Ghep-mo-Full

19/11/2025 • by Bs CKI Phẫu thuật tạo hình, tái tạo và thẩm mỹ Trương Hoài Anh • cấy mỡ
Sơ đồ minh họa các vùng ghép mỡ trên khuôn mặt để trẻ hóa và phục hồi thể tích, bao gồm trán, thái dương, quanh mắt, má, rãnh mũi má và cằm.

Tổng quan chuyên sâu về Ghép Mỡ Tự Thân và Phẫu Thuật Trẻ Hóa Khuôn Mặt

Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện và chuyên sâu về phẫu thuật ghép mỡ tự thân và các kỹ thuật trẻ hóa khuôn mặt, nhấn mạnh vào việc phục hồi thể tích như một phương pháp đối kháng với quá trình lão hóa do trọng lực. Nội dung được trình bày một cách hệ thống, từ nền tảng lý thuyết, giải phẫu học chi tiết đến các quy trình kỹ thuật và ứng dụng lâm sàng thực tế, là cẩm nang thiết yếu cho các bác sĩ phẫu thuật tạo hình và thẩm mỹ.

Phần I: Nguyên Tắc Chung – Nền Tảng Lý Thuyết

Phần này tập trung vào lý thuyết về lão hóa vùng mặt, so sánh giữa thuyết trọng lực và thuyết thể tích (bao gồm mô hình chảy xệ giả), cho rằng lão hóa là sự kết hợp của nhiều yếu tố như thay đổi xương, teo khoang mỡ và lỏng lẻo dây chằng. Chương 2 đi sâu vào cơ sở giải phẫu của lão hóa trên da, mô mềm (các khoang mỡ nông và sâu, dây chằng, cơ) và xương mặt. Các chương tiếp theo trình bày nguyên lý chung của ghép mỡ (lấy, xử lý, tiêm), đặc biệt nhấn mạnh các điểm giải phẫu quan trọng cần tránh tổn thương mạch máu và dây thần kinh, cùng với phân tích chi tiết các biến chứng tiềm ẩn trong ghép mỡ.

Phần II: Kỹ Thuật và Ứng Dụng Lâm Sàng

Đây là phần trọng tâm, hướng dẫn chi tiết các kỹ thuật ghép mỡ tiên tiến: ghép mỡ cấu trúc (structural fat), microfat, tiêm mỡ vào trong da bằng kim sắc nhọn (SNIF), nanofat, và mỡ phân đoạn. Các ứng dụng lâm sàng được mô tả theo từng vùng giải phẫu:

  • Vùng Quanh Mắt và Má: Điều trị đường cau mày, đuôi lông mày, vùng thái dương, nếp nhăn chân chim, rãnh lệ, và đặc biệt là kỹ thuật nâng đỡ các “vectơ âm” ở má để phục hồi độ nhô và vẻ trẻ trung.
  • Vùng Quanh Miệng: Ghép mỡ cho rãnh mũi má, nếp nhăn môi-cằm, vùng môi, và tạo hình cằm/vùng hàm.
  • Các Kỹ Thuật Phối Hợp: Mô tả kỹ thuật ghép mỡ ở mũi và cổ, liệu pháp tiêm Meso (Mesotherapy) với nhũ tương, PRP hoặc vitamin, và các phương pháp căng da mặt (Facelift) như vạt SMAS (Superficial Musculoaponeurotic System) và MACS Lift (Minimal Access Cranial Suspension), tích hợp ghép mỡ để tối ưu hóa kết quả.

Phần III: Các Ca Lâm Sàng

Tám ca lâm sàng minh họa rõ ràng các kỹ thuật đã mô tả, từ căng da mặt kết hợp ghép mỡ đến trẻ hóa quanh mắt và điều chỉnh hình dáng mũi/cằm bằng cấy mỡ đơn thuần.

Trang: / 129
Trang 1 Trang 2 Trang 3
📖 Xem bản dịch / Nội dung văn bản

MỤC LỤC
PHẦN 1 NGUYÊN TẮC CHUNG
• Chương 1: Lý thuyết về lão hóa vùng mặt: Thể tích đối kháng
lại trọng lực
• Chương 2: Cơ sở giải phẫu của lão hóa da mặt và kỹ thuật trẻ
hóa da mặt

+ 2.1 Da

+ 2.2 Mô mềm

+ 2.3 Xương mặt
• Chương 3: Ghép mỡ; nguyên lí và quan niệm chung

+ 3.1 Lấy mỡ

+ 3.2 Kỹ thuật xử lí mỡ

+ 3.3 Tiêm mỡ
• Chương 4: Các điểm giải phẫu cần quan tâm tránh tổn thương
mạch máu và dây thần kinh trong quá trình ghép mỡ ở mặt

+ 4.1 Vùng giữa trán và Glabella

+ 4.2 Vùng thái dương và vùng trán ngoài

+ 4.3 Vùng má và vùng mũi

+ 4.4 Vùng miệng và 1/3 dưới của mặt
• Chương 5: Biến chứng trong ghép mỡ ở vùng mặt

+ 5.1 Sưng nề và bầm tím

+ 5.2 Nhiễm trùng

+ 5.3 Lắng đọng mỡ hay U mỡ

+ 5.4 Không đối xứng

+ 5.5 Tái hấp thu mỡ (tan đi)

+ 5.6 Tiêm mỡ quá ít hoặc quá nhiều

+ 5.7 Thuyên tắc mỡ

+ 5.8 Tổn thương cấu trúc giải phẫu (Thần kinh, động mạch,

cơ, tuyến mang tai hoặc các tuyến khác)

+ 5.9 Không đều ở vùng lấy mỡ

PHẦN II: KỸ THUẬT VÀ ỨNG DỤNG LÂM SÀNG
• Chương 6: Hướng dẫn cách ghép mỡ cấu trúc, ghép microfat,
tiêm mỡ vào trong da bằng kim sắc nhọn, ghép nanofat và nhũ
tương hoặc mỡ phân đoạn

+ 6.1 Lựa chọn vị trí để lấy mỡ

+ 6.2 Hút lấy mỡ

+ 6.3 Kỹ thuật xử lý mỡ và tiêm

+ 6.4 Sử dụng các yếu tố tăng trưởng tiểu cầu trong trẻ hóa

vùng mặt
• Chương 7: Ghép mỡ mặt
• Chương 8: Ghép mỡ vùng trán, thái dương và vùng quanh mắt

+ 8.1 Đường cau mày

+ 8.2 Đuôi lông mày

+ 8.3 Vùng thái dương

+ 8.4 Tiêm điều trị nếp nhăn chân chim ở bờ ngoài ổ mắt

+ 8.5 Rãnh lệ

+ 8.6 Điều trị mắt hõm và thoát vị túi mỡ mí dưới và quầng

thâm quanh mắt.
• Chương 9: Vùng má: Nâng những chỗ lõm ở mặt

+ 9.1 Ghép mỡ má
• Chương 10: Rãnh mũi má và nếp nhăn môi-cằm

+ 10.1 Rãnh mũi má

+ 10.2 Đường môi - má
• Chương 11: Vùng môi và Quanh môi
• Chương 12: Tạo hình cằm và vùng hàm

+ 12.1 Tạo hình cằm

+ 12.2 Tạo cạnh ngoài của hàm dưới
• Chương 13: Tiêm mỡ ở mũi
• Chương 14: Cổ hay ghép mỡ vùng cổ
• Chương 15: Tiêm Meso ở vùng mặt
• Chương 16: Căng da mặt

+ 16.1 Căng da mặt với vạt SMAS (Superficial Musculoapo­
neurotic System) nằm ở bên dưới

+ 16.2 Khâu gập SMAS

+ 16.3 Cắt SMAS

+ 16.4 Căng da mặt MACS ( sa trễ ít)

PHẦN III: CÁC CA LÂM SÀNG
• Chương 17: Các ca lâm sàng

+ Ca lâm sàng 1

+ Ca lâm sàng 2

+ Ca lâm sàng 3

+ Ca lâm sàng 4

+ Ca lâm sàng 5

+ Ca lâm sàng 6

+ Ca lâm sàng 7

+ Ca lâm sàng 8

PHẦN 1
NGUYÊN TẮC CHUNG

1 Lý thuyết về lão hóa vùng mặt: Thể
tích đối kháng lại trọng lực
1
Lý thuyết về lão hóa vùng mặt:
Thể tích đối kháng lại trọng lực
1

Sự lão hóa của vùng mặt
là một quá trình liên tục, quy
trình chuyển động của các mô
khác nhau có liên quan. Đặc
điểm khuôn mặt già nua không
chỉ là sản phẩm của những thay
đổi riêng biệt trong các mặt
phẳng mô khác nhau được tiết
lộ bởi các nghiên cứu về giải
phẫu và X quang như tự thay
đôit xương, giảm dần mô thứ
phát do trọng lực, lỏng lẻo các
dây chằng giữ mặt, teo các kho­
ang mỡ, và suy yếu cấu trúc và
chức năng trong các lớp khác
nhau của da; nó cũng là kết quả
củatương tác giữa tất cả các yếu
tố này.

Chính bởi vì lão hóa khu­
ôn mặt là do sự kết hợp của các
nguyên nhân và cơ chế hoạt
động của tổ chức mô trên một
phạm vi rất rộng, trong đó các
mô tổ chức sẽ thay đổi tại một
mặt phẳng ảnh hưởng tất cả
những thứ khác, không có một
lý thuyết riêng lẻ nào có thể cung
cấp những hiểu biết lâm sàng về
sự phát triển của nó. Có lẽ cách
tốt nhất để hiểu rõ nó là liên kết
với nhau những lý thuyết khác
nhau đã đưa ra để hướng về để
giải thích những điều thay đổi.
Trong chương này, chúng tôi
sẽ không đánh giá các thay đổi
ở mức độ phân tử hoặc tế bào
[1] mà chúng xảy ra theo thời
gian hoặc tác động của các yếu
tố môi trường lên các mô như
bức xạ mặt trời, lối sống không
lành mạnh và hút thuốc [2, 3],
trong đó có một vai trò rõ ràng
về sự suy giảm sinh lý và chức
năng của các cấu trúc khác
nhau. Thay vào đó, chúng tôi tập
trung vào các lý thuyết chính, từ
quan điểm lâm sàng, giúp giải
thích sự thoái triển của khuôn
mặt sẽ già đi theo thời gian và
sự phù hợp của từng kỹ thuật
phẫu thuật cho các trường hợp
cụ thể.

Trong những năm qua,
nhiều thuyết đưa ra để thử để
giải thích về lão hóa khuôn mặt
từ góc độ lâm sàng. Nói rộng
hơn, chúng có thể tóm tắt dưới
hai tiêu đề: thuyết trọng lực và
thuyết thể tích, bao gồm mô
hình giả chảy xệ.

1 Lý thuyết về lão hóa vùng mặt: Thể
tích đối kháng lại trọng lực
2

Thuyết trọng lực xuất
hiện trong những năm 1990,
sau đó Furnas [4] đã mô tả về sự
mất dần nước của các tổ chức
xơ, cơ và xương giúp ổn định và
hỗ trợ các cấu trúc khác nhau
ở vùng mặt. Lý thuyết này xác
định là các dây chằng giữ ở mặt
đã bị sự lỏng lẻo dần và mất các
tổ chức có khả năng nâng đỡ mô
mềm trên khuôn mặt là nguyên
nhân chính của việc chảy xệ
mặt theo hướng thẳng đứng,
bao gồm chảy xệ quá mức và sự
xuất hiện của nếp gấp hoặc nếp
nhăn.

Các tác giả như Stuzin et
al. [5] hoặc gần đây hơn là Men­
delson [6, 8] đã nghiên cứu các
dây chằng đa liên kết sợi và lớp
sâu ở mặt. Họ cho rằng rằng các
cơ hoạt động liên tục sẽ gây ra
sự căng giãn của dây chằng trên
khuôn mặt, cùng với những thay
đổi nội tại điển hình của lão hóa,
có lẽ là nguyên nhân của sự yếu
đi và kéo dài của các tổ chức hỗ
trợ cho chằng này, dẫn đến chảy
xệ mô tiếp theo.

Theo thuyết trọng lực
này, các kỹ thuật nâng lên đã
được giới thiệu liên quan đến
việc cắt hệ thống cân mạc nông
(SMAS) [9] theo thứ tự để đạt
được độ căng của dây chằng và
cắt chúng và sau đó chuyển đến
tái định vị lại các tổ chức.
Theo quan điểm của chúng tôi,
khi một dây chằng bị kéo dài,
kỹ thuật này là không cần thiết.
Cũng như ưu tiên từ quan điểm
an toàn, tránh mổ xẻ rộng vào hệ
thống SMAS, bảo tồn hệ thống
mạch máu, phòng ngừa teo tổ
chức và không để lại mặt phẳng
sẹo ở dưới da và SMAS. Nó cũng
không ảnh hưởng đến khả năng
tiêm mỡ tự thân[10].

Thuyết trọng lực thường
đã được chấp nhận cho đến đầu
những năm 2000, khi các ng­
hiên cứu quan sát [11, 12] bắt đầu
xác định sự khác biệt trong hoạt
động giữa các vùng khác nhau
ở khuôn mặt. Nó đã được cho
rằng những thay đổi ở vùng mặt
không chỉ gây ra chảy xệ theo
hướng thẳng đứng và giảm thể
tích mà còn phân bố lại thể tích
giữa tổ chức phần mềm và tổ
chức khung xương của các tiểu
đơn vị khác nhau ở khuôn mặt.
Thật vậy, khi phân tích các thay
đổi về thể tích ở vùng giữa mặt
do lão hóa bằng cách sử dụng
hình ảnh cộng hưởng từ độ
phân giải cao, Gosain và cộng
sự. [13] cho là có sự tái phân phối
lại mỡ và tăng sinh chọn lọc ở
phần trên của túi mỡ nông ở
bệnh nhân lớn tuổi. Nhóm của
ông cho rằng chảy xệ đơn thuần
không tính đến những thay đổi
quan sát được ở vùng giữa mặt

1 Lý thuyết về lão hóa vùng mặt: Thể
tích đối kháng lại trọng lực
3
do lão hóa. Lambros [12], khi so
sánh các bức ảnh của 83 bệnh
nhân ở các giai đoạn tuổi khác
nhau trong cuộc sống, nhận xét
rằng phần lớn các mốc da ở vùng
quanh mắt và vùng giữa mặt và
vùng giữa môi-má thì không bị
giảm dần theo thời gian. Tác giả
này14 đã đưa ra giả thuyết rằng
sự chùng xuống theo hướng
thẳng đứng của da và mô dưới
da không phải là thành phần
chính của vùng giữa mặt do quá
trình lão hóa; Nếu khuôn mặt
thực sự chùng xuống, người ta
sẽ mong đợi để xem di chuyển
sa xuống của các mốc da.

