16 Căng da mặt
97
Hình. 16.3 Bóc tách da. (a) Vẽ. (b) Đường mổ trước tai. (c) Bóc tách dưới da
qua SMAS bằng dao mổ hay bằng kéo căng da mặt (d). (e)Tiếp xúc với SMAS. (f)
Đường mổ trước tai. (g) Tiêm tê vùng sau tai. (h) Đường mổ sau tai. (i) Bóc tách
dưới da. (j) Bóc tách dưới da ở đầu xa. (k) Khi bóc tách dưới da ở vùng sau tai,
điểm bóc tách xa nhất phải đến vùng má
a
b
c
d
e
f
16 Căng da mặt
98
g
h
i
j
k
Hình. 16.3 tiếp tục
Ưu điểm của việc tiêm
dung dịch tumescent vào trong
vùng này là nó thực hiện quá
trình bóc tách tổ chức, cho phép
dễ dàng bóc tách ra tất cả da ở
vùng sau tai (Hình 16.3g). Sau
đó, thực hiện vết mổ phía sau
tai lên trên cao hơn 1 cm so với
cơ sau tai (Hình 16.3h).
Thực hiện bóc tách da
vùng sau tai bằng dao mổ hoặc
kéo mổ căng da mặt với sự trợ
giúp của kéo da retractor có ánh
sáng lạnh (Hình 16.3i,j). Sau đó,
bóc tách thêm phần trước tai và
sau tai (Hình 16.3k).
Sau khi hoàn thành việc
bóc tách vạt da, thực hiện đốt
cầm máu kỹ bằng dao mổ điện
lưỡng cực.
16 Căng da mặt
99
16.1.4 Tạo hình SMAS
Để tính toán kích thước
của vạt SMAS, phụ thuộc vào độ
mềm của bờ hàm dưới và nếp
rãnh mũi má, thực hiện kéo thử
vạt ra phía tai bằng một cái kẹp
(Hình 16.4a).
Sau khi tính toán chiều
rộng của vạt, thiết kế một vạt
SMAS có lưỡi xiên xuống dưới.
Vạt hình chữ U lộn ngược nằm
ở phía trước tai khoảng 1 cm và
xiên lên về phía góc mắt ngoài,
chạm tới cung xương gò má
và song song với rãnh mũi má
(Hình 16.4b).
Để tạo điều kiện cho việc
bóc tách vạt, trước đó nên tiêm
dung dịch tumescent (Hình
16.4c). Sau đó, sẽ bóc tách từ
đầu đến đuôi đến 1 hoặc 2 cm
dưới góc xương hàm dưới, nên
ghi nhớ rằng chúng ta ở trên
tuyến mang tai nhưng nhìn thấy
nó rõ ràng và nếu không dễ có
thể mở vào cân tuyến mang tai
(Hình 16.4d).
Vạt SMAS cho sẽ khâu
lại lại bằng chỉ khâu tiêu chậm
4.0, khâu liên tục (Hình 16.4e).
Theo cách này, rãnh mũi má và
cạnh bờ hàm dưới được sửa lại.
Sau đó, xoay và kéo dài SMAS ra
sau tai và cuối cùng khâu bằng
chỉ khâu tiêu chậm 3-0 tại một
số vị trí ngang mức với xương
chũm (Hình 16.4f).
Với lực kéo này, vùng cổ vẫn
thích nghi rất tốt, và góc hàm
cũng chỉnh lại.
Sau khi khâu vạt, chúng
tôi thực hiện hai hoặc ba mũi
khâu ở bờ cơ bám da và khâu
nó vào cơ ức đòn chũm (Hình
16.4g).
16.1.5 Khâu da
Để áp dụng lực kéo của
các vạt da theo đúng hướng và
để có thể tính toán lượng da cần
cắt bỏ, chúng tôi sử dụng hai
kẹp Lahey, một cái ở vị trí phía
trước tai và cái còn lại ở phía
sau tai.
Chúng tôi kéo phần trước
tai lên một chút và hướng ra
ngoài, tránh còn lại bất kỳ nếp
gấp hoặc vùng da thừa nào ở
bờ trên của vết mổ và di chuyển
vùng sau tai theo hướng lên
trên, tìm 1 vị trí thích hợp để
đính da ( Hình 16.5a).
