (Cupid) ở giữa môi trên.
Chúng tôi sử dụng 1 ml microfat
để làm đầy và tăng cường cung
Cupid (Hình 11.1a). Sau đó,
chúng tôi thực hiện tiêm SNIF
trong hai cột song song nhân
trung. Chúng tôi thực hiện tiêm
dưới da, bơm khoảng 0,5 ml
mỡ vào mỗi cột (Hình 11.1b).
Điều này làm cho môi hơi ngắn
lại, tạo ra một vẻ ngoài nhìn trẻ
trung hơn.
Sau đó, chúng tôi thực
hiện việc tiêm đầy lớp dưới da
của các đường dọc dưới. Chúng
tôi sử dụng microfat cho các
đường sâu hơn và nhũ tương
(SNIE) cho các bề mặt nông hơn
(Hình 11.1c). Ở môi dưới, chúng
tôi cũng thực hiện tiêm dưới da
rất nông ở Cupid, ở phần trung
tâm của môi khoảng 3 ml ở
niêm mạc da của bờ môi (Hình
11.1d). Tiêm dưới da là để làm
môi dày lên.
Trong một số trường
hợp, chúng tôi thực hiện chích
mỡ bằng microfat để lấp đầy thể
tích môi ở trong cơ [1, 2], nhưng
nói chung, chúng tôi không ủng
hộ việc tiêm làm đầy môi dưới.
11 Vùng môi và Quanh môi
79
a
b
c
d
Hình. 11.1 Trẻ hóa môi và quanh miệng . (a) Tiêm SNIF ở Cupid và bờ môi của
môi trên. (b) Tiêm SNIF ở 2 cột của nhân trun. (c) Tiêm microfat ở nếp lằn sâu
quanh miệng và/hay tiêm nhủ tương ở lớp nông. (d) Tiêm SNIF ở viền bờ môi
dưới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Gatti JE. Permanent lip aug
mentation with serial fat graft
ing. Ann
Plast Surg. 1999;42:376–80.
2. Segall L, Ellis DA. Therapeutic
options for lip augmentation.
Facial Plast Surg Clin North Am.
2007;15:485–90.
12 Tạo hình cằm và vùng hàm
80
Tạo hình cằm và vùng hàm
Trong chương này, chúng
tôi mô tả hai ứng dụng có tác
động quan trọng đến diện mạo
thẩm mỹ tổng thể của khuôn
mặt khi nhìn nghiên. Cằm là cấu
trúc nổi bật nhất ở phần dưới
của khuôn mặt. Ghép mỡ ở
vùng này đại diện cho một công
cụ đơn giản để đạt được độ nhô
của cằm ở những bệnh nhân
cần điều chỉnh từ ít hoặc vừa
phải cũng như ở những người
không muốn thực hiện các can
thiệp bằng ghép chất liệu dị loại
hoặc các kỹ thuật khác nhưng
muốn cải thiện lĩnh ở vùng này.
Kỹ thuật ghép mỡ được mô tả
trong chương này là một bổ sung
tốt cho phẫu thuật nâng mũi đã
thực hiện để hài hòa khuôn mặt
khi nhìn nghiên. Liên quan đến
vùng tiền hàm, mặc dù căng da
mặt sẽ đạt được sự điều chỉnh
lớn hơn, tiêm mỡ vào vùng này
không chỉ giúp cải thiện kết quả
mà còn giúp ngăn ngừa sự suy
giảm thể tích sau phẫu thuật và
duy trì được kết quả lâu hơn [1,
2].
12
12.1 Tạo hình cằm
Kỹ thuật ghép mỡ này có
thể có hoặc không kết hợp với
phẫu thuật tạo hình mũi. Khi
kết hợp với nâng mũi, phải thực
hiện nâng mũi trước để làm cho
mũi có hình tháp nhọn và nhô
đầu mũi. Sau đó, lập kế hoạch
để phẫu thuật nâng cằm.