Trong nhiều năm, mỡ ở
mặt được chia thành một là ở
mặt phẳng nông và một là ở mặt
phẳng sâu liên quan đến SMAS
và các cơ biểu hiện trên khuôn
mặt. Mới đây, Macchi và cộng
sự. [14, 15] và Raskin và Latren­
ta [16] đề xuất rằng sự khác biệt
giữa các mặt phẳng nông và sâu
là không đủ và nhiều bộ phận
nên được thực hiện thêm. Đó là
nghiên cứu của Rohrich và Pes­
sa [17] đã cung cấp bằng chứng
giải phẫu để hỗ trợ lý thuyết thể
tích mới. Những tác giả này đã
chứng minh sự phân chia mỡ
ở mặt thành các đơn vị hoặc
khoang khác nhau bằng mô liên
kết màng trong cả 2 mặt phẳng
nông và sâu. Năm 2012, phân
tích hình ảnh CT, Gierloff et al.
[18] đã quan sát một di chuyển
xuống dưới các khoang mỡ ở
vùng giữa mặt và một sự thay
đổi thể tích bên trong ở các kho­
ang trong quá trình lão hóa, kết
luận rằng những thay đổi riêng
biệt của các khoang mỡ góp
phần vào sự xuất hiện của tuổi
tác ở khuôn mặt.

Song song với sự hiểu
biết này về sự phân phối lại
khối lượng trong các khoang
mỡ khác nhau của vùng mặt
do lão hóa, một số nghiên cứu
X quang cũng cho thấy sự tái
hấp thu và thoái hóa ở những
vị trí cụ thể trong khung xương
mặt [19], trong đó sẽ mô tả chi
tiết hơn trong Chương 2. Như
trong trường hợp bị teo các
khoang mỡ sâu, những thay đổi
của khung xương mặt không chỉ
dẫn đến mất độ nhô cụ thể từng
vùng mà còn giảm mất tổ chức
phần mềm ở lớp nông và kho­
ang mỡ và gây ra một mức độ
nhất định cần chỉnh sửa. Ngoài
ra, thoái hóa xương có thể thay
đổi các vị trí đính của các cơ ở
mặt và dây chằng thông qua
màng xương, trong đó có sự
hiện diện lùi về sau hơn.

Mất cấu trúc nâng đỡ này
do thay đổi thể tích cấu trúc ở
lớp sâu đã tạo ra mô hình chảy
xệ giả [20] bên trong thuyết thể

1 Lý thuyết về lão hóa vùng mặt: Thể
tích đối kháng lại trọng lực
4
tích. Mô hình này là kết quả của
quan sát phục hồi lâm sàng và
đưa ra khối lượng trong các
khoang sâu của vùng má không
chỉ sửa chữa vector âm (độ nhô
của vùng má vẫn thấy khi nhìn
thẳng) mà còn cải thiện các khu
vực khác như nếp rãnh mũi má.

Thuyết về chảy xệ giả cho
thấy rằng sự mất dần có chọn
lọc ở lớp mỡ sâu theo tuổi dẫn
đến mất hỗ trợ Và giảm lớp mỡ
nông nhiều hơn, do đó góp phần
vào sự xuất hiện chảy xệ của
khuôn mặt do lão hóa.

Hiệu ứng giống như được
tạo ra bằng cách thổi phồng
hoặc xì hơi của quả bóng bay.
Khi đầy khối lượng, các khoang
nông nằm vị trí giữa các khoang
mỡ sâu và da. Khi các khoang
sâu mất thể tích,mất sự hỗ trợ,
và các khoang nông không còn
bị ảnh hưởng đến lớp hạ bì; khi
khối lượng này bị mất, thì sẽ
biểu hiện mô chảy xệ.

Sự phát triển của hai
lý thuyết về lão hóa của khu­
ôn mặt, trọng lực và thể tích,
cho thấy tại sao không chỉ điều
chỉnh độ chảy xệ ở các vùng
ngoại vi của khuôn mặt và cổ sử
dụng các kỹ thuật căng da mặt
mà còn để đẩy lùi quá trình teo
đi và phân phối lại khối lượng
mỡ ở các khu vực giữa của khu­
ôn mặt trong đó, xét cho cùng,
là những khu vực dễ nhìn thấy
nhất [21, 22].
Hình 1.1 Các kỹ thuật trẻ hóa da mặt
và cổ không chỉ điều chỉnh độ chảy xệ ở
các vùng ngoại vi của khuôn mặt bằng
kỹ thuật căng da mặt (màu đỏ) mà còn
để tăng khối lượng mỡ teo đi và phân
bố lại mỡ ở trung tâm các vùng của
khuôn mặt (màu xanh lá cây)

Do đó, để có được kết quả
trông tự nhiên nhất có thể, cần
phải sử dụng các kỹ thuật làm
trẻ hóa cả hai các khu vực ngoại
vi và ở giữa của khuôn mặt,
bổ sung cho các phương pháp
thông thường với các kỹ thuật
để cung cấp khối lượng tại các
điểm bị mất. Mục tiêu của chúng
tôi là tái tạo một đường cong
mặt trẻ hơn, không chỉ để chỉnh
sửa da bị dư thừa lỏng lẻo (Hình
1.1).

1 Lý thuyết về lão hóa vùng mặt: Thể
tích đối kháng lại trọng lực
5
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.
Makrantonaki

E,
Zouboulis CC. Molecular mech­
anisms of skin aging: state
of the art. Ann N Y Acad Sci.
2007;1119:40–50.

2
Rexbye
H,
Peters­
en I, Johansens M, Klitkou L,
Jeune B, Christensen K. Infl
uence of environmental factors
on facial ageing. Age Ageing.
2006;35:110–5.

3. Guyuron B, Rowe DJ,
Weinfeld AB, Eshraghi Y, Fathi
A, Lamphongsai S. Factors con­
tributing to the facial aging of
identical twins. Plast Reconstr
Surg. 2009;123:1321–31.

4. Furnas DW. The retain­
ing ligaments of the cheek. Plast
Reconstr Surg. 1989;83:11–6.

5. Stuzin JM, Baker TJ,
Gordon HL. The relationship of
the superfi cial and deep facial
fascias: relevance to rhytidec­
tomy and aging. Plast Reconstr
Surg. 1992;89:441–9; discus­
sion 450–1.

6. Mendelson BC, Jacob­
son SR. Surgical anatomy of the
midcheek: facial layers, spaces,
and the midcheek segments.
Clin Plast Surg. 2008;35:395–
404.
7. Mendelson BC, Muzaffar AR,
Adams Jr WP. Surgical anato­
my of the midcheek and malar
mounds. Plast Reconstr Surg.
2002;110:885–96.
8. Mendelson BC. Surgery
of the superfi cial muscu­
loaponeurotic
system:
prin­
ciples of release, vectors, and
fixation. Plast Reconstr Surg.
2001;107:1545–52.
9. Mitz V, Peyronie M. The su­
perfi cial musculo-aponeurotic
system (SMAS) in the parotid
and cheek area. Plast Reconstr
Surg. 1976;58:80–8.
10. Serra-Renom JM, Diéguez
JM, Yoon T. Inferiorly pedicled
tongueshaped SMAS flap trans­
posed to the mastoid to improve
the nasolabial fold and jowls
and enhance neck contouring
during face-lift surgery. Plast
Reconstr Surg. 2008;121:298–
304.
11. Donofrio LM. Fat distribu­
tion: a morphologic study of
the aging face. Dermatol Surg.
2000;26:1107–12.
12. Lambros V. Observations
on periorbital and midface ag­
ing. Plast
Reconstr Surg. 2007;120:1367–
76; discussion 1377.
13. Gosain AK, Klein MH, Sud­
hakar PV. A volumetric analysis
of softtissue changes in the

1 Lý thuyết về lão hóa vùng mặt: Thể
tích đối kháng lại trọng lực
6
aging midface using high-reso­
lution MRI: implications for fa­
cial rejuvenation. Plast Recon­
str Surg. 2005;115:1143–52;
discussion 1153–5.
14. Macchi V, Tiengo C, Porzi­
onato A, Stecco C, Galli S, Vigato
E, et al. Anatomo-radiological
study of the superficial mus­
culoaponeurotic system of the
face. Ital J Anat Embryol.
2007;112:247–53.
15. Macchi V, Tiengo C, Porzion­
ato A, Stecco C, Vigato E, Parenti
A, et al. Histotopographic study
of the fibroadipose connective
cheek system. Cells Tissues Or­
gans. 2010;191:47–56.
16. Raskin E, Latrenta GS. Why
do we age in our cheeks? Aes­
thet Surg J. 2007;27:19–28.
17. Rohrich RJ, Pessa JE. The fat
compartments of the face: anat­
omy and clinical implications
for cosmetic surgery. Plast Re­
constr Surg. 2007;119:2219–
27; discussion 2228–31.
18. Gierloff M, Stöhring C, Bud­
er T, Wiltfang J. The subcuta­
neous fat compartments in
relation to aesthetically import­
ant facial folds and rhytides. J
Plast Reconstr Aesthet Surg.
2012;65:1292–7.
19. Mendelson B, Wong CH.
Changes in the facial skeleton
with aging: implications and
clinical applications in facial re­
juvenation. Aesthetic Plast Surg.
2012;36:753–60.
20. Rohrich RJ, Pessa JE, Ri­
stow B. The youthful cheek
and the deep medial fat com­
partment. Plast Reconstr Surg.
2008;121:2107–12.
21. Serra-Renom JM, Serra-Me­
stre JM. Periorbital rejuvena­
tion to improve the negative
vector with blepharoplasty and
fat grafting in the malar area.
Ophthal Plast Reconstr Surg.
2011;27:442–6.
22. Rohrich RJ, Ghavami A, Con­
stantine FC, Unger J, Mojallal A.
Lift-and-fill face lift: integrating
the fat compartments. Plast Re­
constr Surg. 2014;133:756e–67

2 Cơ sở giải phẫu của lão hóa da mặt và
kỹ thuật trẻ hóa da mặt
7
Cơ sở giải phẫu của lão hóa da mặt
và kỹ thuật trẻ hóa da mặt
2

Như chúng tôi đã nói
trong chương trước, rất khó
để trình bày một lý thuyết bao
gồm tất cả những thay đổi xảy
ra trong vùng mặt lão hóa. Các
cơ chế khác nhau gây ra những
thay đổi trong mỗi mặt phẳng
mô vẫn chưa được biết đến. Tuy
nhiên, kết quả nghiên cứu giải
phẫu và Xquang đã cho thấy
rằng đó là một vấn đề liên quan
đến các yếu tố trọng lực, sự
biến dạng của cấu trúc nâng đỡ,
thay đổi khối lượng do xương
bị thoái triển, và đặc biệt là teo
và phân phối lại mô mềm. Ngoài
các yếu tố này ra, còn có sự kết
hợp của các yếu tố di truyền
khác và thay đổi sinh hóa, có
nghĩa là mà không phải ai cũng
già đi theo một cách giống như
nhau. Tóm tắt sau đây liệt kê
những thay đổi quan trọng nhất
xảy ra trong khuôn mặt lão hóa.
2.1 Da

Da có lẽ là bề mặt tiếp xúc
nhiều nhất với thay đổi do lão
hóa. Nó dễ bị tổn thương lâu dài
và thường xuyên từ các gốc tự
do có nguồn gốc vì tiếp xúc với
ánh sáng mặt trời [1, 2] và từ các
yếu tố môi trường khác như hút
thuốc, dinh dưỡng, và ô nhiễm
môi trường[3]. Nó cũng bị ảnh
hưởng bởi những thay đổi thể
tích xảy ra trong các bề mặt sâu,
cả trong mô mềm và xương.

Ngoài những yếu tố bên
ngoài, tự da cũng thay đổi về cấu
trúc và chức năng trong thứ cấp
của nó mà nguyên nhân là một
loạt các yếu tố nội tại được kích
hoạt theo thời gian: sự lão hóa
của các tế bào miễn dịch trong
lớp da, thay đổi nội tiết tố và các
yếu tố di truyền, trong số những
người khác [4].

2 Cơ sở giải phẫu của lão hóa da mặt và
kỹ thuật trẻ hóa da mặt
8
2.2 Mô mềm
2.2.1 Khoang mỡ

Trong những năm gần
đây, các nghiên cứu khác nhau
về giải phẫu [12] và CT [13] có cho
thấy các mô dưới da ở vùng mặt
được chia thành các đơn vị hoặc
khoang khác nhau, chúng liên
kết với nhau bằng các màng tổ
chức liên kết, các màng này bị
các mạch máu xuyên đâm ra da
để cấp máu cho da. Có các kho­
ang mỡ khác nhau nằm trong
các mặt phẳng nông, Nằm bên
cạnh các cơ của biểu hiện nét
mặt, và trong lớp sâu nhất là
tìm thấy trực tiếp liên quan đên
toàn bộ xương mặt.

Các khoang mỡ nông là
mỡ ở mũi (nasolabial fat: NLF),
mỡ má trong nông (superficial
medial cheek:SMC), má giữa,
má thái dương ngoài và túi mỡ
ổ mắt (infraorbital fat pad:IOF).
Các khoang mỡ sâu như mỡ má
trong sâu (deep medial cheek:
DMC) nằm sâu hơn và trong
hơn so với NLF và mỡ má sâu
ngoài (deep lateral cheek DLC).
Mỡ dưới cơ vòng mi mắt (sub­
orbicularis oculi SOOF), trong
đó cũng có một thành phần ở
phía trong và phía ngoài, nằm
sâu trong cơ vòng mi của mí mắt
dưới. Phần mở rộng của túi mỡ
miệng thì nằm ngay bên ngoài
cạnh DLC.
Các khoang mỡ sâu nằm riêng
so với khoang mỡ nông. Mặc dù
vẫn chưa biết tại sao, có lẽ sự
khác biệt đó xảy ra trong chuyển
hóa mỡ và hình hình khoang mỡ
ở mỗi vùng có thể gây ra mất
khối lượng ở các mức độ khác
nhau trong các khoang mỡ khác
nhau, dẫn đến thay đổi đường
viền ở vùng mặt [14].

Kết quả của những ng­
hiên cứu này đã cách mạng hóa
khái niệm trẻ hóa khuôn mặt,
hướng đến nhu cầu phân bố và
định vị lại tổ chức mô mà còn để
cung cấp khối lượng trong các
vùng đầu tiên bị ảnh hưởng do
teo các tổ chức trong các kho­
ang này: Vùng quanh ổ mắt,
vùng má, tiếp theo là vùng má
ngoài, vùng má sâu, và vùng thái
dương ngoài. Trong thực tế, một
bản đồ từng vùng có thể tạo ra
bỡi các khu vực bị ảnh hưởng
sớm nhất.
2.2.2 Dây chằng

Mô tả ban đầu bởi Furnas
[15], dây chằng ở vùng mặt là các
sợi xơ dày đặc liên kết giữa da
với xương và cơ với xương giúp
nâng đỡ và cố định các tổ chức
khác nhau ở vùng mặt, kết nối
lớp da và các mô mềm với màng
xương của khung xương mặt
hoặc cân cơ sâu.