Thực hiện hai phần song
song của vạt da cho đến khi nhìn
thấy các cạnh trên và dưới của
vành tai; ở đó có chúng ta khâu
vạt da má vào một cấu trúc cố
định, ống tai ngoài, với hai mũi
khâu hình chữ U bằng Prolene
3-0 (Hình 16.5c, d).
Hai mũi khâu trong ống
tai ngoài duy trì lực kéo của vạt
mà không làm biến dạng hoặc
mở rộng ống tai, cho phép
16 Căng da mặt
100
a
b
c
d
e
f
g
16 Căng da mặt
101
Hình. 16.4 Tạo hình SMAS. (a) Kéo thử vạt để tính toán cho phù hợpp. “a” và “b” là
2 điểm kéo thử độ chùng của SMAS từ điểm này đến điểm khác để đánh giá lượng
SMAS thừa cần cắt bỏ. (b) Thiết kết vạt SMAS. (c) Tiêm dung dịch tumescent
. (d) Nhấc vạt lên. (e) Khâu lại vùng cho. (f) chuyển vạt SMAS ra vùng sau tai và
vào vùng cân xương chũm. (g) Thực hiện khâu gập thêm cơ bám da cổ từ 2->4
mũi khâu.
chúng ta tránh sự cần thiết phải
kéo dài vết mổ đến tận vùng
thái dương hoặc đường chân
tóc, và do đó không làm thay đổi
đường rìa hoặc đường chân tóc
sau gáy.
Sau đó, phần da thừa bên
trên và bên dưới vành tai được
cắt bỏ, đảm bảo rằng nó được
căn chỉnh hoàn hảo với vết mổ
đã tạo ra trước tai (Hình 16.5e).
Khi đạt đến dái tai, điều
rất quan trọng là phải cắt bỏ da
mà không căng vết mổ. Sau đó,
thực hiện với phần dọc theo dái
tai, để không gây căng vết mổ,
chúng tôi thực hiện một mũi
khâu dưới da ở dái tai, cho phép
gắn nó vào mặt phẳng sâu (Hình
16.5f).
Để cắt bỏ da sau tai,
chúng tôi uốn cong tai về phía
trước, và với lực kéo vừa phải và
ađảm bảo rằng dái tai không bị
gập và vẫn phẳng, chúng tôi cắt
nó đến tận bờ trên của vết mổ ở
ngang vị trí của cơ sau tai (Hình
16.5g). Ở vùng đã cắt bỏ, các bờ
của vết thương không đối xứng,
ở tai ngắn hơn nhiều so với vạt
da hình vòng cung. Điều này sau
đó sẽ chỉnh sửa bằng chỉ khâu
(Hình 16.5h).
Sau khi khâu vết thương
ở phía sau dái tai mà không
bị gập da (vùng b trong hình
minh họa) và đạt đến ngang
mức của xoắn tai, chúng tôi trải
da đều vùng này một cách cẩn
thận (Hình 16.5i), lấy nhiều mô
ở bờ dưới của vết mổ hơn bờ
trên của vết mổ để bố trí lại da
ở 2 mép vết mổ cho đều nhau.
Chúng tôi làm điều này bằng
cách dùng chỉ Vicryl rapide 4-0
khâu liên tục với các vòng khâu
nhỏ và vừa phải. Từ xoắn tai trở
lên, điều rất quan trọng là tạo ra
một thao tác vuốt nhẹ vừa phải
lấy nhiều mô từ da phía sau tai
hơn từ da ở tai để có thể lấy mô
và hoàn thành toàn bộ khâu da
vùng này.
Ở đầu trên, đôi khi cần
phải kéo dài vết mổ thêm một tí
để sửa tai chó nhỏ, nhưng phần
mở rộng này vẫn nằm trong nếp
gấp hình vòng cung của tai. Việc
trải đều da không phải là mối
quan tâm của chúng tôi bởi vì
nó sẽ tự lành vết thương hoàn
toàn trong vòng một tháng
16 Căng da mặt
102
(Hình 16.5j).