Nếu cần phải phẫu thuật để
tăng độ nhô ra của cằm, đầu
tiên, đánh dấu cạnh hàm dưới
bằng một đường từ bên này
cằm sang bên kia cằm (Hình
12.1a). Sau đó, chúng ta vẽ
một đường thẳng ở giữa (Hình
12.1b) và sau đó là thực hiện
vẽ một hình elip đối xứng nhất
có thể trong toàn bộ vùng cần
ghép mỡ sẽ, ghi nhớ đường giữa
(Hình 12.1c). Chúng tôi mổ da ở
hai điểm vào với một ống can
nula Abbocath 14 G trong đó
một đường thẳng đứng hướng
xuống từ đường mép miệng đi
qua đường ngang của góc hàm
dưới. Sau đó, qua một ống can
nula Coleman, chúng tôi thực
hiện ghép mỡ sâu chéo bằng
12 Tạo hình cằm và vùng hàm
81
Điều quan trọng là không
làm thay đổi độ lõm giữa môi
dưới và cằm và để tạo độ lồi của
cằm.
microfat (Hình 12.1d).
Thông thường, để định hình lại
cằm chúng tôi dùng 2 hoặc 3
ml microfat ở mỗi bên, nghĩa là
tổng cộng từ 4 ->6 ml microfat.
a
b
c
d
Hình. 12.1 Tạo hình cằm. Vẽ chính xác vùng cằm để tiêm mỡ theo các bước. (a)
Đầu tiên là điểm bờ hàm dưới. (b) Đường giữa phân chia thành 2 phần đối xứng.
(c) Mô tả như hình elip điều từ điểm a tới điểm b tương ứng với mép miệng 2 bên.
(d) Tiêm mỡ microfat từ 2 điểm vào và tiêm chéo nhau.
12 Tạo hình cằm và vùng hàm
82
12.2 Tạo cạnh ngoài của
hàm dưới
Với sự lão hóa, xuất hiện
các dấu hiệu tiêu dần xương trong
toàn bộ khung xương mặt và cả
trong hàm. Vết lõm xuống
nhìn thấy rõ xuất hiện ở hai bên
cằm và các phần trước của cằm
(Hình 12.2a). Điều này được
khắc phục bằng cách tiêm mi
crofat bằng ống cannula, theo
chiều ngang, ở cả hai bên cằm
(Hình 12.2 b, c).
a
b
c
Hình. 12.2 Làm đầy vị trí teo cạnh ngoài của hàm dưới bằng tiêm nâng mỡ. (a)
Trước tiêm mỡ. (b) Tiêm mỡ bằng Cannula. (c) Sửa chữa những tổ chức thiếu
12 Tạo hình cằm và vùng hàm
83
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Metzinger S, Parrish J, Guerra
A, Zeph R. Autologous fat graft
ing to the lower one-third of the
face. Facial Plast Surg.
2012;28:21–33.
2. Endara MR, Allred LJ, Han KD,
Baker SB. Applications of fat
grafting in facial aesthetic skel
etal surgery. Aesthet Surg J.
2014;34:363–73.
13 Tiêm mỡ ở mũi
84
Tiêm mỡ ở mũi
13
Điều rất quan trọng là
tiến hành khám bệnh sử một
cách kỹ lưỡng để xác định mục
tiêu của chúng tôi trong việc
thực hiện tiêm mỡ dưới da ở
bất kỳ vùng nào của phần tháp
mũi.
Trong phẫu thuật nâng
mũi lần 2, kỹ thuật này đặc biệt
hữu ích [1, 2]. Nếu có lõm một
bên, chúng tôi đánh dấu chính
xác nơi chúng tôi muốn thực
hiện ghép mỡ; Nếu đó là lõm ở
giữa, chúng tôi xác định chính
xác nơi chúng tôi muốn tiến
hành tiêm và nếu đó là cả chiều
dài của sống mũi, chúng tôi
cũng xác định nó để biết chính
xác nơi thực hiện tiêm ghép mỡ.