2 Cơ sở giải phẫu của lão hóa da mặt và
kỹ thuật trẻ hóa da mặt
9
Ba loại hình thái của dây chằng
đã mô tả. Đầu tiên là những loại
được cho là dây chằng thực sự
như: dây chằng gò má, cơ nhai
và hàm.Thứ hai bao gồm các
vách ngăn trên và dưới của vùng
thái dương và thứ ba là các kết
dính trên vùng mặt: kết dính
vùng thái dương và dày lên ở
vùng ổ mắt ngoài (Hình 2.1) [16].

Trên thực tế, dây chằng
giữ là cơ sở cho một trong
những những lý thuyết phổ
biến nhất về lão hóa khuôn
mặt trong những năm gần đây
thuyết trọng lực, dựa trên thực
tế là các dây chằng này bị kéo
dài ra và mất khả năng cung cấp
sự nâng đỡ và theo thời gian sẽ
gây nên chảy xệ trong các mô
mềm của khuôn mặt.
2.2.3 Cơ

Mặc dù có vẻ như hầu
hết các cơ biểu lộ cảm xúc ở
mặt cho thấy những thay đổi có
liên quan với việc thay đổi theo
thời gian, chúng đóng một vai
trò quan trọng trong các mặt
phẳng khác như là: khoang mỡ
và dây chằng giữ thông qua sự
chuyển động lặp đi lặp lại theo
thời gian. Ngược lại, các dây
chằng cơ -xương như cơ nhai và
cơ thái dương đã được báo cáo
là thoái triển khá nhiều khoảng
50% [17, 18].
Đối với vòng mi và cơ bám da
cổ, đó là những cơ rất mỏng và
có diện bao phủ rộng, mất sự
đàn hồi của cơ có thể tạo ra sự
lỏng lẻo dư thừa và chùng da.

Cho đến nay, không có
nghiên cứu nào phân tích cụ thể
các tác động lão hóa trên các cơ
ở vùng mặt.
Hình 2.1 Dây chằng giữ ở mặt (Men­
delson và Wong [25]).
2.3 Xương mặt

Thay đổi cấu trúc khung
xương mặt có tác động lớn đến
sự lão hóa khuôn mặt. Những
thay đổi này không chỉ liên quan
đến sự mất chọn lọc độ nhô của
từng vùng cụ thể mà còn giảm
một mức độ sửa chữa từ việc
thiếu cấu trúc nâng đỡ của các
mô mềm.

Các vùng dễ bị teo dần đi
nhất là bờ ổ mắt, bờ xương hàm

2 Cơ sở giải phẫu của lão hóa da mặt và
kỹ thuật trẻ hóa da mặt
10
trên, đỉnh xương mũi, vùng nhô
ra của hàm dưới và hàm trên
(Hình 2.2).
2.3.1 Ổ mắt: Đỉnh ổ mắt lớn dần
và rộng ra

Trong khi các phần ở giữa
của bờ trên và bờ dưới ổ mắt thì
ổn định hơn, phần dưới ngoài
của ổ mắt là phần đầu tiên cho
thấy xu hướng thoái hóa dần. Xu
hướng này cũng có thể quan sát
thấy ở phần đỉnh vòm của bờ
ổ mắt, mặc dù gặp ở người lớn
tuổi hơn [19, 20]
Hình 2.2 Thay đổi trong khung xương
mặt do lão hóa. Mũi tên chỉ các vùng
dễ bị thoái hóa do lão hóa (Mendelson
và Vương [25])
2.3.2 Vùng giữa mặt: Dịch
chuyển sau và mất độ nhô của
xương hàm trên và giảm độ nhô
ra của xương tháp mũi

Các nghiên cứu của Men­
delson và Pessa đã xác định
được một ý nghĩa tái hấp thu
xương với sự mất độ nhô của
xương hàm trên, cùng với việc
giảm góc hàm khoảng 10° ở
những bệnh nhân trên 60 tuổi.
Vùng xương gò má thì có vẻ ổn
định hơn xương hàm về sự tái
hấp thu [21-23].

Những thay đổi đó cũng
quan sát thấy ở vùng quanh
mũi. Trong khu vực này có sự
mở rộng của đỉnh xương mũi,
với sự tiêu mất xương dần, đặc
biệt là ở phần dưới [22].
2.3.3 Mặt dưới: Giảm chiều dài
và chiều rộng của xương hàm và
tăng góc xương hàm dưới

Trái với tuyên bố trước
đó, nghiên cứu gần đây đã chỉ
ra có sự giảm chiều dài và chiều
cao của xương hàm, mặc dù
không có bằng chứng thay đổi
về chiều rộng của xương hàm.

Góc dưới cũng tăng đáng
kể ở cả hai giới với độ tuổi ngày
càng tăng dần [24].

2 Cơ sở giải phẫu của lão hóa da mặt và
kỹ thuật trẻ hóa da mặt
11
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Fisher GJ, Voorhees JJ. Mo­
lecular mechanisms of reti­
noid actions in skin. FASEB J.
1996;10:1002–13.
2. Garmyn M, Yaar M, Boileau
N, Backendorf C, Gilchrest BA.
Effect of aging and habitual
sun exposure on the genetic re­
sponse of cultured human ke­
ratinocytes to solar-simulated
irradiation. J Invest Dermatol.
1992;99:743–8.
3. Rexbye H, Petersen I, Johans­
ens M, Klitkou L, Jeune B, Chris­
tensen K. Influence of environ­
mental factors on facial ageing.
Age Ageing. 2006;35:110–5.
4. Farage MA, Miller KW, El­
sner P, Maibach HI. Intrinsic and
extrinsic factors in skin age­
ing: a review. Int J Cosmet Sci.
2008;30:87–95.
5. Lavker RM, Zheng P, Dong
G. Aged skin: a study by light,
transmission
electron,
and
scanning electron microscopy. J
Invest Dermatol. 1987;88:44s–
51.
6. Montagna W, Carlisle K.
Structural changes in aging hu­
man skin. J Invest Dermatol.
1979;73:47–53.
7. Carrino DA, Onnerfjord P,
Sandy JD, Cs-Szabo G, Scott PG,
Sorrell JM, et al. Age-related
changes in the proteoglycans of
human skin. Specific cleavage of
decorin to yield a major catabol­
ic fragment in adult skin. J Biol
Chem. 2003;278:17566–72.
8. Reenstra WR, Yaar M,
Gilchrest BA. Effect of donor
age on epidermal growth factor
processing in man. Exp Cell Res.
1993;209:118–22.
9. Varani J, Dame MK, Rittie L,
Cs-Szabo G, Scott PG, Sorrell JM,
et al. Decreased collagen pro­
duction in chronologically aged
skin: roles of age-dependent
alteration in fibroblast func­
tion and defective mechani­
cal stimulation. Am J Pathol.
2006;168:1861–8.
10. West MD, Pereira-Smith OM,
Smith JR. Replicative senes­
cence of human skin fibroblasts
correlates with a loss of regula­
tion and overexpression of col­
lagenase activity. Exp Cell Res.
1989;184:138–47.
11. Mine S, Fortunel NO, Pa­
geon H, Asselineau D. Aging al­
ters functionally human dermal
papillary fi broblasts but not re­
ticular fibroblasts: a new view
of skin morphogenesis and ag­
ing. PLoS One. 2008;3:e4066.
12. Rohrich RJ, Pessa JE. The fat
compartments of the face: anat­
omy and clinical implications
for cosmetic surgery. Plast Re­
constr Surg. 2007;119:2219

2 Cơ sở giải phẫu của lão hóa da mặt và
kỹ thuật trẻ hóa da mặt
12
13. Gierloff M, Stöhring C, Bud­
er T, Wiltfang J. The subcuta­
neous fat compartments in
relation to aesthetically import­
ant facial folds and rhytides. J
Plast Reconstr Aesthet Surg.
2012;65:1292–7.
14. Wan D, Amirlak B, Giessler P,
Rasko Y, Rohrich RJ, Yuan C,
Lysikowski J. The differing ad­
ipocyte morphologies of deep
versus
superficial
midfacial
fat compartments: a cadaver­
ic study. Plast Reconstr Surg.
2014;133:615e–22.
15. Furnas DW. The retaining
ligaments of the cheek. Plast
Reconstr Surg. 1989;83:11–6.
16. Mendelson BC, Jacobson SR.
Surgical anatomy of the mid­
cheek: facial layers, spaces, and
the midcheek segments. Clin
Plast Surg. 2008;35:395–404.
17. Le Louarn C, Buthiau D, Buis
J. Structural aging: the facial re­
curve Concept. Aesthetic Plast
Surg. 2007;31:213–8.
18. Le Louarn C. Muscular ag­
ing and its involvement in facial
aging: the Face Recurve con­
cept. Ann Dermatol Venereol.
2009;136 Suppl 4:S67–72.
19. Pessa JE, Chen Y. Curve
analysis of the aging orbital
aperture. Plast Reconstr Surg.
2002;109:751–5.
20. Kahn DM, Shaw Jr RB. Ag­
ing of the bony orbit: a three-
dimensional computed tomo­
graphic study. Aesthet Surg J.
2008;28:258–64.
21. Pessa JE. An algorithm of
facial aging: verification of
Lambros’s theory by three-di­
mensional
stereolithography,
with reference to the pathogen­
esis of midfacial aging, scleral
show, and the lateral suborbital
trough deformity. Plast Recon­
str Surg. 2000;106:479–88.
22. Shaw Jr RB, Kahn DM. Aging
of the midface bony elements: a
three-dimensional
computed
tomographic study. Plast Re­
constr Surg. 2007;119:675–81.
23. Mendelson BC, Hartley W,
Scott M, McNab A, Granzow
JW. Agerelated changes of the
orbit and midcheek and the
implications for facial rejuve­
nation. Aesthetic Plast Surg.
2007;31:419–23.
24. Shaw Jr RB, Katzel EB, Koltz
PF, Kahn DM, Girotto JA, Lang­
stein HN. Aging of the man­
dible and its aesthetic impli­
cations. Plast Reconstr Surg.
2010;125:33.
25. Mendelson B, Wong CH.
Anatomy of the aging face. In:
Neligan PC, editor. Plastic sur­
gery. 3rd ed. London: Elsevier;
2013. p. 78–92.

3 Ghép mỡ: nguyên lí và quan niệm chung
13
Ghép mỡ: nguyên lí và quan
niệm chung
3

Thiếu hụt tổ chức mô
mềm và không đối xứng là tình
trạng hay gặp và cũng là một
thách thức cho các bác sĩ phẫu
thuật trong thực hành lâm
sàng. Để khắc phục những vấn
đề này, các kỹ thuật phẫu thuật
áp dụng để có được tổ chức mô
khỏe mạnh từ các vùng cơ thể
khác. Ngoài ra, một loạt các chất
liệu làm đầy có sẵn để sử dụng;
tuy nhiên, mặc dù kết quả ngắn
hạn có thể đạt được là tốt với
phần lớn các chất làm đầy, một
số trong số đó có liên quan đến
các biến chứng đáng kể như trồi
chất liệu hoặc di chuyển chất
liệu được tiêm, phản ứng quá
mẫn và nhiễm trùng [1, 2].

Ý tưởng cố gắng tái tạo
những thiếu hụt với chất liệu
tương tự hoặc tương đồng theo
một trong các nguyên lí của
Converse đã khiến nhiều bác sĩ
phẫu thuật muốn dùng thử việc
ghép mỡ tự thân như chất làm
đầy filler. Sự phát triển của ghép
mỡ này đã có sự thay đổi kể từ
khi ra đời của kỹ thuật hút mỡ
chuẩn , sau đó là ghép mỡ cấu
trúc vào cuối những năm 1990
(Hình 3.1)[3].

Kể từ khi tác giả Coleman
đã chuẩn hóa mô tả kỹ thuật hút
mỡ [4, 5], rất nhiều ứng dụng lâm
sàng đã được báo cáo để tăng
thể tích và cải thiện chất lượng
tổ chức [6], như trong trường
hợp mô bị chiếu xạ sau phẫu
thuật ung thư vú [7] hoặc đầu
và cổ [8]. Tuy nhiên, mỡ cũng
thường được nghiên cứu trong
lĩnh vực kỹ thuật mô như một
nguồn tế bào phong phú với khả
năng tái sinh cao [9].

Mỡ tạo nên nhiều lợi thế
như là một chất làm đầy. Nó
như là một chất liệu ghép tự
thân, không gây độc hại, tương
thích sinh học, không gây bệnh,
và không gây dị ứng, và không
di chuyển chỗ khác. Nó có đặc
điểm tương tự như đặc điểm vật
lý của mô được cấy ghép,

3 Ghép mỡ: nguyên lí và quan niệm chung
14
và kỹ thuật lấy mỡ là đơn giản
bằng cách sử hút mỡ có áp lực
thấp. Nó cũng tương đối rẻ tiền.
Một lợi thế khác cần xem xét khi
sử dụng ghép mỡ như một chất
làm đầy là khả năng vốn có của
nó để cải thiện chất lượng của
các mô và da, làm trẻ hóa những
vùng được tiêm.

Khoảng 30% tế bào mỡ
hút ra là tế bào mỡ đã trưởng
thành. Hai phần ba còn lại là
hình thành từ các tế bào rất đa
dạng, còn được gọi là phân đoạn
mạch máu (SVF), chủ yếu bao
gồm nguyên bào sợi, sợi mô liên
kết, tế bào nội mô và tế bào tiền
thân của chúng, tế bào điều hòa
miễn dịch (ví dụ, đại thực bào,
tế bào lympho) và tế bào gốc
có nguồn gốc từ mỡ (ADSCs)
[10].Tuy nhiên, nhược điểm của
mỡ là một phần mỡ bị tiêu đi.
Là một chất liệu ghép có được
nuôi chất dinh dưỡng thông qua
khuếch tán huyết tương từ khi
bắt đầu cấy ghép cho đến khi
phục hồi mạch máu, một số tế
bào của nó sẽ trải qua quá trình
tự chết. Vấn đề này đã được ng­
hiên cứu sâu bởi Eto và cộng sự.
[11] và Kato et al. [12]. Những tác
giả này mô tả ba vùng trong mỗi
syringe tiêm: phần ngoài cùng,
tiếp xúc trực tiếp với vùng tiếp
nhận và được gọi là khu vực
sống sót; một vùng ở giữa được
gọi là vùng tái sinh; và vùng
trong cùng gọi là vùng hoại tử.

Trong vùng sống sót, cả
tế bào mỡ và ADSC đều sống
sót. Trong vùng tái sinh, các tế
bào mỡ trải qua quá trình tự
chết, nhưng các ADSC vẫn sống
sót vì chúng tiếc ra chất chống
tình trạng thiếu oxy. Các tế bào
mỡ tự chết tiếc ra một loạt các
tín hiệu cho các ADSC để bắt
đầu quá trình biệt hóa và tăng
sinh để trở thành tế bào mỡ tiền
thân và sau đó là các tế bào mỡ
trưởng thành. Tuy nhiên, trong
vùng hoại tử, cả tế bào mỡ và
ADSC đều chết; không có tế bào
thay thế, và vùng này sẽ hình
thành nên mô sẹo hay u nang
dạng dầu.