Khi khâu vết thương ở phía
trước tai, điều rất quan trọng là
tái cấu trúc lại bình tai cho thật
tốt, và vì lý do này, chúng tôi tiến
hành rất cẩn thận. Đầu tiên, ở
phần trước của bình tai, chúng
tôi để dài hơn một vài milimet ở
lớp sâu để da có thể phân phối
và phủ lên vùng bình tai
a
b
c
d
e
f
16 Căng da mặt
103
g
h
i
j
Hình. 16.5 Khâu da. (a) Da chun giãn tốt mà không tạo tai chó ở hai
đầu vết mổ. (b) Điểm đính da vào ống tai ngoài. (c) Bóc tách da cho
đên bờ dưới của bình tai. (d) Điểm đính thứ 2 của vạt da vào ống tai
ngoài. (e) Cắt da thừa ở trên và dưới bình tai. (f) Tách lớp dưới da ở
dái tai để khâu vào lớp sâu. (g) Cắt bỏ da thừa. (h) Không đối xứng 2
bờ vết thương sau tai, nó phải sữa chữa bằng các mũi khâu. (i) Sau
khi khâu phần sau cảu dái tai và khâu tới xoắn tai (vùng a), chúng tôi
khâu, gấp da (vùng b). (j) Khâu da sau tai. (k) Cắt bỏ các tổ chức sâu
ở phía trước vùng bình tai. (l) Làm phẳng vạt bình tai. (m) Tạo hình
lại bình tai. (n) Đóng da hoàn toàn. (o) Sửa chữa những vùng lõm da
ở mặt bằng ghép mỡ. “1–4” mũi tiêm mỡ để tạo ra hình thức tiêm xiên
trong da và dưới da. (p) Tiêm huyết tương giàu tiểu cầu
16 Căng da mặt
104
k
l
m
n
o
16 Căng da mặt
105
Hình. 16.5 tiếp tục
p
vùng trước bình tai và che dấu
bớt sẹo do căng da mặt (Hình
16.5k). Sau đó, chúng tôi lật
ngược da ra và loại bỏ ít mỡ để
da sẽ tái tạo tốt và phù hợp với
vùng bình tai một cách hoàn
hảo (Hình 16.5l).
Khi chúng tôi đã thiết kế
vùng da trước bình tai và làm
mỏng vùng da này, chúng tôi
thực hiện khâu da bằng mũi
khâu đơn mà không căng da
và với một lượng mô đáng kể
để đạt được hiệu quả thẩm mỹ
ở bình tai. Điều rất quan trọng
là cả bình tai 2 bên đều giống
hệt nhau, đường viền và không
quá nhỏ. Sau đó, chúng tôi khâu
da và bình tai (Hình 16.5m) và
hoàn thành khâu vết mổ. Thực
hiện khâu da bằng chỉ nylon 5-0
monofilament theo kiểu liên tục
trong da (Hình 16.5n).
Sau khi phẫu thuật hoàn
tất, thực hiện việc ghép mỡ ở
vùng má để tối ưu hóa tính đối
xứng của cả hai bên mặt, chỉnh
sửa những vùng lõm và phục
hồi đường viền khuôn mặt [6]
(Hình 16.5o). Tại thời điểm này,
và tùy thuộc vào nhu cầu của
từng bệnh nhân, chúng tôi thực
hiện các kỹ thuật ghép mỡ ở
mặt khác đã được mô tả trong
các chương trước.
Sau đó, với ống cannula
cùn 1 mm, chúng tôi tiêm huyết
tương giàu tiểu cầu (PRP) trong
toàn bộ vùng đã mổ xẻ (Hình
16.5p). Theo kinh nghiệm của
chúng tôi, việc tiêm PRP liên
quan đến nâng da mặt giúp hạn
chế tình trạng viêm và làm giảm
tình trạng sưng bầm và dẫn lưu
16 Căng da mặt
106
sau phẫu thuật 24 giờ.
Chúng tôi để lại hai ống
dẫn lưu tại chỗ, không hút áp
lực âm. Đặt dẫn lưu bằng kim ở
da đầu, nhưng chúng tôi giữ kín
miệng kim mà không hút áp lực
âm trong 4 h. Ngoài ra, trong 24
giờ đầu tiên, áp dụng băng ép
vùng cổ và vùng sau tai bằng
gạt thấm nước vô trùng; Băng
gạt di động, để giữ cho các mô
hoạt động và ngăn ngừa sự hình
thành khối máu tụ.
16.2 Khâu gập SMAS
Bên cạnh kỹ thuật được
mô tả ở trên dựa trên vạt SMAS
hình chữ U ngược, có thể thực
hiện các kỹ thuật xâm lấn tối
thiểu khác. Một điều rất hữu ích
nữa là khâu gập SMAS [7].
Về cơ bản, bóc tách dưới
da giống như trong hầu hết các
phẫu thuật xâm lấn tối thiểu.