Một khi chúng tôi đã
hoàn thành kế hoạch, chúng tôi
vô trùng khoang mũi và lỗ mũi
ngoài bằng betadine. Với một
ống cannula Abbocath, chúng
tôi tạo một điểm vào ở niêm mạc
tiền đình mũi, nằm giữa cánh
mũi và trụ mũi (Hình 13.1a).
Nếu chỉ có lõm một bên mũi
hoặc lõm không đều, chúng ta
sẽ đặt cannula và tạo điểm vào
ở bên đó; Nếu chúng ta nhắm
đến việc tiêm toàn bộ vùng mũi,
chúng ta sẽ tạo ra hai điểm vào
ở niêm mạc mũi, tại vị trí tiền
đình mũi ở cả 2 bên.
Sau khi tạo ra các lỗ,
chúng tôi đặt ống cannula Cole
man cho đến điểm chúng tôi
muốn tiêm mỡ và sau đó rút nó
theo chiều dọc và tiêm để lấp đầy
khuyết lõm. Phải đặt ống cannu
la ít gây chấn thương và không
để làm thủng da. Số lượng tiêm
mỡ rất nhỏ: 1 microfat 1 ->2cm
(Hình 13.1b).
Nếu có vết lõm hoặc sẹo
dính, sau khi kết thúc tiêm mi
crofat, chúng tôi thực hiện tiêm
nhũ tương thêm bên ngoài vào
lớp da và tại chỗ sẹo dính (Hình
13.1c).
13 Tiêm mỡ ở mũi
85
Hình. 13.1 Hình tháp của mũi. (a) Đặt Abbocath tại điểm vào của tiền đình mũi.
(b) Tiêm ghép microfat để sửa chữa chỗ biến dạng. (c) Thực hiện tiêm thêm nhũ
tương với kim đầu nhọn trong da (SNIE) Nếu vị trí đó bị lõm hoặc sẹo dính co
kéo. Thích hợp nhất là tiêm “1–3” mũi tiêm vào trong lớp da
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Baptista C, Nguyen PS, De
souches C, Magalon G, Bardot
J, Casanova D. Correction of se
quelae of rhinoplasty by lipo
filling. J Plast Reconstr Aesthet
Surg. 2013;66:805–11.
2. Bénateau H, Rocha CS, Rocha
Fde S, Veyssiere A. Treatment of
the nasal abnormalities of Hall
ermann-Streiff syndrome by
lipofilling. Int J Oral Maxillofac
Surg. 2015;44:1246–9.
14 Cổ hay ghép mỡ vùng cổ
86
Cổ hay ghép mỡ vùng cổ
14
Chúng tôi điều trị các nếp
nhăn dưới da ngang cổ bằng mi
crofat và trong da bằng phương
pháp tiêm mỡ bằng kim nhọn
(SNIF), thực hiện tiêm mỡ hết
cả chiều dài của nếp nhăn cổ.
Chúng tôi tiến hành rất cẩn thận
để tránh làm tổn thương mạch
máu vì đây là vùng nguy hiểm.
Chúng tôi luôn rút kim ra trước
khi tiêm mỡ vào (Hình 14.1).
14 Cổ hay ghép mỡ vùng cổ
87
a
b
Hình. 14.1 Sửa chữa vùng cổ và các nếp nhăn vùng cổ. (a) Tiêm microfat dưới
da nông bằng cannula. (b) Tiêm microfat hay nhũ tương vào trong da (SNIE)
15 Tiêm Meso ở vùng mặt
88
Tiêm Meso ở vùng mặt
15
Mesotherapy (liệu pháp
tiêm trong da) là một kỹ thuật
được sử dụng để làm trẻ hóa da
bằng cách tiêm trong da hoặc
tiêm xuyên qua da với các chất
pha loãng như là dung dịch vi
tamin tổng hợp, thuốc vi lượng
đồng căn và các chất hoạt tính
sinh học khác được cho là cải
thiện các dấu hiệu lão hóa của
da [1].
Các kết quả tốt thu được
khi tiêm mỡ để tái tạo da trong
các trường hợp phẫu thuật ung
thư sau xạ trị [2,4] đã mở rộng
các ứng dụng của mỡ và phần
phân đoạn mạch máu vào vùng
da cần trẻ hóa. Trong những
năm gần đây, chúng tôi đã thực
hiện các nghiên cứu cả ở vùng
mặt và trẻ hóa bàn tay và đã đạt
được những cải thiện đáng kể
về chất lượng da [5, 9].
Mặc dù chưa biết rõ vai
trò chính xác của mỡ hoặc một
số thành phần của nó trong việc
trẻ hóa da, nhưng kết quả cho
thấy tác dụng tái tạo mạch với
sự hình thành các mao mạch
mới cũng như sự tái cấu trúc và
hình thành các sợi đàn hồi mới
trong lớp da [6, 8].
Để thực hiện liệu pháp
meso, chúng tôi sử dụng nhũ
tương, huyết tương giàu tiểu cầu
hoặc vitamin riêng biệt hoặc kết
hợp, tùy thuộc vào nhu cầu của
từng bệnh nhân. Chúng tôi chỉ
có thể thực hiện liệu pháp tiêm
meso bằng nhũ tương để tái
tạo da và cải thiện làn da, hoặc
chúng tôi có thể muốn sử dụng
nó kết hợp với tiểu cầu để có
được tác dụng chống viêm ngay
lập tức nếu chúng tôi đã thực
hiện căng da mặt và nhằm mục
đích giảm sưng. Chúng ta có thể
thêm vitamin vào nhũ tương
để nuôi dưỡng lớp hạ bì, hoặc
chúng ta có thể muốn sử dụng
nhũ tương với tiểu cầu và vita
min. Đây là ba kết hợp được sử
dụng thường xuyên nhất (Hình
15.1).
15 Tiêm Meso ở vùng mặt
89
Khi đã chọn được hỗn
hợp nhũ tương thích hợp nhất +
tiểu cầu, nhũ tương + vitamin và
nhũ tương + tiểu cầu + vitamin,
chúng tôi vẽ các đường thẳng
trên má theo hình quạt cong từ
cung xương gò má xuống phía
dưới về phía rãnh mũi má toàn
bộ xương gò má và sau đó từ
điểm này trở lên trên khắp vùng
thái dương về phía đỉnh thái
dương (Hình 15.2).
Điều này cũng có thể
thực hiện ở trán hoặc ở bất kỳ
vùng da mặt nào mà chúng ta
muốn nuôi dưỡng. Với kim 23
G, chúng tôi tiêm hỗn hợp nhũ
tương theo các vạch phân kỳ
này cách nhau 1/2 cm và trong
lớp hạ bì da cách nhau 2 mm,
mỗi giọt có một giọt nhỏ của chế
phẩm. Cuối cùng, chúng tôi bôi
thuốc mỡ hoặc dầu hoặc kem
để làm dịu vùng điều trị, ví dụ,
thoa dầu hoa hồng hoặc một chế
phẩm của kem lô hội. Chườm
lạnh cũng có thể hữu ích. Nếu
liệu pháp meso là một phần của
điều trị khác và bệnh nhân chỉ
cần dùng thuốc an thần, không
cần gây mê. Nếu thực hiện kỹ
thuật ở cơ sở ngoại trú, việc áp
dụng bôi thuốc tê tại chỗ trước
và sau đó có thể gây tê vùng ở bó
mạch thần kinh dưới ổ mắt hay
bó mạch thần kinh thái dương
là cần thiết.
15 Tiêm Meso ở vùng mặt
90
Hình. 15.1 Có thể
kết hợp tiêm meso ở
mặt: Nhũ tương (A),
huyết tương giàu
tiểu cầu (B), vita
mins (C)
Hình. 15.2 Ví dụ vị
trí hay sử dụng để
tiêm meso nhất ở
vùng mặt
15 Tiêm Meso ở vùng mặt
91
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Atiyeh BS, Ibrahim AE, Dibo
SA.
Cosmetic
mesotherapy:
between scientific evidence,
science fiction, and lucrative
business. Aesthetic Plast Surg.
2008;32:842–9.
2. Rigotti G, Marchi A, Galie
M, Baroni G, Benati D, Kramp
era M, et al. Clinical treatment
of radiotherapy tissue dam
age by lipoaspi- rate trans
plant: a healing process medi
ated by adipose-derived adult
stem cells. Plast Reconstr Surg.
2007;119:1409–22.
3. Phulpin B, Gangloff P, Tran
N, Bravetti P, Merlin JL, Doliv
et G. Rehabilitation of irradiated
head and neck tissues by autol
ogous fat transplantation. Plast
Reconstr Surg. 2009;123:1187–
97.
4. Serra-Renom JM, Muñoz-Ol
mo JL, Serra-Mestre JM. Fat
grafting in postmastectomy
breast reconstruction with ex
panders and
prostheses in patients who
have
received
radiotherapy:
formation of new subcutane
ous tissue. Plast Reconstr Surg.
2010;125:12–8.
5. Coleman SR. Structural fat
grafting: more than a perma
nent filler. Plast Reconstr Surg.
2006;118(3 Suppl):108S–20.
6. Jeong JH. Adipose stem cells
and skin repair. Curr Stem Cell
ResTher. 2010;5:137–40.
7. Cohen SR, Mailey B. Adipo
cyte-derived stem and regener
ative cells in facial rejuvenation.
Clin Plast Surg. 2012;39:453–
64.
8.
Charles-de-Sá
L,
Gonti
jo-de-Amorim NF, Maeda Ta
kiya C, Borojevic R, Benati D,
Bernardi P, et al. Antiaging
treatment of the facial skin by
fat graft and adipose-derived
stem cells. Plast Reconstr Surg.
2015;135:999–1009.
9. Villanueva NL, Hill SM, Small
KH, Rohrich RJ. Technical re
fine- ments in autologous hand
rejuvenation. Plast Reconstr
Surg.2015;136:1175–9.
16 Căng da mặt
92
Căng da mặt
16
Khái niệm của chúng tôi
về căng da mặt dựa trên hai yếu
tố chính. Đầu tiên là thành phần
chảy xệ do lão hóa: dây chằng
căng giãn ra, và các mô có xu
hướng hạ chùng xuống. Hiệu
ứng này đặc biệt thấy rõ nhất ở
vùng má và cổ [1].
Yếu tố quan trọng khác
là mất khối lượng do thay đổi
và tiêu dần của bộ xương mặt
[2] và teo các khoang mỡ ở mặt
[3]. Điều này, trong số những
thay đổi khác, có nghĩa là ổ mắt
trở nên lớn hơn, vùng má mất
thành phần bên trong và mất
thể tích cấu trúc vùng mặt. Điều
này được gọi là yếu tố thể tích.
Khi sử dụng bất kỳ kỹ
thuật căng da mặt nào, bác sĩ
phẫu thuật phải tính đến cả hai
yếu tố sau: (1) giải quyết tình
trạng chảy xệ và da thừa nhưng
đồng thời không mổ xẻ mô quá
nhiều để điều trị thể tích, bao
gồm ghép mỡ bằng microfat,
nhũ tương, tiêm nhũ tương
trong da bằng kim nhọn (SNIE),
tiêm mỡ trong da bằng kim
nhọn (SNIF) và nanofat, không
thể thực hiện. (2) Một điều cũng
quan trọng là phải tránh các
dấu hiệu nhìn thấy sẹo nhiều do
căng da mặt như sẹo ở da đầu
gây mất tóc hoặc loại bỏ tóc mái
khi duỗi hoặc các dải ở ngang cổ.
Nên tránh các sẹo trên đường
chân tóc, bởi vì mặc dù chúng
ta làm cho vết sẹo nằm xiên
hoặc xiên nhiều càng tốt, nhưng
thường có thể bị nhìn thấy. Đôi
khi sẹo lõm xuống hoặc trở nên
phì đại to lên. Đồng thời, tai
không được phép nghiêng về
phía trước hoặc dái tai bị chảy
xệ xuống dài hơn vì lực kéo sẹo
do căng da mặt. Bây giờ chúng
tôi mô tả một số kỹ thuật căng
da mặt chính kết hợp hai nguyên
tắc này.
16 Căng da mặt
93
16.1 Căng da mặt với vạt
SMAS
(Superficial
Muscu
loaponeurotic System) nằm ở
bên dưới
Kỹ thuật này [4], như
được mô tả bởi các tác giả, chia
sẻ lý do và lợi ích của việc cắt
bỏ SMASectomy bên [5]. Tuy
nhiên, thay vì cắt bỏ SMAS, nên
sử dụng SMAS để tạo ra một vạt
hình lưỡi có cuống bên dưới
từ vị trí xương chũn tới để cải
thiện rãnh mũi má và da chảy xệ
ở cằm, đồng thời để tăng cường
đường viền ở cổ trong phẫu
thuật căng da mặt.
Một ưu điểm khác của kỹ
thuật này là nó không đòi hỏi
phải cắt bỏ SMAS; Không tách
nó ra khỏi vùng má, và bảo tồn
mạch máu trong SMAS. Điều
này tránh bị 2 mặt phẳng sẹo và
cho phép thực hiện ghép mỡ ở
giữa của vùng mặt.
16.1.1 Tiêm dung dịch Tumes
cent
Tiêm dung dịch tumes
cent dưới da ở những vùng mà
tiến hành bóc tách da. Tiêm kéo
dài qua vùng mang tai hoặc rộng
hơn một chút, bắt đầu từ gốc tai
ngay phía trên mức của tóc mai
mà không chạm tới chân tóc
và kéo dài ra sau tai mà không
chạm tới đường chân tóc đến
tận cơ sau tai (Hình 16.1a, b).
Sau khi tiêm dung dịch tumes
cent ở má, trước khi bắt đầu
phẫu thuật, chúng tôi cũng tiêm
dung dịch tumescent ở quanh
cổ, ở rìa hàm dưới và cho đến
vùng dái tai (Hình 16.1c). Pha
loãng dng dịch tumescent với
tỉ lệ adrenaline/lidocaine là 1:
200.000.
16.1.2 Tạo dáng ở cổ
Điều rất quan trọng để
đánh giá tình trạng của cổ và
kiểm tra sự lỏng lẻo của da
trước phẫu thuật. Bằng cách
kiểm tra bằng nhìn trực tiếp và
sờ nắn, chúng tôi xác định xem
có thành phần mỡ dưới da hay
không. Chúng tôi cũng đánh giá
các dải trước và sau của cơ bám
da cổ, yêu cầu bệnh nhân thực
hiện các động tác làm co cơ bám
da cổ để lên kế hoạch can thiệp
phẫu thuật ở cổ cho phù hợp
(Hình 16.2a).
Sau khi đã chẩn đoán,
mổ bóc tách vùng trước cổ
nhưng không vượt qua xương
xương móng bằng cách sử dụng
phương pháp hút mỡ không
xâm lấn và bóc tách dưới da
bằng ống cannula 3 mm thẳng
để không tạo ra sự bất thường
và bám dính trên da. Chúng tôi
cũng cố gắng để lại một lớp mỡ
dưới da dính vào da.
16 Căng da mặt
94
Hình. 16.1 Tiêm dung dịch Tumescent.(a) Bóc tách dưới da ở vùng da má và da
sau tai. (b) Tạo điểm vào của kim dung dịch Tumescent nằm trước tai. (c) Tiêm
dung dịch tumescence quanh cổ, hàm dưới, và toàn bộ vùng dái tai. “1 và 2” điểm
vào như hình minh họa “ Điểm vào của kim tiêm tumescent nằm ở vùng trước tai”
Có thể được thực hiện
thao tác này mà không gặp khó
khăn thông qua ba điểm vào:
một điểm ở ngang đường dưới
cằm và 2 điểm ở ngang mức dái
tai 2 bên (Hình 16.2b).
Sau đó, nếu cần thiết, chúng
tôi điều trị cơ bám da cổ, mổ da
ở ngang mức đường dưới cằm.
Không thực hiện mổ da trên nếp
gấp mà cách đó 2 mm,
do đó vết sẹo vẫn được giấu và
không lộ ra ở hai bên khi da bị
kéo căng (Hình 16.2c).
Sau đó, với sự trợ giúp
của một retractor có ánh sáng,
toàn bộ mặt phẳng dưới da
được bóc tách bằng kéo căng da
mặt (Hình 16.2d).
Chúng tôi thực hiện bóc
tách dưới da và trên cơ bám da
a
b
c
16 Căng da mặt
95
cổ trong một hình tam giác, tách
ra các bờ trước và hai dải của
cơ bám da cổ, chạm đến xương
móng (Hình 16.2e).
Ở tại xương móng, thực
hiện cắt bỏ khoảng 2 cm ra 2
bên để khi hai dải cơ bám da
cổ sẽ khâu lại ở đường giữa,
không có sự dư thừa cơ (Hình
16.2f). Sử dụng 4 hoặc 5 mũi
khâu khi thực hiện đường viền
giữa; chúng tôi không bao giờ
chỉnh lại các dải vì chúng có thể
bám vào da và tạo ra kết quả rất
thiếu thẩm mỹ.
16.1.3 Bóc tách dưới da
Đường mổ trước tai bắt
đầu từ điểm cao nhất của tai. Nó
bắt đầu chỉ 1 mm phía sau mép
trên của vành và sau đó theo
đường viền xuống dái tai (Hình
16.3a, b).
Sau đó, bên dưới da, để
lại một ít mô mỡ dính vào vạt
da, chúng tôi bóc tách toàn bộ
vùng đã đánh dấu bằng dao
mổ hoặc bằng kéo căng da mặt
(Hình 16.3c, d). Thực hiện
bóc tách này lên đến và vượt ra
ngoài rìa của tuyến mang tai.
Nếu cần thiết, có thể mở rộng
việc bóc tách thêm một chút với
sự trợ giúp của thiết bị retractor
có ánh sáng lạnh (Hình 16.3e).
Sau đó, chúng tôi uốn
cong tai về phía trước và đánh
dấu đường mổ sau tai. Vết mổ
này không mổ chính xác trên nếp
gấp sau tai mà cao hơn khoảng
0,5 cm, do đó khi da bị kéo căng,
vết sẹo không nhìn thấy và vẫn
ẩn sau tai (Hình 16.3f).
16 Căng da mặt
96
a
b
c
d
e
f
Hình. 16.2 Tạo dáng cổ. (a) Phân tích vùng cổ trước phẫu thuật. Mũi tên: chỉ
dải cơ bám da cổ. (b) Hút mỡ không xâm lấn nhiều ở vùng cổ và vùng nọng cằm.
“1–3” điểm vào khi hút mỡ ở vùng cổ. (c) Mổ da dưới cằm. (d) Bóc tách dưới da.
(e) Cắt cơ tại vị trí xương móng. (f) Gấp lại cơ bám da sau khi cắt cơ bám da tại
ngang mức xương ức