Chính xác để tăng khả
năng duy trì thể tích tiêm và sự
sống sót của mỡ ghép, nhiều bác
sĩ phẫu thuật đã cố gắng làm
giàu mỡ bằng các tế bào SVF
[13] hoặc bằng cách sử dụng các
chiến lược phát triển khác như
huyết tương giàu tiểu cầu (PRP)
[14], cải thiện các điều kiện trong
vùng tiếp nhận mỡ [15] hoặc ng­
hiên cứu từng giai đoạn chuẩn
bị của nó.

Với số lượng ngày càng
tăng của dữ liệu thực nghiệm và
lâm sàng liên quan đến các khía
cạnh kỹ thuật, chúng tôi sẽ xem
xét ngắn gọn việc chuẩn bị mỡ

3 Ghép mỡ: nguyên lí và quan niệm chung
15
từ khi lấy cho đến khi tiêm.
Hình 3.1: Tổng quan lịch sử ghép mỡ tự thân
3.1 Lấy mỡ
3.1.1 Lựa chọn vị trí lấy mỡ
Theo y văn hiện tại [16 -22]

• Không có sự khác biệt
đáng kể trong ghép mỡ duy
trì khối lượng giữa vùng bụng
và các vùng khác. Tuy nhiên,
bụng dưới và mặt trong của
đùi có thể nồng độ tế bào gốc
có nguồn gốc từ mỡ cao hơn
các vùng khác.

• Việc lựa chọn vị trí lấy
mỡ phụ thuộc vào kỹ thuật: dễ
dàng và an toàn, ưu tiên của
bệnh nhân, và lượng mỡ có
sẵn

Lấy mỡ dễ dàng và an
toàn không phải là tiêu chí duy
nhất để thực hiện chú ý trong
việc lựa chọn vùng lấy mỡ: sự
tăng cường các đường cong của
bệnh nhân cũng nên xem xét.
Khi đã quyết định lấy mỡ từ
vùng chi dưới hoặc bên sườn,
cũng cần phải chú ý hút mỡ ở
bên đối diện để cho đối xứng.

Các vết mổ để lấy mỡ nên
rạch ở các vết sẹo có trước hoặc
nếp gấp da tự nhiên hoặc các vị
trí bị che khuất bởi quần áo (tốt
nhất là những vùng che khuất
bởi đồ lót).

Nói chung, và đặc biệt là
khi lấy mỡ để ghép cho vùng mặt
thì nên lấy khối lượng mỡ nhỏ
hơn yêu cầu chúng tôi cố gắng
sử dụng các vị trí bất thường ít
hoặc vùng lấy mỡ sẽ không gây
chú ý cho bệnh nhân.

Mặt trong của đầu gối và
đùi là những ví dụ điển hình;
ngược lại, với những bất thường
ở bụng thì rất dễ nhìn thấy. Bên
trong của đầu gối và đùi là vị trí
ở phụ nữ cơ bắp hoặc gầy có xu
hướng lượng mỡ cao.

3 Ghép mỡ: nguyên lí và quan niệm chung
16
3.1.2 Dung dịch tumescent
Theo y văn hiện tại

• Dung dịch tumescent
là dung dịch pha loãng thuốc
gây tê để gây tê tại chỗ (LA)
và thuốc co mạch trong một
thể tích lớn của dung dịch. Nó
sẽ làm giảm đau và giảm chảy
máu và tạo điều kiện cho việc
hút mỡ dễ dàng hơn.

• Một số nghiên cứu
cho là LA có thể điều chỉnh
tỷ lệ khả năng sống sót của
tế bào mỡ tiền thân đã được
phân lập. Tuy nhiên, liều sử
dụng và tiếp xúc ngắn của mỡ
với tác nhân gây tê, dường
như không có tác dụng bất lợi
trên các mảnh ghép mỡ.

• Hơn nữa, không tìm
thấy có sự khác biệt đáng
kể nào giữa các thuốc gây tê
thường sử dụng, ngoại trừ ar­
ticaine dẫn xuất từ epineph­
rine.

• LA được sử dụng
thường xuyên nhất để hút mỡ
và ghép mỡ là lidocaine. Klein
đề xuất một giới hạn an toàn
liều lượng trong dung dịch
tumescent là 30 ->35 ml / kg.
Các nghiên cứu khác cho thấy
rằng liều dùng có thể tới tới
55 ml / kg với nguy cơ độc
tính tối thiểu.
Có thể thực hiện ghép mỡ dưới
gây mê nội khí quản, tê tủy
sống, hoặc gây tê tại chỗ có hoặc
không có thuốc giảm đau.

Khi thực hiện phẫu thuật
dưới gây tê tại chỗ, vùng lấy mỡ
sẽ bôi thuốc tê tại chỗ khoảng
2h trước khi phẫu thuật lấy mỡ
(chỉ định khi khám bệnh nhân
trước phẫu thuật). Dung dịch
tumescent chứa 0,05% lido­
caine trong dung dịch muối và
epinephrine 1: 200.000.

Khi thực hiện kỹ thuật
dưới gây mê nội khí quản, dung
dịch tumescent có thể pha loãng
với thuốc co mạch trong dung
dịch nước muối sinh lí hoặc
bằng cách thêm nồng độ thấp
thuốc gây tê tại chỗ (ưu tiên của
tác giả là 0,02% lidocaine).

Chích dung dịch tumes­
cent nên thực hiện chậm từ từ,
tránh di chuyển đột ngột để đảm
bảo sự thoải mái tối đa cho bệnh
nhân, đặc biệt là khi gây mê và
không sử dụng thuốc giảm đau
an thần. Nói chung, thể tích
dịch chích vào sẽ thường tương
đương với thể tích mỡ được hút
ra (tỷ lệ 1: 1).

Việc hút mỡ được bắt
đầu sau khi chờ khoảng 20 phút
dung dịch tumescent có hiệu
lực.

3 Ghép mỡ: nguyên lí và quan niệm chung
17
3.1.3 Chọn cannula để lấy mỡ
Theo y văn hiện tại29-34

• Các báo cáo so sánh
cannula nhiều lỗ với cannula
để hút mỡ của Coleman 3mm
thì không có sự khác biệt nào
về khả năng sống của tế bào
mỡ và khả năng hút mỡ.

• Nghiên cứu thực ng­
hiệm phát hiện ra rẳng khi
dùng ống cannula có kích
thước lớn thì khả năng sống
của tế bào mỡ cao hơn. Tuy
nhiên,hầu hết các nghiên cứu
này là hút mỡ khô không có
dung dịch tumescent.

Phải có sẵn nhiều cannu­
la với nhiều kích cỡ khác nhau,
có 1 lỗ hay nhiều lỗ để hút lấy
mỡ với đầu cannula nhiều lỗ
đầu cùn hay 1 lỗ đầu vát.

Để có được phương pháp
ghép mỡ cấu trúc hoặc ghép mỡ
macrofat, thường sử dụng ống
hút 3 mm. Nếu mục đích là để có
được mảnh ghép microfat, cho
dù họ tiêm bằng cannula hoặc
tiêm bằng kim (trong trường
đầu kim nhọn có thể tiêm mỡ
vào trong da (SNIF)), khi hút
mỡ bằng cannula microport 2,4
mm thì chích mỡ bằng cannula
1 mm có đầu vát là rất hữu ích.
Hiện tại, hai công ty thương mại
để sản xuất chúng:
Tulip Medical Products (San Di­
ego, CA) và Wells Johnson (Tuc­
son, AZ).
3.1.4 Hút mỡ
Theo y văn hiện tại [35 -44]

• Các phương pháp đã
sử dụng để lấy mỡ là các sy­
ringe cầm tay và dụng cụ hút
mỡ chân không, siêu âm phân
giải mỡ.

• Hiện tại, chưa thấy
có phương pháp lấy mỡ nào
khác, mặc dù một số nghiên
cứu đã chỉ ra sự khác biệt về
khả năng sống của tế bào mỡ
và chức năng của tế bào mỡ
với việc sử dụng các phương
pháp phân lập khác nhau.

• Các kỹ thuật sử dụng
hút áp lực thấp xuất hiện để
cải thiện khả năng sống của tế
bào mỡ và ít bị xơ hóa

Trong thực tế hàng ngày
của chúng ta, khi cần lấy một
lượng nhỏ để ghép, chúng tôi sử
dụng ống syringe cầm tay kết
nối với syringe 10 ml có khóa
của Luer. Dùng syringe để hút
mỡ thì áp lực húc 0,37 atm. Nếu
khi cần một số lượng lớn mỡ,
chúng tôi thực hiện hút bằng
máy hút áp lực âm, áp lực hút
lúc này thấp (0,5 atm).

Để tránh những bất
thường trong vùng hút lấy mỡ

3 Ghép mỡ: nguyên lí và quan niệm chung
18
và có kết quả tốt nhất có thể
trong vùng cho mỡ thì cần lưu ý
những điểm sau:

1. Trong quá trình hút
mỡ, nên thay đổi vị trí hút và
hướng của đầu ống hút và đi
qua các đường hút từ hai đường
rạch da khác nhau ở bất kỳ vị trí
nào có thể.

2. Sau khi hút mỡ, và sau
khi quá trình chiết tách mỡ hoàn
thành, nên dùng cannula để đẩy
qua lại vị trí cho mỡ mà không
hút mỡ ra, trước khi khâu các
vết rạch da bằng khâu mũi rời
với chỉ 5-0.
3.2 Kỹ thuật xử lí mỡ
Theo y văn hiện tại [45 -60]

• Các kỹ thuật xử lý mỡ
ghép như: ly tâm, lọc, rửa và
lăn Telfa.

• Khi đã đánh giá tất cả
các khía cạnh, không có một
kỹ thuật nào là vượt trội rõ
ràng hơn so với kỹ thuật khác.
Vẫn còn có một mức độ chưa
chuẩn lắm vì kết quả không
đồng nhất trên động vật và
trên người

• Khi chúng ta ly tâm
mỡ, một số nghiên cứu cho
thấy là quay 3000 vòng/phút
(1.200g) sẽ gây ra tổn thương
tế bào nhiều hơn. Để xác định
số thiết lập số lượng mỡ cần
ghép, cần biết được cần phải
quay ly tâm mỡ bao nhiêu
vòng/phút.

Kỹ thuật xử lý mỡ là
nhằm mục đích phân lập mỡ
đã hút từ hỗn hợp dầu, máu
và các mảnh vụn và các thành
phần khác không mong muốn
của dung dịch tumescent. Đây
là điều rất quan trọng vì những
yếu tố này có thể ảnh hưởng xấu
đến khả năng sống sót và duy trì
của mảnh mỡ ghép. Để phân lập
mỡ thì nên theo các bước sau:
3.2.1 Ly tâm

Chưa có sự thống nhất
về quay ly tâm bao nhiêu vòng/
phút và bao nhiêu phút cho hợp
lí. Coleman [4, 5] đã báo cáo là
quay khoảng ‘3000 vòng / phút
trong 3 phút, trong khi chúng
tôi chỉ sử dụng 2000 vòng /
phút trong 2 phút.

Sau khi ly tâm, chúng ta
nhìn ống mỡ thì thấy 3 mức:
Dưới cùng là chứa máu và mảnh
vụn, nước và các thành phần
của dung dịch tumescent; ở
lớp giữa bao gồm mỡ để tiêm;
và trên cùng bao gồm các sản
phẩm của axit béo.

Để tách các sản phẩm
thuộc về máu thì chúng ta mở
cuối syringe ra thì hỗn dịch này
sẽ chảy ra hết. Các sản phẩm

3 Ghép mỡ: nguyên lí và quan niệm chung
19
axit béo ở trên cùng thì có thể
nghiên syringe để đổ ra, và nếu
cần thiết có thể loại bỏ bằng cách
dùng một miếng gạc lót nhỏ.
Phương pháp như trên là có thể
tách lấy phần mỡ cần tiêm được
dễ dàng sau khi ly tâm.
3.2.2 Rửa và lọc mỡ
Trong kỹ thuật này, mỡ sẽ được
tách ra khỏi các thành phần
khác bằng cách sử dụng dung
dịch nước muối sinh lí để rửa và
lọc mỡ. Cả hai cách lọc mỡ kín
và lọc mỡ mở cũng đã được báo
cáo.
3.2.3 Rửa và chiết tách

Để rửa và gạn lấy mỡ,
chúng tôi thích rửa xoay vòng
kín. Chúng tôi hút 5 ml mỡ + 4
ml dung dịch nước muối sinh
lí vào ống tiêm. Sau khi gạn lấy
mỡ và loại bỏ những chất nổi ở
lớp trên, chúng tôi lặp lại thao
tác cho đến khi thu được mỡ cô
đặc.
3.2.4 Trộn Telfa

Kỹ thuật này bao gồm đổ
mỡ đã hút vào miếng băng lớn
Telfa không cố định. Mỡ sẽ nhẹ
nhàng lăn và nhào quanh gạc rồi
chuyển trở lại một lần nữa vào
ống tiêm.

Khi đã thu được mỡ, thì
chuyển mỡ vào syringe 1 ml
thông qua đầu nối chuyển khóa
Luer
3.3 Tiêm mỡ
Theo y văn hiện tại [33, 61- 64]

• Tiêm có thể được
thực hiện trong nhiều lần,
trong nhiều mặt phẳng tổ
chức và theo nhiều hướng
khác nhau, tiêm một lượng
nhỏ trong mỗi lần tiêm.

• Hiện tại, tiêm quá
nhiều để có sự sống sót tốt
hơn dường như thiếu sự hỗ
trợ khoa học.

• Nên tránh băng nén
hoặc massage trên vùng da có
ghép mỡ.

Một số tác giả coi thời
điểm tiêm là phần quan trọng
nhất của kỹ thuật.

Nói chung, và khi tổ chức
cần ghép mỡ không bị xơ hóa,
nên dùng cannula đầu tù để
tiêm mỡ. Tuy nhiên, khi có sẹo
co rút hoặc xơ hóa, thì nên sử
dụng kim sắc nhọn để tách tổ
chức trước khi tiêm mỡ mục
đích để tránh làm hỏng dây thần
kinh, mạch hoặc cấu trúc giải
phẫu khác. Trong trường hợp
mà mỡ cần phải tiêm vào các
mặt phẳng dưới da nông hơn,
tiêm trực tiếp bằng kim cũng có
thể hữu ích.

Mỗi lần tiêm thì nên tiêm

3 Ghép mỡ: nguyên lí và quan niệm chung
20
một lượng nhỏ ít mỡ, là để tăng
cường sự sống sót của mảnh
ghép mỡ và sự tích hợp của mô
mỡ được cấy vào vị trí nơi nhận.