Sau khi thực hiện kiểm tra độ
chụm để quyết định thực hiện
về việc khâu gập (hoặc chỉ gập
lại), mà không làm yếu SMAS,
chúng tôi kéo nó lên và khâu nó
vào vị trí mới (Hình 16.6a, b).
Các kỹ thuật khâu gập
SMAS là nhanh chóng, đơn giản
để thực hiện và an toàn, nhưng
chúng có thể gây phồng ở vùng
bị chèn ép (Hình 16.6c).
Bằng cách này, chúng tôi
không phải tách rời SMAS
và chúng tôi không sợ nguy cơ
chấn thương dây thần kinh mặt,
mặc dù có một chỗ phình nhỏ
ở vùng khâu gập. Trong một số
trường hợp, quy trình này được
chỉ định (Hình 16.6d).
16 Căng da mặt
107
a
b
c
d
Hình. 16.6 Khâu gập SMAS trong căng da mặt. (a) Cắt bóc tách tổ chức dưới da
tương tự như trong Hình. 16.3. (b) Đánh giá vị trí mới của SMAS. Mũi tên chỉ vec
tor hay chỉ hướng kéo của SMAS. (c) Thực hiện khâu gập: “a” gập SMAS, “b” khâu
SMAS lên vị trí mới. (d) Thực hiện 1 hay nhiều lần gập. Đâu là một trong những kỹ
thuật khâu gập hay dùng nhất.
16 Căng da mặt
108
16.3 Cắt SMAS
Cắt bỏ SMAS, lần đầu tiên
được mô tả bởi Baker [5, 8], bao
gồm cắt một đường xiên hình
elip qua SMAS từ bờ ngoài đến
bờ xương hàm dưới. Sau đó, các
khuyết SMAS được
khâu lại và rãnh mũi má được
chỉnh sửa lại. Tuy nhiên, quy
trình này không chỉnh sửa vùng
cổ và nó cũng tạo một đường mổ
ở phía trước tóc mai và đường
chân tóc (Hình 16.7).
a
b
c
Hình. 16.7 Cắt SMAS phía ngoài. (a) Tiếp xúc với SMAS. (b) Cắt SMAS hình elip
qua tuyến mang tai. (c) Phía trước SMAS di động, nơi không được tách ra từ mặt
phẳng sâu hơn và để duy trì những mạch máu và độ chun giãn, kéo lên và khâu cố
định vào SMAS phía sau bằng các dây chằng.
16 Căng da mặt
109
16.4 Căng da mặt MACS ( sa
trễ ít)
Tonnard và đồng nghiệp [9]
đã mô tả cả hai hình thức đơn giản
và mở rộng của căng da mặt MACS.
Thực hiện một vết mổ da hình chữ
L lộn ngược từ gốc dái tai, đi qua
phía trước tai và cho đến khi tới
giới hạn dưới của tóc mai. Trong
phiên bản mở rộng, vết mổ tiếp
tục dọc theo đường bờ trước của
đường chân tóc thái dương
Bóc tách da chỉ là bóc tách
dưới da, chạy từ 1 cm trên cung
xương gò đến góc xương hàm dưới
và khoảng 5 cm ở phía trước. Thực
hiện 2 mũi chỉ khâu hình chữ U
bằng Prolene 2-0 trên vùng không
bóc tách SMAS, và neo vào cân thái
dương sâu (Hình 16.8).
Nâng MACS mở rộng không
chỉ kéo dài vết mổ da mà còn kéo
dài vết mổ dưới da qua vùng túi
mỡ má; điều này làm cho nó có thể
thực hiện khâu đính giữa cân thái
dương sâu và túi mỡ má.
Mặc dù chúng tôi không ủng hộ vết
mổ trước tai, nhưng kết quả thu
được với kỹ thuật này cũng rất khả
quan.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Furnas DW. The retaining liga
ments of the cheek. Plast Reconstr
Surg. 1989;83:11–6.
2. Mendelson B, Wong CH. Chang
es in the facial skeleton with aging:
implications and clinical applica
tions in facial rejuvenation. Aes
thetic Plast Surg. 2012;36:753–60.
Hình. 16.8 Căng da mặt MACS
3. Rohrich RJ, Pessa JE. The fat
compartments of the face: anat
omy and clinical implications
for cosmetic surgery. Plast Re
constr Surg.
2007;119:2219–27. Discussion
2228–31.
4. Serra-Renom JM, Diéguez
JM, Yoon T. Inferiorly pedi
cled tongue- shaped SMAS flap
transposed to the mastoid to
improve the nasola- bial fold
and jowls and enhance neck
contouring
during
face-lift
surgery. Plast Reconstr Surg.
2008;121:298–304.
5. Baker DC. Lateral SMASec
tomy. Plast Reconstr Surg.
1997;100:509–13.
PHẦN III
CÁC CA LÂM SÀNG
17 Các ca lâm sàng
111
Các ca lâm sàng
17
Chương này trình bày
lịch sử ngắn gọn của một số
bệnh nhân đã trải qua một số kỹ
thuật ghép mỡ mặt đã mô tả
trong các chương trước để điều
chỉnh các thiếu hụt về thể tích
hoặc cho các nếp nhăn nông ở
mặt.
17.1 Case lâm sàng 1
Hình. 17.1 Bệnh nhân 55 tuổi muốn yêu cầu trẻ hóa vùng mặt. (a) Nhìn thẳng. (b)
Nhìn nghiên. (c) Sau căn da mặt: ghép mỡ mặt. (d) Ghép tiểu cầu vùng cổ đã bóc
tách. (e) Nhìn thẳng 1 năm sau phẫu thuật . (f) Nhìn nghiên 1 năm sau phẫu thuật
a
b
c
d
17 Các ca lâm sàng
112
d
e
Hình. 17.1 (tiếp theo)
17.2 Case lâm sàng 2
17 Các ca lâm sàng
113
Hình. 17.2 Bệnh nhân 45 tuổi yêu cầu trẻ hóa vùng mặt. (a) Trước mổ nhìn thẳng.
(b) Trước mổ nhìn nghiên. (c) Ảnh lúc mổ. Sau khi căng da mặt, thực hiện ghép
mỡ microfat ở vùng quanh mắt và vùng má. (d) Tiêm tiểu cầu. (e) Nhìn thẳng
1-năm sau phẫu thuật. (f) Nhìn nghiên 1-năm sau phẫu thuật
a
b
c
d
e
f
17 Các ca lâm sàng
114
17.3 Case lâm sàng 3
Hình. 17.3 Bệnh nhân 60 tuổi yêu cầu trẻ hóa vùng quanh mắt. (a) Ảnh trước mổ
cho thấy thừa da ở vùng mí mắt trên, túi mỡ mí dưới, rãnh lệ sâu, và các vùng lõm
ở túi mỡ má (b) Ảnh trong lúc mổ sau khi thực hiện phẫu thuật tạo hình mí trên,
lấy túi mỡ mí dưới qua đường kết mạc, và ghép mỡ ở rãnh lệ chích nhũ tương ở
mí dưới. (c) Ảnh 1-năm sau phẫu thuật
a
b
c
17 Các ca lâm sàng
115
17.4 Case lâm sàng 4
a
b
c
d
Hình. 17.4 Bệnh nhân yêu cầu trẻ hóa vùng mặt bằng ghép mỡ đơn thuần. (a)
Nhìn thẳng trước mổ. (b) Ghép microfat ở rãnh mũi má. (c) Ghép microfat ở
rãnh môi-má. (d) Ảnh 1 năm sau phẫu thuật ghép mỡ vùng quanh miệng
17 Các ca lâm sàng
116
17.5 Case lâm sàng 5
a
b
c
d
e
f
Hình. 17.5 Bệnh nhân 70 tuổi yêu cầu trẻ hóa vùng mặt. (a) Trước mổ nhìn
thẳng. (b) Trước mổ nhìn nghiên. (c) Ghép mỡ bằng microfat ở nếp nhăn cổ. (d)
Ghép mỡ trong da bằng kim nhọn (SNIF) ở nếp nhăn cổ. (e) Ghép microfat ở rãnh
mũi má. (f) Chích vuông góc SNIF ở rãnh mũi má. (g) Tiêm thêm trong da SNIF để
làm giảm các nếp nhăn ở rãnh mũi má. (h) SNIF làm đầy rãnh môi-má. (i) Tiêm
vuông gócSNIF ở rãnh môi-má. (j) SNIF và microfat ở chân mày. (k) SNIF ở nếp
nhăn góc mắt ngoài. (l) Sửa chữa nếp nhăn cau mày. (m) Nhìn thẳng 1-năm sau
phẫu thuật. (n) Nhìn nghiên
1-năm sau phẫu thuật
17 Các ca lâm sàng
117
g
h
i
j
k
l
m
n
Hình. 17.5 tiếp tục
17 Các ca lâm sàng
118
17.6 Case lâm sàng 6
a
b
c
d
f
e
g
17 Các ca lâm sàng
119
Hình. 17.6 Bệnh nhân 20- tuổi yêu cầu sửa tháp mũi. (a) Trước mổ nhìn thẳng.