Đầu tiên chúng tôi đẩy
cannula mà không chích mỡ, sau
đó chúng tôi rút cannula ngược
lại và tiêm mỡ vào tổ chức. Điều
này tạo ra một hiệu ứng như hạt
trên vòng cổ, tạo ra một số mức
độ tiêm, và kỹ thuật phải nên
lặp đi lặp lại nhiều lần ở nhiều
mặt phẳng. Điều đó cũng rất
quan trọng để đưa mỡ vào các
vùng khác nhau để tạo ra một
mô hình mạng lưới hoặc chéo
nhau và để làm các đường hầm
ở tất cả mặt phẳng là để ngăn
chặn sự tích tụ mỡ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Rzany B, DeLorenzi C. Understand­
ing, avoiding, and managing severe
filler complications. Plast Reconstr
Surg. 2015;136(5 Suppl): 196S–203.
2. Sorensen EP, Urman C. Cosmet­
ic complications: rare and serious
events following botulinum toxin
and soft tissue filler administration. J
Drugs Dermatol. 2015;14:486–91.
3. Mojallal A, Foyatier JL. Historique
de l’utilisation du tissu adipeux com­
me produit de comblement en chiru­
rgie plastique. Ann Chir Plast Esthet.
2004;49:419–25.
4. Coleman SR. Lipoinfi ltration in
the upper lip white roll. Aesth Surg.
1994;14:231–4.
5. Coleman SR. Long term survival of
fat transplants: controlled
demonstrations. Aesthetic Plast Surg.
1995;19:421–5.
6. Mazzola RF, Mazzola IC. History of
fat grafting: from ram fat to stem cells.
Clin Plast Surg. 2015;42:147–53.
7. Serra-Renom JM, Muñoz-Olmo
JL, Serra-Mestre JM. Fat grafting in
postmastectomy breast reconstruc­
tion with expanders and prostheses
in patients who have received radio­
therapy: formation of new subcu­
taneous tissue. Plast Reconstr Surg.
2010;125:12–8.
8. Karmali RJ, Nguyen AT, Skoracki RJ,
et al. Outcomes following autologous
fat grafting in head and neck onco­
logic reconstruction. Plast Reconstr
Surg. 2015;136(4 Suppl):49–50.
9. Laschke MW, Menger MD. Ad­
ipose tissue-derived microvascu­
lar fragments: natural vasculariza­
tion units for regenerative medicine.
Trends Biotechnol. 2015;33:442–8.
10. Avram AS, Avram MM, James WD.
Subcutaneous fat in normal
and diseased states: 2. Anatomy and
physiology of white and brown ad­
ipose tissue. J Am Acad Dermatol.
2005;53:671–83.
11. Eto H, Kato H, Suga H, Aoi N, Doi
K, Kuno S, Yoshimura K. The fate of
adipocytes after nonvascularized fat
grafting: evidence of early death and
replacement of adipocytes. Plast Re­
constr Surg. 2012;129:1081–92.
12. Kato H, Mineda K, Eto H, Doi K,
Kuno S, Kinoshita K, et al.
Degeneration, regeneration, and cic­
atrization after fat grafting: dynamic
total tissue remodeling during the
first 3 months. Plast Reconstr Surg.
2014;133:303e–13.

3 Ghép mỡ: nguyên lí và quan niệm chung
21
13. Kakudo N, Tanaka Y, Morimoto N,
Ogawa T, Kushida S, Hara T, Kusumo­
to K. Adipose-derived regenerative
cell (ADRC)-enriched fat grafting: op­
timal cell concentration and effects
on grafted fat characteristics. J Transl
Med. 2013;11:254.
14. Serra-Mestre JM, Serra-Renom
JM, Martinez L, Almadori A, D’An­
drea F. Platelet-rich plasma mixed-
fat grafting: a reasonable prosurvival
strategy for fat grafts? Aesthetic Plast
Surg. 2014;38:1041–9.
15. Forbes SJ, Rosenthal N. Preparing
the ground for tissue regeneration:
from mechanism to therapy. Nat Med.
2014;20:857–69.
16. Rohrich RJ, Sorokin ES, Brown SA.
In search of improved fat transfer vi­
ability: a quantitative analysis of the
role of centrifugation and harvest site.
Plast Reconstr Surg. 2004;113:391–5.
17. Ullmann Y, Shoshani O, Fodor A,
Ramon Y, Carmi N, Eldor L, Gilhar
A. Searching for the favorable donor
site for fat injection: in vivo study us­
ing the nude mice model. Dermatol
Surg. 2005;31:1304–7.
18. Padoin AV, Braga-Silva J, Martins P,
Rezende K, Rezende AR, Grechi B, et
al. Sources of processed lipoaspirate
cells: influence of donor site on cell
concentration. Plast Reconstr Surg.
2008;122:614–8.
19. Kishi K, Imanishi N, Ohara H, Ni­
nomiya R, Okabe K, Hattori N, et al.
Distribution of adipose-derived stem
cells in adipose tissues from human
cadavers. J Plast Reconstr Aesthet
Surg. 2010;63:1717.
20. Lim AA, Fan K, Allam KA, Wan D,
Tabit C, Liao E, et al. Autologous fat
transplantation in the craniofacial pa­
tient. J Craniofac Surg. 2012;23:1061–
21. Li K, Gao J, Zhang Z, Li J, Cha P, Liao
Y, et al. Selection of donor site for fat
grafting and cell isolation. Aesthetic
Plast Surg. 2013;37:153–8.
22. Small K, Choi M, Petruolo O, Lee C,
Karp N. Is there an ideal donor site of
fat for secondary breast reconstruc­
tion? Aesthet Surg J. 2014;34:545–50.
23. Moore Jr JH, Kolaczynski JW, Mo­
rales LM, Considine RV, Pietrzkow­
ski Z, Noto PF, Caro JF. Viability of
fat obtained by syringe suction li­
pectomy: effects of local anesthesia
with lidocaine. Aesthetic Plast Surg.
1995;19:335–9.
24. Kim IH, Yang JD, Lee DG, Chung
HY, Cho BC. Evaluation of centrifu­
gation technique and effect of epi­
nephrine on fat cell viability in au­
tologous fat injection. Aesthet Surg J.
2009;29:35–9.
25. Shoshani O, Berger J, Fodor L, Ra­
mon Y, Shupak A, Kehat I, et al. The ef­
fect of lidocaine and adrenaline on the
viability of injected adipose tissue: an
experimental study in nude mice. J
Drugs Dermatol. 2005;4:311–6.
26. Keck M, Zeyda M, Gollinger K, Bur­
jak S, Kamolz LP, Frey M, Stulnig TM.
Local anesthetics have a major im­
pact on viability of preadipocytes and
their differentiation into adipocytes.
Plast Reconstr Surg. 2010;126:1500–
5.
27. Livaoğlu M, Buruk CK, Uraloğ­
lu M, Ersöz S, Livaogğlu A, Sözen E,
Agdoğan Ö. Effects of lidocaine plus
epinephrine and prilocaine on autol­
ogous fat graft survival. J Craniofac
Surg. 2012;23:1015–8.
28. Agostini T, Lazzeri D, Pini A, Mari­
no G, Li Quattrini A, Bani D,
Dini M. Wet and dry techniques for
structural fat graft harvesting.

3 Ghép mỡ: nguyên lí và quan niệm chung
22
Plast Reconstr Surg. 2012;130:331e–
9.
29. Shiffman MA, Mirrafati S. Fat trans­
fer techniques: the effect of harvest
and transfer methods on adipocyte
viability and review of the literature.
Dermatol Surg. 2001;27:819–26.
30. Özsoy Z, Kul Z, Bilir A. The role of
cannula diameter in improved adipo­
cyte viability: a quantitative analysis.
Aesthet Surg J. 2006;26:287–9.
31. Erdim M, Tezel E, Numanoglu A,
Sav A. The effects of the size of lipo­
suction cannula on adipocyte surviv­
al and the optimum temperature for
fat graft storage: an experimental
study. J Plast Reconstr Aesthet Surg.
2009;62:1210–4.
32. Kirkham JC, Lee JH, Medina MA,
McCormack MC, Randolph MA, Aus­
ten Jr WG. The impact of liposuction
cannula size on adipocyte viability.
Ann Plast Surg. 2012;69:479–81.
33. Nguyen PS, Desouches C, Gay AM,
Hautier A, Magalon G. Development
of micro-injection as an innovative
autologous fat graft technique: the
use of adipose tissue as dermal fill­
er. J Plast Reconstr Aesthet Surg.
2012;65:1692–9.
34. Alharbi Z, Opländer C, Almakadi
S, Fritz A, Vogt M, Pallua N. Conven­
tional vs. micro-fat harvesting: how
fat harvesting technique affects tis­
sue-engineering approaches using
adipose tissue-derived stem/stromal
cells. J Plast Reconstr Aesthet Surg.
2013;66:1271–8.
35. Rohrich RJ, Morales DE, Krueger
JE, Ansari M, Ochoa O, Robinson Jr J,
Beran SJ. Comparative lipoplasty anal­
ysis of in vivotreated adipose tissue.
Plast Reconstr Surg. 2000;105:2152–
8.
36. Pu LL, Cui X, Fink BF, Cibull ML, Gao
D. The viability of fatty tissue within
adipose aspirates after conventional
liposuction: a comprehensive study.
Ann Plast Surg. 2005;54:288–92.
37. Smith P, Adams Jr WP, Lipschitz
AH, Chau B, Sorokin E, Rohrich RJ,
Brown SA. Autologous human fat
grafting: effect of harvesting and
preparation techniques on adipocyte
graft survival. Plast Reconstr Surg.
2006;117:1836–44.
38. Pu LL, Coleman SR, Cui X, Fergu­
son Jr RE, Vasconez HC. Autologous
fat grafts harvested and refined by
the Coleman technique: a compar­
ative study. Plast Reconstr Surg.
2008;122:932–7.
39. Crawford JL, Hubbard BA, Colbert
SH, Puckett CL. Fine tuning lipoaspi­
rate viability for fat grafting. Plast Re­
constr Surg. 2010;126:1342–8.
40. Lee JH, Kirkham JC, McCormack
MC, Nicholls AM, Randolph MA, Aus­
ten Jr WG. The effect of pressure and
shear on autologous fat grafting. Plast
Reconstr Surg. 2013;131:1125–36.
41. Fisher C, Grahovac TL, Schafer
ME, Shippert RD, Marra KG, Rubin JP.
Comparison of harvest and process­
ing techniques for fat grafting and ad­
ipose stem cell isolation. Plast Recon­
str Surg. 2013;132:351–61.
42. Schafer ME, Hicok KC, Mills DC,
Cohen SR, Chao JJ. Acute adipocyte
viability after third-generation ultra­
sound-assisted liposuction. Aesthet
Surg J. 2013;33:698–704.
43. Keck M, Kober J, Riedl O, Kitzing­
er HB, Wolf S, Stulnig TM, et al. Pow­
er assisted liposuction to obtain ad­
ipose-derived stem cells: impact on
viability and differentiation to adipo­
cytes in comparison to manual

3 Ghép mỡ: nguyên lí và quan niệm chung
23
aspiration. J Plast Reconstr Aesthet
Surg. 2014;67:e1–8.
44. Yin S, Luan J, Fu S, Wang Q, Zhuang
Q. Does water-jet force make a differ­
ence in fat grafting? In vitro and in
vivo evidence of improved lipoaspi­
rate viability and fat graft survival.
Plast Reconstr Surg. 2015;135:127–
38.
45. Boschert MT, Beckert BW, Puckett
CL, Concannon MJ. Analysis of lipo­
cyte viability after liposuction. Plast
Reconstr Surg.
2002;109:761–5; discussion 766–7.
46. Butterwick KJ. Lipoaugmentation
for aging hands: a comparison of the
longevity and aesthetic results of cen­
trifuged versus noncentrifuged fat.
Dermatol Surg. 2002;28:987–91.
47. Ramon Y, Shoshani O, Peled IJ,
Gilhar A, Carmi N, Fodor L. Enhanc­
ing the take of injected adipose tis­
sue by a simple method for concen­
trating fat cells. Plast Reconstr Surg.
2005;115:197–201.
48. Rose JG, Lucarelli MJ, Lemke BN,
Dortzbach RK, Boxrud CA, Obagi S, Pa­
tel S. Histologic comparison of autolo­
gous fat processing methods. Ophthal
Plast Reconstr Surg. 2006;22:195–
200.
49. Kurita M, Matsumoto D, Shigeura
T, Sato K, Gonda K, Harii K, et al. In­
fluences of centrifugation on cells and
tissues in liposuction aspirates: opti­
mized centrifugation for lipotrans­
fer and cell isolation. Plast Reconstr
Surg. 2008;121:1033–41.
50. Khater R, Atanassova P, Anastass­
ov Y, Pellerin P, Martinot-Duquennoy
V. Clinical and experimental study of
autologous fat grafting after process­
ing by centrifugation and serum la­
vage. Aesthetic Plast Surg.
2009;33:37–43.
51. Condé-Green A, de Amorim NF,
Pitanguy I. Influence of decantation,
washing and centrifugation on adi­
pocyte and mesenchymal stem cell
content of aspirated adipose tissue:
a comparative study. J Plast Reconstr
Aesthet Surg. 2010;63:1375–81.
52. Condé-Green A, Baptista LS, de
Amorin NF, de Oliveira ED, da Silva
KR, Pedrosa Cda S. Effects of centrif­
ugation on cell composition and via­
bility of aspirated adipose tissue pro­
cessed for transplantation. Aesthet
Surg J. 2010;30:249–55.
53. Xie Y, Zheng D, Li Q, Chen Y, Lei H,
Pu LL. The effect of centrifugation on
viability of fat grafts: an evaluation
with the glucose transport test. J Plast
Reconstr Aesthet Surg. 2010;63:482–
7.
54. Zhu M, Zhou Z, Chen Y, Schreiber
R, Ransom JT, Fraser JK, et al. Sup­
plementation of fat grafts with adi­
pose-derived regenerative cells im­
proves long-term graft retention. Ann
Plast Surg. 2010;64:222–8.
55. Minn KW, Min KH, Chang H, Kim
S, Heo EJ. Effects of fat preparation
methods on the viabilities of autolo­
gous fat grafts. Aesthetic Plast Surg.
2010;34:626–31.
56. Botti G, Pascali M, Botti C, Bodog
F, Cervelli V. A clinical trial in facial fat
grafting: filtered and washed versus
centrifuged fat. Plast Reconstr Surg.
2011;127:2464–73.
57. Ferraro GA, De Francesco F, Tiri­
no V, Cataldo C, Rossano F, Nicoletti
G, D’Andrea F. Effects of a new cen­
trifugation method on adipose cell
viability for autologous fat grafting.
Aesthetic Plast Surg. 2011;35:341–8.

3 Ghép mỡ: nguyên lí và quan niệm chung
24
58. Pulsfort AK, Wolter TP, Pallua
N. The effect of centrifugal forces
on viability of adipocytes in centri­
fuged lipoaspirates. Ann Plast Surg.
2011;66:292–5.
59. Hoareau L, Bencharif K, Girard AC,
Delarue P, Hulard O, Festy F, et al. Ef­
fect of centrifugation and washing on
adipose graft viability: a new method
to improve graft efficiency. J Plast Re­
constr Aesthet Surg. 2013;66:712–9.
60. Pfaff M, Wu W, Zellner E, Stein­
bacher DM. Processing technique for
lipofilling influences adipose-derived
stem cell concentration and cell via­
bility in lipoaspirate. Aesthetic Plast
Surg. 2014;38:224–9.
61. Dasiou-Plakida D. Fat injections
for facial rejuvenation: 17 years ex­
perience in 1720 patients. J Cosmet
Dermatol. 2003;2:119–25.
62. Trepsat F. Midface reshaping with
micro-fat grafting. Ann Chir Plast Es­
thet. 2009;54:435–43.
63. Mazzola RF. Fat injection: from
filling to regeneration. St. Louis: Qual­
ity Medical Publishing; 2009. p. 373–
422.
64. Tonnard P, Verpaele A, Peeters G,
Hamdi M, Cornelissen M,
Declercq H. Nanofat grafting: basic re­
search and clinical applications. Plast
Reconstr Surg. 2013;132:1017–26.

4 Các điểm giải phẫu cần quan tâm tránh tổn thương mạch máu
và dây thần kinh trong quá trình ghép mỡ ở mặt
25
Các điểm giải phẫu cần quan tâm
tránh tổn thương mạch máu và dây
thần kinh trong quá trình ghép mỡ ở
mặt
4

Trước khi thực hiện ghép
mỡ, điều quan trọng là phải cẩn
thận các vùng rủi ro có thể xảy
ra tổn thương[1,2]. Điều này
rất có lợi để đánh dấu và xác
định các vùng nơi các mạch và
dây thần kinh có khả năng nằm
ở gần bề mặt da. Dùng cây bút
mực có thể dễ dàng rửa đi bỡi vì
khi rửa mạnh vào cuối quy trình
kỹ thuật sẽ làm tăng nguy cơ di
chuyển của các mảnh ghép mỡ.

Tổn thương mạch máu
hoặc tắc nghẽn mạch máu là
rất hiếm gặp, đặc biệt là khi sử
dụng ống cannula. Tuy nhiên,
gần đây thì có xu hướng sử
dụng kim nhọn hoặc ống cannu­
la có đường kính nhỏ hơn 1 mm
sẽ làm tăng nguy cơ các biến
chứng. Các biến chứng cũng có
thể xảy ra trong các trường hợp
cần giải phóng các vết dính sẹo
ở các vùng đã phẫu thuật hoặc
chiếu xạ trước đây. Nói chung,
luôn luôn nên sử dụng ống can­
nula cùn khi thực hiện chích mỡ
ở các mặt phẳng sâu; còn khi
dùng kim tiêm thì chích mỡ ở
mặt phẳng trong da hoặc dưới
da nông.

Một điểm quan trọng
khác là trước khi tiêm mỡ là
phải thực hiện đánh dấu những
vùng đảm bảo chắc chắn rằng
lúc tiêm sẽ không có mạch nào
bị tổn thương. Thực hiện tiêm
lùi kim, tiêm một lượng ít mỡ và
rút ngược ống cannula. Người ta
hay tiêm thời gian ngắn, nhanh
và rút kim ra, nhưng theo quan
điểm của chúng tôi, làm như vậy
có thể gây ra các tổn thương ở
các nhánh thần kinh nhỏ của
dây thần kinh VII và dây thần
kinh V. Khi tiêm mỡ vào mặt nên
tiêm chậm, không dùng nhiều
lực và sau khi tiêm xong thì cần
rút dần ống cannula ra và tiêm
một lượng nhỏ mỡ vào liên tục,
tránh hình thành lắng đọng mỡ.

4 Các điểm giải phẫu cần quan tâm tránh tổn thương mạch máu
và dây thần kinh trong quá trình ghép mỡ ở mặt
26
4.1 Vùng giữa trán và Glabella

Hai thành phần quan
trọng của vùng này là bó mạch
thần kinh trên ổ mắt và trên
ròng rọc, các nhánh của dây
thần kinh V và động mạch nhãn
cầu. Rât dễ để xác định chúng
nếu lấy đường giữa làm điểm
tham chiếu.
4.1.1 Bó mạch thần kinh trên
ổ mắt

Để xác định điểm thoát
ra của dây thần kinh và mạch
máu trên ổ mắt có thể nằm trên
đường giữa nhãn cầu, vẽ một
đường thẳng từ nhãn cầu đến
lông mày và điểm giao nhau là
nơi bó mạch thoát ra. Điểm này,
cũng tương ứng với điểm trên
ổ mắt và nằm cách đường giữa
khoảng 2,7 cm [1].

Dây thần kinh đi ngang
về phía cơ phía trước-dưới của
cơ cau mày. Bó mạch trên ổ
mắt phân chia thành các nhánh
nông và các nhánh sâu, thông
nối giải phẫu ở phía trong với
bó mạch trên ròng rọc và thông
nối phía ngoài với động mạch
thái dương nông.

Khi nâng đuôi của lông
mày lên, tiêm mỡ trong mặt
phẳng dưới da. Điều quan trọng
là không để chạm tới bó mạch
thần kinh trên ổ mắt vì điều này
sẽ gây tổn thương nó.
4.1.2 Bó mạch thần kinh trên
ròng rọc

Nhận biết nơi bó mạch
thần kinh trên ròng rọc là nằm
cách bó mạch thần kinh trên ổ
mắt khoảng 1 cm về phía trong.
Từ nơi thoát ra, dây thần kinh đi
ngang qua và đi vào cơ cau mày,
chia thành nhiều nhánh. Động
mạch chạy ra, và thông nối giải
phẫu với cả động mạch trên ổ
mắt và động mạch trên ròng rọc
ở phía đối diện [1].
4.2 Vùng thái dương và vùng
trán ngoài
4.2.1 Bó mạch thái dương nông
và các nhánh của nó

Động mạch thái dương
nông là một nhánh của động
mạch cảnh ngoài, có thể sờ thấy
dễ dàng khoảng 1 cm ở vùng
trên và dưới vành tai. Khi đi
qua cung xương gò má, nó chạy
lên trên bề mặt cân thái dương
và sau đó phân chia thành các
nhánh trán và nhánh đỉnh[1, 2].

Trong vùng này, điều
quan trọng là phải nhớ đám rối
tĩnh mạch thái dương nông, và
vì vậy nên sử dụng ống cannula
cùn để tiêm mỡ.
4.2.2 Các nhánh thái dương của
dây thần kinh mặt

Theo sơ đồ, chúng ta có
thể vẽ một hình tam giác trong

4 Các điểm giải phẫu cần quan tâm tránh tổn thương mạch máu
và dây thần kinh trong quá trình ghép mỡ ở mặt
27
đó dây thần kinh nằm ở mặt
dưới của cân thái dương đỉnh.
Hình tam giác này chạy từ nằm:
0,5 cm dưới vành tai đến 2 cm
trên lông mày bên và từ điểm
này đến góc mắt ngoài[1]. Chấn
thương thần kinh sẽ ảnh hưởng
đến cơ trán, tạo ra sụp lông mày
và không đối xứng đối với bên
đối diện.
4.3 Vùng má và vùng mũi
4.3.1 Động mạch góc ( Từ mép
miệng)

Động mạch này đi theo
một đường quanh co từ đường
mép miệng đến cánh mũi dọc
theo rãnh mũi-má. Để xác định
nó là khoảng 1,5->2 cm bên
ngoài mép miệng và khoảng 0,6
->1 cm bên ngoài cánh mũi. Dọc
theo đường đi của nó, nó đi ở
độ sâu 1 cm, mặc dù điều này
có thể khác nhau. Từ cánh mũi,
nó chạy thẳng đến góc mũi-mắt,
nơi động mạch góc mắt thông
nối với động mạch mũi, là một
nhánh của động mạch mắt [1, 2].
4.3.2 Bó mạch và thần kinh dưới
ổ mắt

Điểm thoát của nó nằm
bên dưới bờ ổ mắt dưới 1->1,5
cm, ngay dưới đường giữa qua
nhãn cầu [1].

Động mạch cung cấp máu
chủ yếu vào vùng mí mắt dưới,
túi lệ, môi trên và mặt ngoài của
mũi. Nó thông nối giải phẫu với
động mạch ngang mặt, động
mạch má và các nhánh của động
mạch mặt và động mạch mắt.
Dây thần dưới ổ mắt chi phối
cảm giác cho vùng mí mắt dưới,
môi trên và một phần của tiền
đình mũi.

Vùng này cần đặc biệt
chú ý khi thực hiện tiêm mỡ vào
vùng má khi và khi sử dụng ống
cannula.
4.3.3 Động mạch mũi

Động mạch này thoát ra
qua đỉnh trên-trong của ổ mắt,
đi qua dây chằng phía trong
nhãn cầu và sau đó thông nối
giải phẫu với động mạch góc
[2]. Vì vùng sống mũi có nguồn
cung cấp máu tốt, và các mạch
của nó rất nhỏ; do đó, nguy cơ
biến chứng tiềm ẩn do tiêm chất
làm đầy hoặc mỡ là rất nhỏ hoặc
không có.
4.3.4 Động mạch ngang mặt

Động
mạch
này
bắt
nguồn khi đi qua lồi cầu xương
hàm dưới từ động mạch thái
dương nông và đi qua bên dưới
cung xương gò má cho đến khi
chạm tới má [2].

4 Các điểm giải phẫu cần quan tâm tránh tổn thương mạch máu
và dây thần kinh trong quá trình ghép mỡ ở mặt
28
4.3.5 Nhánh má của động mạch
mặt

Bắt đầu từ động mạch
hàm trên chạy giữa chỗ nguyen
ủy của cơ thái dương và xương
bướm trong, nhánh má chạy
xiên và hướng ra bề mặt nông
về phía cơ mút. Nó có thông nối
nhiều nhánh với động mạch mặt
và động mạch dưới ổ mắt [2].
4.3.6 Nhánh gò má và nhánh má
của dây thần kinh mặt

Những dây thần kinh này
có thể xác định bằng cách vẽ một
hình tam giác có các đỉnh là góc
như: góc hàm dưới, đường mép
miệng và điểm nhô cao nhất của
vùng má [2]. Đây là vùng hoạt
động của hai nhánh thần kinh
mặt này chịu trách nhiệm chi
phối sự hoạt động của môi trên
và miệng.
4.4 Vùng miệng và 1/3 dưới
của mặt
4.4.1 Động mạch mặt (Hướng
tới mép miệng)

Động mạch này có liên
quan đến bờ dưới của hàm dưới
và sau đó đến bờ trước của cơ
nhai, từ đó nó tiếp tục chạy đến
mép miệng. Nó được bao phủ
bởi cơ bám da và cơ hạ góc
miệng [2].
4.4.2 Động mạch môi trên và môi
dưới

Đây là những nhánh của
động mạch mặt bắt nguồn từ
ngang mức của mép miệng và
đến đường giữa, chúng thông
nối giải phẫu với động mạch
môi ở phía đối diện. Chúng nằm
phía sau mặt phẳng cơ [2].
4.4.3 Nhánh động mạch bờ hàm
dưới

Nhánh của động mạch
này có thể xác định là nằm
ngoài mép miệng khoảng 2 cm.
Tại điểm này, bằng cách vẽ một
vòng tròn khoảng 2 cm, chúng
ta có thể xác định vùng có dây
thần kinh nông [2].

Tổn thương ở nhánh
thần kinh này sẽ gây ra sự bất
đối xứng ở miệng, điều này
nhìn thấy rõ nhất trong khi mỉm
cười. Chức năng chính của thần
kinh này là chi phối các cơ hạ
môi dưới và góc miệng.
4.4.4 Thần kinh cằm

Ở giữa xương hàm dưới,
bên dưới ổ răng thứ hai, là dây
thần kinh cằm, chịu trách nhiệm
chi phối cảm giác ½ môi dưới
[2].

4 Các điểm giải phẫu cần quan tâm tránh tổn thương mạch máu
và dây thần kinh trong quá trình ghép mỡ ở mặt
29
4.5 Thần kinh cổ

Để điều trị nếp nhăn
ngang cổ, điều rất quan trọng là
thực hiện tiêm ở một mặt phẳng
rất gần da. Trong khoảng không
dưới da, sử dụng một ống can­
nula; sau đó chích kim theo mặt
phẳng trong da nằm dọc theo
các nếp nhăn da cổ. Trong vùng
này, phải hết sức cẩn thận với
các tĩnh mạch cảnh ngoài và các
mạch máu ở vùng cổ trước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Seckel BR. Facial danger
zones: avoiding nerve injury in
facial plastic surgery. 2nd ed. St.
Louis: Quality Medical Publish­
ing Inc; 2010.
2. Pessa JE, Rohrich RJ. Facial
topography: clinical anatomy of
the face. St. Louis: Quality Medi­
cal Publishing Inc; 2012.

5 Biến chứng trong ghép mỡ ở vùng mặt
30
Biến chứng trong ghép mỡ ở
vùng mặt
5

Việc tiêm mỡ vào vùng
da mặt là một quy trình tương
đối an toàn. Khi thực hiện chính
xác, tỷ lệ biến chứng rất thấp [1,
2].

Mặc dù hầu hết các biến
chứng đã mô tả sau khi tiêm mỡ
ở vùng mặt đều đề cập đến các
khía cạnh thẩm mỹ như không
đều hoặc không đối xứng, một
số biến chứng nghiêm trọng đã
được báo cáo. Rõ ràng, các bác
sĩ phẫu thuật cần phải nhận
thức được các tình huống này
để ngăn chặn chúng.

Hiện nay, sự phát triển
của các hình thức tiêm mới với
ống cannula có đường kính nhỏ
hoặc kim đầu nhọn đã cải thiện
được kết quả thẩm mỹ và giúp
điều chỉnh các vùng mà việc
ghép mỡ trước đó không thể
thực hiện được. Ví dụ như ở mí
mắt và rãnh lệ, nơi da rất mỏng.
Đặc biệt, ở những vùng này, cần
hết sức cẩn thận trong việc lựa
chọn khối lượng mỡ chính xác
cần tiêm và độ sâu của mũi tiêm,
đặc biệt là khi sử dụng kim nhọn,
để tránh làm tổn thương mạch
máu hoặc các cấu trúc khác. Khi
sử dụng kim thay vì ống cannu­
la thì mặt phẳng nên tiêm là da
hoặc dưới da; nên tránh tiêm
trong mặt phẳng sâu dưới da.