(b) Trước mổ nhìn nghiên. Đánh giá khi nhìn nghiên cho thấy cằm bị thiểu sản
(nhỏ). (c) Thực hiện phẫu thuật tạo hình mũi. Thiết kế vùng để ghép mỡ cằm.
(d) Ghép mỡ cằm với microfat dùng cannula Coleman. (e) Cố định mảnh ghép
mỡ cằm. (f) Nhìn thẳng 1-năm sau phẫu thuật. (g) Nhìn nghiên cho thấy sự hài
hòa hơn với ghép mỡ ở cằm.
17.7 Case lâm sàng 7
a
b
c
d
17 Các ca lâm sàng
120
e
f
g
h
i
j
k
L
17 Các ca lâm sàng
121
Hình 17.7 Bệnh nhân 39 tuổi yêu cầu trẻ hóa da mặt không xâm lấn. Thực hiện
ghép mỡ trên khắp vùng mặt. (a) Nhìn thẳng trước phẫu thuật. (b) Nhìn nghiên
trước phẫu thuật. (c) Ghép mỡ bằng microfat ở vùng má. (d) Đường để thực hiện
ghép mỡ ở vùng thái dương. (e) Sử dụng Abbocath 16 (Abbott Ireland Ltd, Sligo,
Ireland) để đặt ống cannula để điều chỉnh rãnh lệ. (f) Sửa chữa rãnh lệ bằng ống
cannula. (g) Dùng Abbocath 16 để thực hiện ghép mỡ ở vùng mí mắt dưới. (h)
Tiêm microfat và nhũ tương vào mí mắt dưới bằng ống cannula. (I) Abbocath tạo
đường vào để điều chỉnh nếp nhăn chân chim và góc mắt ngoài. (j) Cannula làm
đầy vùng ổ mắt ngoài và nếp nhăn chân chim. (k) SNIF để điều chỉnh theo chiều
dọc của rãnh mũi má. (l) SNIF để điều chỉnh vuông góc các rãnh mũi má. (m) SNIF
để điều chỉnh theo chiều dọc của rãnh môi-má. (n) SNIF để chỉnh sửa cung Cupid
ở môi trên. (o) SNIF chỉnh đường Cupid ở môi dưới. (p) SNIF với microfat để sửa
các cột nhân trung. (q) Mesotheray với nhũ tương và tiểu cầu. (r) Ảnh kết thúc quy
trình mổ. (s) Nhìn thẳng sau 1 năm. (t) Nhìn nghiên sau 1 năm
m
n
o
p
17 Các ca lâm sàng
122
q
r
s
t
Hình 17.7 tiếp tục
17 Các ca lâm sàng
123
17.8 Case lâm sàng 8
17 Các ca lâm sàng
124
Hình 17.8 Bệnh nhân bị chấn thương mũi và bị lệch và lõm bên trái. Không muốn
nâng mũi nhưng muốn cách cải thiện tình trạng mũi. Tiêm microfat ở vùng lõm
bên trái. (a) Nhìn thẳng trước phẫu thuật. (b) Thiết kế cẩn thận các vùng để
ghép mỡ. (c) Dùng cannula cùn để tiêm microfat, không có điểm vào trên sống
mũi. (d) Đặt cannula qua đường niêm mạc mũi và đặt sâu vào đến vùng lõm để
ghép mỡ. (e) Ngay sau khi ghép mỡ. (f) Sau mổ 1 năm
17 Các ca lâm sàng
125
Mặc dù đã cố gắng, chỉnh sửa và hiệu chỉnh, biên dịch sát nghĩa
nhất, nhưng cũng không thể tránh khỏi những sai sót. Rất mong
phản hồi, đóng góp từ phía Quý bác sĩ.
Trân trọng
Liên hệ: ducta.bic@gmail.com
Facebook: Thư viện thẩm mỹ ()
Website: e-bacsy.com