Các biến chứng chính cần
xem xét khi thực hiện ghép mỡ
ở mặt.
5.1 Sưng nề và bầm tím

Ở một mức độ nhất định
thì vết bầm tím và sưng nề là
bình thường trong 2 tuần đầu
sau phẫu thuật ghép mỡ. Điều
quan trọng là phải thông báo
cho bệnh nhân về điều này, đặc
biệt là trong trường hợp ghép
sợi nano ở vùng quanh miệng,
thì vết bầm tím thường kéo dài
lâu hơn tới 4->5 tuần [3].

Viêm mãn tính hoặc
sưng ở mí mắt đôi khi đã được
báo cáo trong y văn ghép mỡ
ở mặt[4]. Trong những trường
hợp này, có thể cần phải mổ lại
để chích rạch và nặn mỡ ghép
ra.

5 Biến chứng trong ghép mỡ ở vùng mặt
31
5.2 Nhiễm trùng

Cũng như với tất cả các
kỹ thuật phẫu thuật khác, điều
cần thiết là ngăn ngừa ô nhiễm
vi khuẩn của mảnh ghép mỡ.
Điều này được thực hiện bằng
cách sử dụng kỹ thuật vô trùng
cẩn thận và chuẩn bị trước phẫu
thuật ở cả vùng hút mỡ và vùng
cần ghép mỡ.

Dường như không có bất
kỳ sự khác biệt lớn nào giữa
việc sử dụng các phương pháp
mở hoặc phương pháp kín để
xử lý mảnh ghép mỡ khi thực
hiện trong phòng mổ bằng kỹ
thuật vô trùng [1].
5.3 Lắng đọng mỡ hay U mỡ

Khi tiêm mỡ thì nên phân
bố mỡ trong nhiều mặt phẳng
và chú ý không tiêm tất cả mỡ
vào một nơi để tránh sự bất
thường ở mặt và sự hình thành
các nang dầu trong vùng tiêm.
Trong vùng mí mắt và rãnh lệ,
nơi mà thành phần da thực tế
không tồn tại, sự hình thành
các bất thường có thể nhìn thấy
bằng mắt thường là hay gặp nếu
không sử dụng cannula ghép
microfat tốt.

Trong những vùng đặc
biệt này, phải hết sức cẩn thận
khi chỉ tiêm một lượng nhỏ mỡ
và tiêm bên dưới cơ vòng mi
mắt.

Nếu xuất hiện bất thường
sau khi tiêm mỡ, nên massage
kỹ cho đến khi chúng biến mất.
5.4 Không đối xứng

Trước khi phẫu thuật, đại
đa số bệnh nhân đều có biểu
hiện không đối xứng ít ở hai
bên mặt. Bác sĩ phẫu thuật phải
xác định chúng trong quá trình
đánh giá trước phẫu thuật và
nêu ra sự tồn tại của chúng cho
bệnh nhân biết.

Trong giai đoạn phẫu
thuật, nó giúp phân chia khu­
ôn mặt thành các khoang hoặc
vùng khác nhau và để đếm
lượng mỡ tiêm vào từng vùng
ở cả hai bên. Sự đối xứng cũng
nên được đánh giá sau khi tiêm
mỡ.
5.5 Tái hấp thu mỡ (tan đi)

Chắc chắn, một số mỡ sẽ
được tái hấp thu. Mặc dù chúng
tôi tin rằng mức độ tái hấp thu
phụ thuộc vào kỹ thuật và kinh
nghiệm của bác sĩ phẫu thuật,
những thay đổi về cân nặng của
bệnh nhân có thể đóng một vai
trò quan trọng. Khi xem xét các
y văn, có nên sử dụng hay không
các kỹ thuật trộn mỡ đã chiết
tách với hỗn hợp phân đoạn
mạch máu (SVF), huyết tương
giàu tiểu cầu hoặc fibrin giàu
tiểu cầu thế hệ thứ hai (PRP) [5]

5 Biến chứng trong ghép mỡ ở vùng mặt
32
tái hấp thu khoảng 40%-> 50%
thể tích mỡ tiêm đã được báo
cáo [6-8].
5.6 Tiêm mỡ quá ít hoặc quá
nhiều

Trong phần này, có liên
quan đến kinh nghiệm của bác
sĩ phẫu thuật với từng kỹ thuật
này đặc biệt. Theo ý kiến của
chúng tôi, đặc biệt là những bác
sĩ phẫu thuật mới bắt đầu làm
kỹ thuật, thì nên tiêm ít mỡ là
thích hợp hơn bởi vì sẽ luôn có
thời gian để thực hiện bất kỳ
chỉnh sửa cần thiết nào.
5.7 Thuyên tắc mỡ

Mặc dù là một biến chứng
hiếm gặp, một số trường hợp
mù mắt đã được báo cáo [9-13],
có lẽ liên quan đến thiếu máu
võng mạc do thuyên tắc động
mạch mắt và động mạch trung
tâm võng mạc và cũng có trường
hợp bị nhồi máu não sau khi
ghép mỡ mặt [9,10]. Để tránh
biến chứng này, điều quan trọng
là sử dụng ống cannula cùn, khi
tiêm mỡ phải hút syringe ra và
luôn luôn hút trước khi tiêm.
Khi sử dụng kim nhọn, phải luôn
tiêm ở lớp nông gần da. Theo
chúng tôi, mặc dù trong một số
trường hợp, kỹ thuật dùng kim
nhọn rất hữu ích, nhưng chúng
không bao giờ sử dụng trong
các mặt phẳng ở lớp sâu, và phải
hết sức cẩn thận khi tiêm vào
vùng quanh ổ mắt và vùng gla­
bellar và rãnh mũi-má để không
làm tổn thương động mạch góc.
5.8 Tổn thương cấu trúc giải
phẫu (Thần kinh, động mạch,
cơ, tuyến mang tai hoặc các
tuyến khác)

Các biến chứng có thể xảy
ra, đặc biệt là trong các trường
hợp phẫu thuật tái tạo trong đó
giải phóng các sợi xơ bằng kim
nhọn. Tổn thương vĩnh viễn của
các dây thần kinh và các cấu
trúc khác là rất hiếm xảy ra.
5.9 Không đều ở vùng lấy mỡ

Mặc dù là rất hay gặp
trong trường hợp hút mỡ nhiều
trong đó cần phải lấy một lượng
lớn mỡ, nhưng không đều có
thể xảy ra trong các trường
hợp ghép mỡ ở mặt mặc dù chỉ
yêu cầu ghép ít mỡ. Sau khi lấy
mỡ xong thì nên dùng cannula
thẳng để hút đều lại vùng lấy
mỡ để để giảm thiểu những bất
thường này.

5 Biến chứng trong ghép mỡ ở vùng mặt
33
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Yoshimura K, Coleman SR. Compli­
cations of fat grafting: how they oc­
cur and how to find, avoid, and treat
them. Clin Plast Surg.
2015;42:383–8.
2. Coleman SR. Structural fat graft­
ing: more than a permanent filler.
Plast Reconstr Surg. 2006;118(3 Sup­
pl):108S–20.
3. Tonnard P, Verpaele A, Peeters
G, Hamdi M, Cornelissen M, Decler­
cq H. Nanofat grafting: basic research
and clinical applica- tions. Plast Re­
constr Surg. 2013;132:1017–26.
4. Paik JS, Cho WK, Park GS, Yang SW.
Eyelid-associated complica- tions af­
ter autogenous fat injection for cos­
metic forehead augmen- tation. BMC
Ophthalmol. 2013;13:32.
5. Serra-Mestre JM, Serra-Renom JM,
Martinez L, Almadori A, D’Andrea F.
Platelet-rich plasma mixed-fat graft­
ing: a reasonable prosurvival strate­
gy for fat grafts? Aesthetic Plast
Surg. 2014;38:1041–9.
6. Fontdevila J, Serra-Renom JM, Rai­
gosa M, Berenguer J, Guisantes E,
Prades E, et al. Assessing the long-
term viability of facial fat grafts:
an objective measure using com­
puted tomography. Aesthet Surg J.
2008;28:380–6.
7. Coleman SR, Katzel EB. Fat grafting
for facial filling and regenera- tion.
Clin Plast Surg. 2015;42:289–300.
8. Zhu M, Xie Y, Zhu Y, Chai G, Li Q. A
novel noninvasive three- dimensional
volumetric analysis for fat-graft sur­
vival in facial recontouring using the
3L and 3M technique. J Plast Reconstr
Aesthet Surg. 2016;69(2):248–54.
9. Egido JA, Arroyo R, Marcos A,
Jiménez-Alfaro I. Middle cerebral
artery embolism and unilateral vi­
sual loss after autologous fat injec­
tion into the glabellar area. Stroke.
1993;24:615–6.
10. Danesh-Meyer HV, Savino PJ,
Sergott RC. Case reports and small
case series: ocular and cerebral
ischemia following facial injection
of autologous fat. Arch Ophthalmol.
2001;119:777–8.
11. Sherman JE, Fanzio PM, White H,
Leifer D. Blindness and necro- tiz­
ing fasciitis after liposuction and
fat transfer. Plast Reconstr Surg.
2010;126:1358–63.
12. Park YH, Kim KS. Images in clini­
cal medicine. Blindness after fat injec­
tions. N Engl J Med. 2011;365:2220.
13. Hong DK, Seo YJ, Lee JH, Im M.
Sudden visual loss and multiple ce­
rebral infarction after autologous fat
injection into the glabella. Dermatol
Surg. 2014;40:485–7.

PHẦN II

KỸ THUẬT VÀ ỨNG DỤNG LÂM
SÀNG

6 Hướng dẫn cách ghép mỡ cấu trúc, ghép microfat, tiêm mỡ vào trong da bằng
kim sắc nhọn, ghép nanofat và nhũ tương hoặc mỡ phân đoạn
35
Hướng dẫn cách ghép mỡ cấu trúc,
ghép microfat, tiêm mỡ vào trong da
bằng kim sắc nhọn, ghép nanofat và
nhũ tương hoặc mỡ phân đoạn 6

Tùy thuộc vào yêu cầu
của mảnh ghép mỡ, có một ít
thay đổi là cần thiết trong quá
trình chuẩn bị mỡ, xử lý và tiêm
mỡ. Điều này rất đúng ở vùng
mặt, vùng mà sử dụng nhiều
các kích cỡ khác nhau để ghép
mỡ và sự kết hợp giữa tiêm sâu
với ống cannula và tiêm trên bề
mặt nông bằng kim đã giúp cải
thiện kết quả không chỉ trong
việc điều chỉnh việc giảm thể
tích mà còn trong trường hợp
tái tạo cấu trúc rất tốt.

Dưới đây chúng tôi sẽ cho
thấy từng bước về việc chuẩn bị
từng mảnh ghép mỡ khác nhau.
6.1 Lựa chọn vị trí để lấy mỡ

Khi chúng tôi cần mỡ để
ghép, chúng tôi có thể cân nhắc
các vị trí lấy mỡ khác nhau và
lựa chọn phù hợp nhất cho sự
mong muốn của bệnh nhân.
Điều rất quan trọng là không tạo
ra sự bất thường ở các vùng lấy
mỡ; phải đạt được kết quả thẩm
mỹ tốt ở vùng cần ghép mỡ.
Trước tiên, những vùng thường
được sử dụng phổ biến nhất để
lấy mỡ ghép cho vùng mặt của
chúng tôi là bụng, mặt trong đùi
và bên trong đầu gối và sau đó
là sườn, hông, và nếu cần thiết
là mặt sau của đùi cũng có thể
dùng (Hình 6.1).
6.1.1 Bụng

Phần bụng dưới rốn
thường là nơi hay được sử dụng
để lấy mỡ nhất. Ở vùng này,
nhiều bệnh nhân có đủ lượng
mô mỡ để ghép; tuy nhiên, một
số điểm cần lưu ý. Điều thực tế
đầu tiên là mỡ ở trên và ở dưới
lớp fascia Scarpa rất khác nhau.
Thứ hai là dễ dàng gây nên bất
thường ở da; chúng ta không

6 Hướng dẫn cách ghép mỡ cấu trúc, ghép microfat, tiêm mỡ vào trong da bằng
kim sắc nhọn, ghép nanofat và nhũ tương hoặc mỡ phân đoạn
36
thể thực hiện ghép mỡ để cải
thiện một vùng trên cơ thể mà
khiến bụng bị biến dạng.

Khi cần một lượng nhỏ,
chúng ta đưa cannula qua rốn
để lấy mỡ; khi cần số lượng lớn
hơn, chúng tôi thực hiện hai
đường rạch bên bổ sung 2 bên
để có thể đi qua các đường hầm
và đảm bảo rằng không có bất
thường sau khi lấy mỡ bụng
(Hình 6.2a). Với ống cannula 3
mm thẳng mà không cần hút
lấy mỡ, chúng tôi thường xuyên
đẩy qua lại toàn bộ vùng bụng
nơi mỡ vừa lấy để làm đều lại da
bụng và loại bỏ những vết lõm
(Hình 6.2b).
6.1.2 Sườn

Đôi khi khi chúng ta đã
chọn vùng bụng để lấy mỡ,
nhưng phát hiện ra là cần nhiều
mỡ hơn. Trong trường hợp này,
cúng ta có thể dễ dàng lấy mỡ
từ vùng sườn (với điều kiện là
bệnh nhân có đủ lượng lượng
mỡ) sử dụng cùng một vết rạch
da ở phía ngoài mà đã vừa lấy
mỡ vùng bụng (Hình 6.3).
6.1.3 Mặt trong đùi.

Ở những bệnh nhân gầy,
lượng mỡ ở bụng không đủ để
cấy ghép, cần thiết có thể lấy từ
mặt trong của đùi (Hình 6.4).
Nếu thực hiện kỹ thuật lấy mỡ
chính xác thì vết mổ bị ẩn trong
nếp lằn bẹn, vùng này sẽ rất
dễ điều chỉnh. Bệnh nhân có
xu hướng rất vui vẻ và không
cảm nhận được bị lấy đi một số
lượng mỡ ở vùng này, nhưng
phải hết sức cẩn thận vì cũng dễ
để lại những bất thường.
Hình. 6.1 Vị trí cho mỡ
6.1.4 Hông

Hông nằm ở một vị trí
rất thuận tiện và cung cấp một
lượng mỡ tốt. Trước lấy mỡ,
chúng ta phải chỉ cho bệnh nhân
biết nơi sẽ rạch da để hút mỡ.
Hút lấy mỡ thì chỉ cân 1 vết rạch

6 Hướng dẫn cách ghép mỡ cấu trúc, ghép microfat, tiêm mỡ vào trong da bằng
kim sắc nhọn, ghép nanofat và nhũ tương hoặc mỡ phân đoạn
37
da, nhưng chúng tôi thích thực
hiện 2 đường rạch da và hút qua
các vị trí rạch da ở trên và dưới
của vùng lấy mỡ (Hình 6.5).
6.1.5 Mặt sau của đùi

Đôi khi, cần phải hút để
loại bỏ mỡ từ nhiều vùng hơn,
ví dụ, nếu cần nhiều khối lượng
mỡ hơn hoặc nếu mỡ không có
sẵn ở các vùng lấy mỡ thông
thường.

Trong những trường hợp
này, chúng tôi sử dụng mặt sau
của đùi (Hình 6.6). Đây cũng là
một vùng rất thuận lợi, nhưng
nhược điểm là khi lấy mỡ xong
thì bệnh nhân phải nằm lật
ngược lại.
6.1.6 Mặt trong của đầu gối

Mặt trong của đầu gối là
nơi sử dụng lấy mỡ thường xuy­
ên, đặc biệt là ở phụ nữ trẻ, gầy
vì đây là vùng luôn có lượng mỡ
nhỏ tích tụ ở phụ nữ (mặc dù
không phải ở nam giới).
Để có được mỡ, sau khi tiêm
dung dịch tumescent, chúng ta
véo da và lấy mỡ bằng ống can­
nula nhiều lỗ ở đầu (Hình 6.7).
Hình. 6.2 (a) Hút mỡ bụng.
(b) Làm đều vùng da vừa lấy mỡ bằng cách dùng cannula
3-mm thẳng, không hút mỡ ra
a

6 Hướng dẫn cách ghép mỡ cấu trúc, ghép microfat, tiêm mỡ vào trong da bằng
kim sắc nhọn, ghép nanofat và nhũ tương hoặc mỡ phân đoạn
38
b
Hình. 6.2 tiếp
Hình 6.3 Vùng
sườn: Có thể thực
hiện hút lấy mỡ
đủ số lượng mà
không cần thay
đổi tư thế của
bệnh nhân

6 Hướng dẫn cách ghép mỡ cấu trúc, ghép microfat, tiêm mỡ vào trong da bằng
kim sắc nhọn, ghép nanofat và nhũ tương hoặc mỡ phân đoạn
39
Hình. 6.5 Vùng
hông
Hình. 6.6 Mặt sau
đùi
Hình. 6.7 Mặt
trong gối

6 Hướng dẫn cách ghép mỡ cấu trúc, ghép microfat, tiêm mỡ vào trong da bằng
kim sắc nhọn, ghép nanofat và nhũ tương hoặc mỡ phân đoạn
40
6.2 Hút lấy mỡ

Sau khi chọn vùng lấy
mỡ, đầu tiên, dùng ống cannu­
la hơi cùn để chích dung dịch
tumescent theo nhiều hướng,
nhiều lớp khác nhau. Khi thực
hiện phẫu thuật hút mõ dưới
gây tê tại chỗ, thì dung dịch
tumescent có chứa 0,05% li­
docaine trong dung dịch nước
muối và epinephrine 1:200.000.
Khi thực hiện phẫu thuật dưới
gây mê toàn thân, có thể chích
dung dịch tumescent bằng
thuốc co mạch pha loãng trong
dung dịch nước muối hoặc bằng
cách thêm nồng độ thuốc tê tại
chỗ với nồng độ thấp (0,02%
lidocaine). Sau khi tiêm dung
dịch tumescent, chúng tôi đợi
khoảng 20 phút trước khi bắt
đầu hút mỡ.

Áp suất hút có thể được
tạo ra bằng cách hút ống tiêm
cầm tay hoặc với máy hút mỡ ở
áp suất thấp, khoảng 0,5 atm.

Để có được phương pháp
ghép mỡ cấu trúc, sử dụng ống
cannula 3 mm. Nếu mục đích là
để có được mỡ ghép microfat,
cho dù chúng được tiêm bằng
ống cannula hoặc kim tiêm
(trong trường hợp kim chích
mỡ vào trong da: sharp needle
intradermal fat grafts [SNIF]),
mảnh ghép nano và nhũ tương
hoặc mỡ phân đoạn, ống cannu­
la hút lấy mỡ kích cỡ 1 mm có
lằn và đầu vát là rất thuận lợi.
Khi chúng ta đã lấy được mỡ,
đặt mỡ trên lưới (Hình 6.8).

6 Hướng dẫn cách ghép mỡ cấu trúc, ghép microfat, tiêm mỡ vào trong da bằng
kim sắc nhọn, ghép nanofat và nhũ tương hoặc mỡ phân đoạn
41
Hình. 6.8 Lấy mỡ

6 Hướng dẫn cách ghép mỡ cấu trúc, ghép microfat, tiêm mỡ vào trong da bằng
kim sắc nhọn, ghép nanofat và nhũ tương hoặc mỡ phân đoạn
42
6.3 Kỹ thuật xử lý mỡ và tiêm
6.3.1 Ghép mỡ cấu trúc

Như đã thảo luận trong
chương 3, một loạt các phương
pháp có thể được sử dụng để cô
lập mỡ từ các thành phần khác
của hỗn dịch hút ra. Mặc dù vẫn
chưa có sự thống nhất chung về
phương pháp nào đạt được kết
quả tốt nhất và ít gây tổn thương
tế bào mỡ nhất, nhưng trong
thực tế lâm sàng, chúng tôi sử
dụng phương pháp ly tâm, lọc
và gạn lấy mỡ ghép mỡ cấu trúc
và thu được kết quả tương tự.

Trong trường hợp ly tâm,
chúng tôi sử dụng máy ly tâm
nghiên với tốc độ 2000 vòng/
phút trong 2 phút. Sau khi ly
tâm, có thể quan sát thấy ba mức
trong ống tiêm. Mức thấp hất
chứa máu và mảnh vụn, nước và
các thành phần của dung dịch
tumescent; lớp ở giữa gồm các
mảnh mỡ nhỏ; và lớp trên cùng
chứa dầu do các axit béo bị phá
vỡ. Chúng tôi loại bỏ lớp dưới
cùng có chứa thuốc tê và máu
và sau đó loại bỏ phần trên có
chứa các giọt mỡ nhỏ bằng một
miếng gạc nhỏ (Hình 6.9a).

Sau đó, chúng tôi kết nối
ống tiêm 10 ml với mỡ sạch với
đầu nối hoặc khóa ba chiều với
ống tiêm 1- hoặc 2 mL và chuyển
mỡ. Chúng tôi kết nối ống tiêm
với ống cannula 1.6 mm và thực
hiện tiêm ghép mỡ (Hình 6.9b)
[1].
6.3.2 Ghép Microfat và kim nhọn
Mỡ trong da (SNIF)

Kỹ thuật khử và rửa của
chúng tôi đã cho chúng tôi kết
quả rất tốt, vì đây là phương
pháp khép kín và mỡ thu được
rất sạch. Đầu tiên, chúng tôi hút
mỡ bằng ống tiêm 10 ml, tạo
chân không với ống tiêm và ống
cannula hoa tulip.

Sau này, chúng tôi chỉ lấp
đầy một nửa ống tiêm, tức là, 5
mL. Sau đó, chúng tôi lấp đầy
ống tiêm lên đến 9 mL với 4 mL
Ringer lactate. Chúng tôi rút
thuyên tắc của ống tiêm 1 mL để
tạo khoảng trống.

Bây giờ chúng ta có không
gian này, chúng ta lắc ống tiêm
một chút để làm sạch mỡ và sau
đó để nó đứng thẳng trong vài
phút. Trong vài phút, một số
mỡ rất vàng xuất hiện nổi trên
bề mặt; dưới đây là phần còn lại
của máu và thuốc mê. Nếu nó
không đủ sạch, chúng tôi làm
trống phần dưới trong suốt này
và hút 4 ml Ringer Lactate, lắc
lại và gạn lại để nó được làm
sạch hoàn toàn. Sau đó, chúng
tôi làm trống mức thấp hơn và
chuyển mỡ đã được tinh chế
vào ống tiêm 1 ml để tiêm (Hình
6.10a).

6 Hướng dẫn cách ghép mỡ cấu trúc, ghép microfat, tiêm mỡ vào trong da bằng
kim sắc nhọn, ghép nanofat và nhũ tương hoặc mỡ phân đoạn
43

Để tiêm mỡ ghép micro­
fat, chúng tôi sử dụng ống can­
nula có đường kính nhỏ hơn 1
mm (thường khoảng 0,7 mm).
Việc lựa chọn ống cannula hơi
thẳng hay cong phụ thuộc vào
vùng cần chỉnh sửa. Thực hiện
tiêm trong mặt phẳng dưới da
(Hình 6.10b) [2].

Khi tiêm mỡ này vào các
mặt phẳng nông hơn, như trong
trường hợp SNIF, sử dụng kim
sắc nhọn 23-G [3].
6.3.3 Nhũ tương, mỡ phân đoạn
và kim chích mỡ vào trong da
(SNIE)

Sau khi lấy mỡ và rửa
sạch, chúng tôi lấy một ống tiêm
có 5 ml mỡ và thông qua một
nút khóa ba chiều nối nó với
một ống tiêm 10 ml rỗng. Chúng
tôi chuyển mỡ từ ống tiêm này
sang ống tiêm khác ít nhất 30
hoặc 40 lần. Nó sẽ hóa lỏng dần
dần, và có ít mảnh mỡ nhỏ hơn;
dần dần hình thành nhũ tương
(Hình 6.11a).

Sau khi mỡ đã nhũ tương
tốt, chúng ta rửa lại một lần nữa
để loại bỏ axit béo và sau đó hút
thêm 4 ml ringer lactate bằng
ống tiêm có chứa nhũ tương và
lắc đều. Sau đó, chúng tôi lại khử
nhũ tương một lần nữa, và mặc
dù đã trong suốt hơn, có thể
nhìn thấy hai lớp: nhũ tương ở
trên và dung dịch rửa ở phía
dưới. Chúng tôi loại bỏ dung
dịch rửa và chuyển nhũ tương
vào ống tiêm 1- hoặc 2 mL.

Ví dụ, chúng tôi tiêm nhũ
tương này bằng ống cannula có
đường kính 0,5 mm để làm đầy
vùng rãnh lệ, hoặc bằng kim 25
G (SNIE) trong trường hợp tiêm
trong da (Hình 6.11b). Khi đếm
tế bào đã cho thấy rằng nhũ
tương có số lượng tế bào phân
đoạn mạch máu tương tự như
nanofat [4].
6.3.4 Ghép Nanofat

Để tạo ra nanofat, như
được mô tả bởi Tonnard et al.
[4], chúng tôi chuẩn bị nhũ
tương và sau đó lọc nó qua một
miếng vải hoặc lưới có lỗ hoặc
lỗ 0,5 mm.

Theo cách này, các sợi col­
lagen và phần còn lại của màng
vẫn ở phía trên và một chất lỏng
ở phía dưới, nanofat. Dùng một
ống tiêm 2 ml để hút các nano­
fat và chuyển qua một đường
ba chiều vào một ống tiêm 1 ml;
sau đó kết nối với kim 27 G và
tiêm vào lớp hạ bì (Hình 6.12)
[4]. Việc chuẩn bị chất lỏng cao
này rất có ích, ví dụ như để cải
thiện màu sắc của vùng da bên
dưới mí mắt. Khi đếm tế bào
đa cho thấy rằng: nanofat có số
lượng tế bào cùng với phân

6 Hướng dẫn cách ghép mỡ cấu trúc, ghép microfat, tiêm mỡ vào trong da bằng
kim sắc nhọn, ghép nanofat và nhũ tương hoặc mỡ phân đoạn
44
đoạn mạch máu giống như nhũ
tương.
Hình. 6.9 Ly tâm mỡ. (a) Thấy 3 mức sau khi ly tâm; phân lập mỡ. (b) Chuyển
mỡ sang những syringes nhỏ hơn để tiêm, có thể tiêm bằng cannula ở mặt phẳng
dưới da.

6 Hướng dẫn cách ghép mỡ cấu trúc, ghép microfat, tiêm mỡ vào trong da bằng
kim sắc nhọn, ghép nanofat và nhũ tương hoặc mỡ phân đoạn
45
Hình. 6.9 (tiếp theo)

6 Hướng dẫn cách ghép mỡ cấu trúc, ghép microfat, tiêm mỡ vào trong da bằng
kim sắc nhọn, ghép nanofat và nhũ tương hoặc mỡ phân đoạn
46
Hình 6.10 Kỹ thuật gạn và rửa mỡ. (a) Một phương pháp nhanh và đơn giản để
rửa mỡ và gạn mỡ bằng cách đổ đầy từng ống tiêm bằng hỗn hợp 50% mỡ và
50% dung dịch nước muối. (b) Sử dụng phương pháp này để ghép microfat và
SNIF, vì mỡ thu được khi ly tâm nhỏ gọn hơn và có nhiều khả năng gây tắc trong
ống cannula nhỏ hoặc ống tiêm.

hacklink satın al mumu模拟器 雷电模拟器 向日葵 giftcardmall/mygift giftcardmall balance mygift giftcardmall matbet matbet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Betgaranti Betgaranti Güncel Adres Betgaranti Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Fim İzle Fim İzle Giriş Fim İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Fim İzle Fim İzle Güncel Adres Fim İzle jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Giriş Casibom Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Jojobet Jojobet Giriş Jojobet Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Deneme Bonusu Film İzle Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Türkçe Dublaj Film İzle Film İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi perabet perabet giriş holiganbet holiganbet giriş Casibom Lesfillmercom Casibom Lesfillmercom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Gerbergirlcom Casibom Gerbergirlcom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Spcelectriccontrolcom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş marsbahis marsbahis giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş matbet matbet giriş matbet güncel giriş vaycasino vaycasino güncel giriş vaycasino giriş matbet matbet giriş pusulabet pusulabet giriş pusulabet pusulabet güncel giriş pusulabet giriş matbet matbet güncel giriş matbet giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Resmi Adres pusulabet pusulabet giriş pusulabet güncel giriş Fixbet Fixbet Güncel Giriş Salvobet Salvobet Giriş Salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Turk Porno Turk Porno Giriş Turk Porno casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi casibom casibom jojobet izmir escort izmir buca escort buca escort jojobet casibom holiganbet holiganbet giriş jojobet holiganbet holiganbet giriş jojobet jojobet jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş izmir escort izmir buca escort buca escort izmir escort bayan salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Deneme Bonusu Veren Giriş Deneme Bonusu Veren salvobet salvobet salvobet salvobet Casibom betgaranti betgaranti betgaranti matbet matbet giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Salvobet jojobet Salvobet Salvobet Salvobet Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Güncel Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis bahsegel Fixbet Fixbet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş 1xbet 1xbet Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Listesi Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet grandpashabet grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler vaycasino vaycasino giriş Casibom Casibom Giriş www.giftcards.com Marsbahis Casibom Casibom Casibom Casibom Casibom Grandpashabet Grandpashabet Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Marsbahis Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Casibom Fixbet Fixbet Giriş Casibom Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Holiganbet Holiganbet Güncel Adres Nevşehir escort Kapadokya escort Nevşehir escort bayan nevşehir eskort escort nevşehir Casibom Casibom Giriş Adresi Kapadokya esc Casibom Casibom Resmi Adres Matbet Matbet Matbet Güncel Adres Pusulabet Pusulabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Trabzon escort escort trabzon Trabzon escort bayan Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet