19 Kỹ thuật đặt 90 Kỹ thuật đặt 19 19.1 Kỹ thuật khác nhau và dụng cụ đặt chỉ Cho những người mới bắt đầu • Đặt bằng cannula dùng một lần - Sự khác biệt trong cannula dùng một lần có đầu tù và đầu sắc nhọn - Sự khác biệt trong cannula dùng một lần và cannula phẫu thuật Dành cho người đã làm rồi • Đặt cannula trước sau đó đặt chỉ sau • Đặt bằng chỉ với kim ở cả hai đầu Hình: 19.1 Cannula dùng một lần - của nó Sl sản phẩm khác nhau Đối với người làm nâng cao • Kỹ thuật neo vào cân cơ thái hua đâu nh mấu và thầm nhập dương (dài 41 cm) vào sâu hơn tới 19.1.1 Cannula dùng một lần (đầu tù/đầu nhọn) (Hình 19.1) 1. Sự khác biệt trong cannula dùng một lần (đầu cùn so với đầu nhọn) Cannula đầu tù (Hình, 19.2) • Nguy cơ chảy máu thấp. • Không có khả năng đi qua các mô tổ chức rắn chắc như cannula đầu nhọn. lớp SMAS: • Nếu điều chỉnh độ sâu tốt, nó có thể luồn đi với lực ít hơn. (Tuy nhiên, nếu bệnh nhận bị sẹo do - mụn trứng cá nặng, thậm chí can- nula sắc nhọn cũng khó có thể đi qua mô sẹo này) BH0S000N 2. Sự khác biệt của cannula dùng
một lần và cannula phẫu thuật (đầu tù/ đầu nhọn) Cannula dùng một lần • Thời gian của kỹ thuật có thể được rút ngắn. • Khi tiến hành sử dụng cannula, rất khó để đảo ngược hoặc lấy ra từ điểm vào sau khi đã luồn tới. Một khi sợi chỉ gai được đặt vào các mô tổ chức, sợi chỉ được neo lại ngay lập tức, và cannula chỉ có thể kéo ngược lại. (Vấn đề có thể xảy ra nếu độ sâu đặt chỉ không được điều chỉnh tốt.) Tuy nhiên, có thể đảo ngược nếu chỉ đầu gần của cannula và sợi chỉ được ấn bằng ngón tay cái. Khi rút cannula, nếu bất kỳ một trong số các sợi gai đã chèn vào mô, việc đảo ngược thêm là không thể. Trong trường hợp như vậy, sợi gai sẽ được không neo ở vị trí hợp lí, và sau đó phải gỡ bỏ cả chỉ và cannula. Cannula phẫu thuật (cannula tái sử dụng) • Mỗi sợi chỉ cần chèn cannula phẫu thuật và sau đó chèn sợi chỉ vào vỏ. Vì vậy, nó đòi hỏi thời gian thực hiện kỹ thuật lâu hơn, • Khi tiến hành một cannula, việc tiến tới và đảo ngược có thế được lặp lại. Nếu cannula được chèn ở độ sâu không mong muốn, có thể rút nó ra và tiếp tục chèn hướng khác. 19 Kỹ thuật đặt 91 19.2 Đặt sợi chỉ sau khi đặt Can- nula (Hình 19.3 và 19.4) 19.3 Neo vào vùng thái dương (dài 41 cm) (Hình. 19.5) 19.4 Cách đặt chỉ có kim ở 2 đầu. (Hình 19.6) Hình. 19.2 Cannula dùng một lần Hình. 19.3 Cannula phẫu thuật (can- nula tái sử dụng). Kim dẫn có đầu tù được nối với tay cậm và vỏ bao quanh bề mặt bên ngoài bao phủ kim dẫn S-IAES K6031
19 Kỹ thuật đặt 92 Hình: 19.4 Cannu- la phẫu thuật. Đối với phương pháp sử dụng cannula phẫu thuật, trước tiên hãy chèn toàn bộ cannula (kim dẫn + vỏ), tháo kim dẫn, sau đó chèn chỉ vào vỏ bọc (Trong hình, sợi đài đã được chèn vào một dây đeo Hình dạng UU) a Hình 19.5 Phương pháp neo vào cân thái đương dùng can- nula dài (A) Đây là kỹ thuật neo vào vùng thái dương sử dụng cây kim cong để chèn sợi chỉ dài (chi tiết về kỹ thuật này được thấy trong [Phần 6-3 Kỹ thuật cố định chỉ ở vùng thái dương]). (b) Các công cụ cần thiết cho kỹ thuật: Từ -trái sang, kéo vô trùng, bộ cannula dài (17G), vòng thái dương, awl, cannula để gây tê và thước đo b COM
19 Kỹ thuật đặt 93 Dài 5 mm Dài 20 mm Kim 23G 120 mm Dài 5 mm Hình, 19.6 Sợi chỉ để nâng có kim gắn vào cả hai đầu. Mặc dù nó là một chuỗi dài, có thể thực hiện kỹ thuật đơn giản mà không cần các công cụ hỗ trợ. Thay vì các gai nhọn, các hình nón nằm giữa các nút và chúng là hai chiều. Để chèn, kim đính vào cả 2 đầu của sợi chỉ (chi tiết xem trong [Phần 6 4 Kỹ thuật đặt chỉ cỏ gai 2 hướngl). (Nguồn: Silhouette Soft® / SINCLAIR, ) CHỈ SINH HỌC 088 616 7971 B-INESLGONT c21 0
94 Cắt chỉ và kết thúc 20 20.1 Lấy bỏ Cannula Sau khi sợi chỉ đã đặt vào và rút cannula ra, da sẽ được ấn lên bằng các ngón tay đối diện. (Nhấn lên trên bề mặt da của vùng chèn chỉ theo hướng mong muốn.) Điều quan trọng là bác sĩ phải nhớ rằng cần phải kéo đều tất cả các sợi chỉ. 2. Ngăn ngừa phồng ở trung tâm / ép xuống - Khi kéo một sợi chỉ, người phụ nên ấn khoảng 2 -> 3 cm dưới điểm 20.2 Cắt vào và sau đó cắt bằng kéo vô trùng 20.2.1 Cắt trong khi kéo chỉ trong khi đấy da. - Nếu nó xảy ra ở chỗ cung xương 1, Cần thận gò má thì xương gò má sẽ mở rộng Nếu việc kéo các sơi chỉ ra và khả năng không hài lòng cảu không nhất quán chỉ cần một sợi bệnh nhân tăng lên. Vì vậy, thiết kế chỉ bị kéo mạnh, phần giữa của sợi phải được thực hiện theo cách mà chỉ hai chiều được kéo mạnh và sẽ đ điểm giữa của chỉ hai chiều không nâng lên và các chỉ còn lại thì đặt trùng với ngang mức cung xương trong vùngc không được nâng lên. gà má. Cuối cùng nhô ra ở trung tâm / ép xuống có thể xảy ra. Điều này có thể 20.2.2 Cắt trong khi đẩy đa gây ra sự không hài lòng cho bệnh _ Cắt trong khi đẩy nhẹ da nhân. và sau đó nhét đè đầu sợi chỉ vào trong SQ. B-LIESX/COM
Phần VI Nhiều kỹ thuật đặt chỉ cho các loại chỉ Chin CHỈ SINH HỌC 088 616 7971 BANESYÇON 000 CC
21 Kỹ thuật sử dụng sợi đơn 96 Kỹ thuật sử dụng sợi đơn 21 Tóm tắt sự thay đổi mô bệnh học sau khi đặt chỉ PDO • Phát triển mô liên kết sợi mới • Hòa nhập với mô liên kết sợi hiện có • Co lại mô bởi tế bào sợi non • Tăng kích thước mao mạch • Thay đổi tính chất tế 21.1 Đặt sợi đơn Từ góc độ lý thuyết, rất khó để thấy các sợi chỉ đơn có hiệu ứng nâng tốt. Về cơ bản, vì khái niệm điểm cố định không rõ ràng và cơ sở lý thuyết cho việc tạo hướng chỉ cho là kết quả từ sự co lại của các mô mỡ dưới da, nên hiệu quả sẽ yếu. Các tác giả sẽ nói về những suy nghĩ của họ chi tiết hơn ở phần sau. Trong trường hợp như vậy, có một số khác biệt về hiệu quả, tính nhất định và thời gian tồn tại của kỹ thuật tùy thuộc vào các bác sĩ lâm sằng. Tuy nhiên, dựa trên kinh nghiệm của tác giả, có thể đạt được kết quả tốt khi đặt đủ số lượng chỉ bằng các phương thức thích hợp. Kỹ thuật này đã sử dụng trong một thời gian dài và vẫn đang được sử dụng rộng rãi hơn. Giải thích lý thuyết về kỹ thuật trên được thể hiện trong hình 21.1 và 21.2. Khi đặt chỉ vào hai vị trí, các mô sẽ kéo sang bên nhiều chỉ hơn. Chúng tôi sẽ xem xét về kết quả như vậy chỉ tiết sau này. Suy luận ra cơ sở lý thuyết từ việc đặt sợi đơn dựa trên kết quả thí nghiệm mô được trình bày trong bài báo
21 Kỹ thuật sử dụng sợi đờn 97 Da Mỡ dưới da Cơ Hình, 21.1 Thay đổi sau khi đặt chỉ sợi đơn. Thời gian qua, lý thuyết giải thích rằng hướng sẽ chuyển từ điểm đặt ít đến điểm đặt nhiều hơn Cụ thể, hiệu quả của việc đặt sợi đơn là gắn các tổ chức chảy sệ vào bên trong thay vì kéo tổ chức theo 1 hướng. Xem xét sự thay đổi do lão hóa ở mức độ của mỡ, mô sợi và da với sự thay đổi mô học từ đặt chỉ, có thể suy ra rằng thu được các kết quả sau: • Đo ảnh hưởng của sự thay đổi tính chất tế bào mỡ từ việc đặt chỉ và ảnh hưởng của sự tăng sinh và co lại của các mô xơ, kích thước của mỡ phình ra thì giảm đi. Kết quả là, có một hiệu ứng co lại trong đó khuôn mặt ép vào bên trong. • Tạo ra các mô xơ mới và kết nối với các mô xơ có sẵn xung quanh. Tóm lại, cấu trúc của các mô liên kết sợi dưới đa trở nên dày đặc và rắn chắc hơn. • Thông qua các hình thành tế bào sợi non xung quanh các sợi chỉ đặt vào, xảy ra hiệu ứng co lại của các mô Hình, 21.2 Thay đổi sau khi đặt chỉ đơn. Trong thời gian qua, lý thuyết giải thích rằng hướng được tạo từ điểm đặt ít chỉ đến điểm đặt nhiều chỉ hơn 7971 Điều này có thể giải thích hiệu quả của việc kéo da mặt bị chảy xệ vào bên trong. • Có thể mong đợi là môi trường da sẽ cải thiện nhờ những phát hiện ra kích thước của mao mạch tăng lên. IN-BAES VRONL
Chỉ đơn PDO 21 Kỹ thuật sử dụng sợi đơn Tăng sinh mô liên kết sợi 98 Da Mỡ dưới da Cơ Hình. 21.3 Phương pháp đặt sợi đơn. Phương pháp đặt chỉ: đặt dạng sóng để tăng diện tích tiếp xúc với lớp mỡ dưới da Cuối cùng, hiệu quả của việc đặt chỉ đơn có thể dự kiến là do sự co lại của mô mỡ, tăng sinh mô liên kết sợi và cải thiện tình trạng đa. Dựa trên quan điểm nghiên cứu trượt mô của Jung Hyun Yoon và cộng sự, chỉ trong các mô gần với sợi chỉ thì nhìn thấy sự thay đổi tính chất tế bào mỡ. Tuy nhiên, do lượng mỡ dưới da ở mặt không nhiều và do tác dụng bổ sung (tăng sinh và tác dụng hợp nhất của mô xơ), một số tác dụng có lợi có thể được tạo ra từ sự thay đổi tính chất tế bào mỡ và co bóp của các mô xơ thông qua việc đặt chỉ PDO. Dựa trên những chỉ số khách quan về hiệu ứng nâng, chúng tôi dự định tiến hành các nghiên cứu đánh giá kết quả bằng cách sử dụng chỉ số đó. 21.2 Sự khác biệt trong thay đổi từ kỹ thuật sợi đơn Kết quả của các cuộc thảo luận với các bác sĩ khác nhau về đô sâu như thế nào khi đặt chỉ vào thực tế lâm sàng và lý do tại sao chúng được thực hiện theo cách như sau. Nói chung, ý kiến là để thu nhỏ lại lớp mỡ bị chảy xệ, sợi chỉ được đưa vào lớp mỡ dưới da và để kéo phần da bị chảy xệ, sợi chỉ gắn chặt vào vùng dưới da xuang quanh. Xem xét các thay đổi sau khi đặt PDO, chúng tôi nghĩ rằng đây là một kỹ thuật thích hợp cho các quy trình này. Để giảm lớp mỡ, có vẻ như đặt sâu trong khi tăng tiếp xúc với lớp mỡ càng nhiều càng tốt, và để thay đổi lớp hạ bì da, chúng tôi nghĩ sẽ rất thích hợp khi xác định vị trí của sợi chỉ nằm sát với lớp hạ bì.
Nghiên cứu phát hiện ra sự khác biệt trong thay đổi mô bệnh học tương đối dựa trên độ sâu của chỉ PDO trong da, cho là có thể mang lại kết quả quan trọng trong việc thiết lập nền tảng lý thuyết cho các kỹ thuật nâng chỉ trong tương lai. Cũng cần nghiên cứu mô hình thay đổi mô theo hình dạng và độ dày của sợi chỉ. 21.3 Giải thích về cơ chế 21.3.1 Phương pháp kỹ thuật sợi đơn: Đường viền cổ (Hình 21.4) • Để xác định rõ thêm về đường viền hàm đưới, hãy đặt các sợi chỉ đơn PDO ở trên và dưới đường viền Hình. 21.4 Kỹ thuật đặt sợi đơn. Phương pháp đặt chỉ trên và dưới dọc theo đường viền hàm dười 21 Ký thuật sử dụng sợi đơn 99 hàm để đảm bảo chúng cũng song song với đường viên hàm đưới. • Tạo đường viền hàm bằng cách tạo ra sự co lại của lớp mỡ và sự kết đính của các mô xơ. • Nếu chỉ PDO đưa vào như một đạng gợn sóng và ra khỏi lớp mỡ dưới da và lớp SMAS, sự co lại của mô có thể đự kiến ở một vùng rộng hơn khi các sợi chỉ trải qua quá trình xơ hóa trong khi chúng tan dần. Trong thực tế lâm sàng, phương pháp đặt chỉ sợi bằng cách di chuyển phần trên và phần dưới của lớp mỡ thay vì chỉ đơn giản là đặt vào trong lớp mỡ đã phổ biến. HOC 7975
21.3.2 Kỳ thuật sợi đơn: Jowl (Hình 21.5) • Các giải thích về giải phẫu về lý do làm phồng bên trong vùng má như sau: - Do một khoảng trcannula giữa cơ cười và cơ gò má lớn, SMAS không liên tục và tạo ra một không gian trcannula. Các mô mỡ sâu bị kéo dài do quá trình lão hóa và đi ra chủ yếu qua vùng này. • Cơ chế của các quy trình bên trong ở má bằng cách sử dụng sợi đơn PDO là sử dụng hiệu ứng thay đổi tính chất tế bào mỡ, hiệu ứng xơ hóa và hiệu ứng cơ lại tổ chức của PDO. • Một mặt, trong trường hợp sử dụng sợi chỉ xoắn loại PDO cứng ở dạng lò xo, có thể dự kiến sẽ tạo ra hiệu ứng ép mỡ như thế bằng cách làm cho co cơ che phủ qua mỡ ở vùng này. Trong thực tế, PDO loại chỉ xoắn một trong dạng hình lò xo dự kiến sẽ có tác dụng ép lên các mô và hiệu ứng tăng thể tích và được sử dụng trong các lĩnh vực khác nhau. 21.3.3 Kỹ thuật sợi đơn: Trước má và rãnh mũi-má (Hình. 21.7) • Chảy sệ vùng phía trước gò má là những yếu tố làm rõ thêm rãnh mũi má. Thông qua việc đặt các sợi đơn trong vùng mà bị chảy sệ trước má 21 Kỹ thuật sử dụng sợi đơn 100 phía trên rãnh mũi má, sự kết hợp của các mô xơ và sự co lại của các tế bào mỡ có thể dự kiến nhìn thấy. • Kết quả là, có một hiệu ứng đẩy má phồng lên phía trước một chút: • Nếu loại chỉ sợi đơn hình lò xo dày hơn và cứng hơn một chút, đặt từ má đến trên vùng rãnh mũi má, có một hiệu ứng giảm vùng trước má bằng cách ấn mạnh bằng chỉ PDO cứng. 21.3.4 Kỹ thuật sợi đơn: Thái dương (Hình.21.8)- Do lão hóa, các nếp nhăn và chảy xệ đã hình thành xung quanh vùng mắt. Phương pháp điều trị cơ bản sẽ là phẫu thuật căng da trán hoặc phẫu thuật mí mắt, nhưng cũng có thể thực hiện một thủ thuật đơn giản bằng cách sử dụng nâng chỉ sợi đơn. Tất nhiên, hiệu quả không đạt được như điều trị bằng phương pháp phẫu thuật. Nếu các sợi đơn PDO cứng ở dạng lò xo được đặt theo hình xuy- ên tâm trong vùng thái dương, có thể thấy lông mày sẽ hơi nhấc lên. VÌ PDO ở dạng lò xo cứng cũng như có kích thước nhỏ, nên nó đóng vai trò như làm đầy và nâng vùng mắt bị chảy xệ và vùng thái dương. Tuy nhiên, hiệu quả và thời gian là nghi vấn. Thí nghiệm lâm sàng so sánh có vẻ cần thiết.
Kỹ thuật nâng chỉ sợi tiên tiến nhất là neo cố định các sợi chỉ trong vùng thái dương bằng các dụng cụ dài khác nhau. Điều này đòi hỏi một kỹ thuật (bí quyết) kéo bằng các sợi chỉ dài với các điểm cố định tạo ra xung quanh vùng thái dương. Phân loại kỹ thuật nâng chỉ: 21 Kỹ thuật sử dụng sơi đơn 101 1. Kỹ thuật sợi chỉ ngăn (nâng QT) - cannula / kim dùng một lần 2. Kỹ thuật sợi dài (nâng QT) - cannula dài 3. Kỹ thuật sử dụng chỉ với kim được gắn ở cả hai bên (Silhou- ette Soft®) C Hình, 21.5 Kỹ thuật sợi đơn. Phương pháp thực hiện các kỹ thuật để gây cơ lại vùng má B-TAESYCOY
21 Kỹ thuật sử dụng sợi đơn 102 - Cơ gò má nhỏ - Cơ gò má lớn Cơ cười H HỌC 16 7971 Hình. 21.6. Cơ chế giải phẫu của mỡ phình ra bên trong má. ERBAOSNCOS
21 Kỹ thuật sử dụng sợi đơn 103 Hình, 21.7 Kỹ thuật sợi đơn - trước má và mũi-má Hình. 21.8 Kỹ thuật các sợi đơn xoắn hình lò so ở vùng thái dương. Đặt chỉ vào lớp mỡ dưới da theo hình xuyên tậm. Mong đợi có một hiệu ứng tăng thể tích với hiệu ứng nâng '7] E-BA CS1.0OM
22 Kỹ thuật sử dụng chỉ gai 104 Kỹ thuật sử dụng chỉ gai 22 22.1 Chỉ gai một hướng Các vấn đề sau đây cần được xem Sau khi đặt các sợi chỉ gai xét trong việc thực hiện kỹ thuật treo trên tổ chức, kéo chúng theo chỉ mũi nhọn: một hướng. Hiệu quả nâng chỉ • Nên đặt để cố định ở 1 vùng nơi được duy trì nếu thực hiện điểm cố các mô bị hỏng đã thông qua bóc định của chỉ bằng mọi cách. tách. Tuy nhiên, dựa trên cấu trúc và cơ • Nên đặt chính xác vào bề mặt nơi chế của chỉ, rất khó để duy trì hiệu lớp trên và lớp dưới được phân ứng nãng (Hình 22.1). Ngày nay, tách thông qua bóc tách, và hướng loại chỉ này được sử dụng cho các của các răng là rất quan trọng. Sau trường hợp rất hạn chế. khi tìm ra chính xác hướng nâng, sợi chỉ phải được đặt vào. Hướng 22.2 Chỉ mũi nhọn Chỉ gai ở dạng mũi nhọn thường sử dụng để cố định sau khi thực hiện nâng bằng cách sử dụng chỉ gai hai chiều, vv. Trong số các kỹ thuật nâng chỉ khác nhau, sau khi phân tách lớp mà chỉ được đặt vào, nếu chỉ ở dạng mũi nhọn được đặt vào lớp đó sau khi điều chỉnh hướng lên-xuống tốt (Hình 22.2), nó đóng vai trò cố định mặt phẳng bóc tách và mặt phẳng bị hỏng. Khi thực hiện nâng qua mặt phẳng bóc tách, chỉ mũi nhọn là hữu ích chứ không phải là chỉ gai. kéo và hướng nằm của răng ở phía trên của chỉ phải trùng nhau (Hình 22.3). • Nếu nó được đặt vào một hướng ngược lại, việc cố định không thể xảy ra và nó bị trượt, không ổn định được các mô bị kéo. Chắc chắn, điều này sẽ không thể duy trì hiệu quả nâng. Thông qua hình 22.3, có thể thấy rõ phía nào trên cùng và dưới cùng của các răng nhọn. Nâng chỉ có thể được duy trì nếu gai mũi nhọn được đặt theo hướng ngăn ngừa trượt trở về theo hướng
22 Kỹ thuật sử dụng chỉ gại Hướng kéo 105 Hình. 22.1 Gai một hướng. Nó có thể được cố định sau khi kéo các mô theo một hướng Hướng kéo Hình. 22.2 Sợi chỉ gai mũi nhọn. Thay vì chức năng kéo các mô, nó ổn định các mô đã kéo và hướng lên và xuống là quan trọng Hình, 22.3 Hướng đặt chỉ đúng; mô kéo có thể được ổn định Hướng kéo: Hướng kéo Hình. 22.4 Hướng đặt sai; điều này không thể ổn định các mô kéo KHENRS KICOM
ngược lại với hướng kéo. Mặt khác, dựa trên hình 22.4, nếu hướng của răng có thể ngăn cản sự di chuyển của mô trở về vị trí ban đầu, mô kéo sẽ bị trượt. Do đó, khi sử dụng các chỉ mũi nhọn, hướng là rất quan trọng. 22.3 Phương pháp Zigzag Cơ chế của phương pháp gại zigzag hai chiêu như sau (Hình 22.5): • Phương pháp của chỉ gai zigzag chủ yếu được sử dụng để cố định các mô kéo sau khi đã thực hiện nâng chứ không phải để chính nó nâng. • Sau khi quy trình nâng sử dụng các sợi gai hai chiều, để ngăn ngừa các tác dụng phụ như lõm da, đôi khi đặt chỉ Zigzag để bổ sung. 22. Kỹ thuật sử dụng chỉ gai 106 giữa (Hình 22.7 và 22.8), Cụ thể, nó có thể được hiểu là một phương pháp kéo cả hai bên đến vùng giữa. Nếu thiết kế và kỹ thuật được thực hiện với sự hiểu biết tốt về cơ chế này, có thể mong đợi một kết quả tốt. Bằng cách sử dụng các đặc điểm như vậy của các chỉ gai hai chiều, có thể điều chỉnh vùng mặt trũng (Hình 22.9). Nếu có thiết kế đầy đủ và hỗ trợ kỹ thuật cho hình dạng khuôn mặt, có thể nâng dưới mọi hình thức. 224,2 Thực nghiệm về gai hai chiều thực tế 1. Sau khi chuẩn bị một vùng rộng trong lớp mỡ dưới da của heo, loại bỏ phần dưới lớp cơ. 2. Sau khi đặt một sợi chỉ gai hai hướng 19 G vuông góc vào da, 22.4 Gai hai chiều thực hiện kỹ thuật ở độ sâu nhất 22.4.1 Hiểu về gai hai chiều định khi qua lớp dưới da thì thay Chỉ gai 2 chiều bao gồm: đổi hướng theo chiều ngang. các gai tới có vai trò kéo tổ chức 3. Sau khi tháo cannula, kéo và gai lùi có vai trò cố định các môổ sợi chỉ gai. kéo không bị sệ xuống (Hình 22.6). 4. Quan sát những thay đổi Cuối cùng, nó có tác dụng nâng các sau đó (Hình 22.10). mô ở cả hai bên lên phần giữa mà không có gai. Nó có tác dụng tốt hơn so với chỉ gai một hướng. Như đã thấy trong hình, chức năng chính xác của các chỉ gai sisess. CoN hai chiều không phải là kéo theo một hướng mà là tập tung ở phần
22- Kỹ thuật sử dụng chỉ gai Hướng kéo Hình, 22,5 Phương pháp zigzag (gai đa hướng). Nó ổn định các mô kéo ở giữa - Hướng kéo Hướng gai ngược lại 107 Hướng gai tới Hình. 22.6 Gai hai chiều Hình. 22.7 Sau khi đặt đơn giản 7971 Hình. 22.8 Kéo sau khi đặt. Nếu điều này được sử dụng sai, nó có thể là một nguyên nhân gây ra tác dụng phụ
22. Kỹ thuật sử dụng chỉ gai 108 Hình, 22.9 Thực tế thực hiện với chỉ gai hai chiều. Bằng cách làm cho các mô ở phần giữa tập hợp lại, các gai hai hướng cho thấy hiệu ứng nâng. Trong thực tế, điều quan trọng là phải hiểu chức năng của vùng nơi sợi chỉ gai đi vào dưới da. Vùng điểm vào của chỉ chắc chắn đi qua bên dưới lớp hạ bì; chỉ gai có xu hướng được treo cứng tại điểm đó. Hiệu quả nâng có thể được tối đa hóa bằng cách sử dụng hiệu ứng tập trung các mô vào ở giữa và tác dụng của các gai theo hướng ngược lại của sợi gai treo ở dưới cùng của lớp hạ bì Hình, 22.10 Kiểm tra lực kéo của gai hai chiều. Có thể thấy sự xuất hiện sau khi đặt sợi gai hai chiêu vào lớp dưới da và kéo theo một hướng. Mặc dù nó hơi xa so với điểm vào của chỉ, nhưng khi nhìn qua bề mặt cắt, có thể thấy rằng lớp mỡ dưới da trùng với vùng giữa của các gai được tập trung và phồng lên. Nếu thực hiện các quý trình sau khi hiểu rõ về cơ chế, nó có tác dụng tập trung các mô cũng như hiệu quả của việc nâng, cụ thể là, hiệu quả của sự phồng lên thông qua tái định hướng
22.4.2.1 Kỹ thuật góc sử dụng chỉ gai hai chiều Kỹ thuật góc có thể được hiểu là sự mở rộng của chỉ gai hai chiều. Như đã đề cập trước đây, chỉ gai hai chiều tạo ra hiệu ứng nâng bằng cách đặt lại các mô vào ở giữa nơi không có bánh gai. Trong trường hợp của kỹ thuật góc, bằng cách làm cho góc bị uốn cong một chút, thay vì theo đường thẳng, đó là phương pháp làm cho các mô bên trong góc bị cong lại (Hình 22.11). Nó có tác dụng điều chỉnh lốm đa, có thể cùng với hiệu ứng nâng, và thiết kế khác nhau. Đặt cannula với các chỉ và tiến hành (Hình 22.12), sau đó làm lệch hướng tại điểm góc và đặt vào cuối. 22 Kỹ thuật sử dụng chỉ gái 109 22.4.2.2 Kỹ thuật V (Uốn cong và cố định) 22.4.2.3 Phương pháp buộc chỉ gai Phương pháp buộc có nghĩa là buộc sợi chỉ gai tại điểm cố định. Buộc dày đi vào bên trong da sau đó và hoạt động như một điểm cố định vững chắc so với việc đặt chỉ gai đơn giản bằng cách sử dụng các chỉ gi đơn hướng hoặc hai chiều. 22.4.2.4 Kỹ thuật X-Cross Để tăng cường và duy trì hiệu quả nâng, điều quan trọng là sử dụng gai hướng ngược lại. Nói chung, các gai còn lại được loại bỏ sau khi đủ độ dài mong muốn. Trong một số trường hợp, một số lượng đáng kể các gai hướng ngược lại bị cắt ra. Lấy cannula ra khỏi da và Để hiệu quả nâng có kết quả kéo sợi chỉ để làm cho mô bị phồng tốt, điều quan trọng là phải truyền lên. S] chức năng của các gai ngược. Trong Điểm vào 088 6167 Phần phồng lên Hướng kéo Hướng của chức năng cố định Hướng kéo Hình. 22.11 Kỹ thuật chỉ gai hại chiều - khái niệm về kỹ thuật góc LRVESMGON
22: Kỹ thuật sử đụng chỉ gai 110 Hình. 22.12 Kỹ thuật của chỉ gai hai chiều đặt-kỹ thuật góc Hướng kéo Khin CHI SINH HỌ Kéo căng điểm cố định, uốn cong và đặt sợi chỉ gai 08 ÷ 616 7971 còn lại tới hướng khác. Điểm chèn Hình, 22.13 Sơ đồ mổ phỏng kỹ thuật cố định bằng cách uỗn cong. Các chỉ gai còn lại không bị cắt và vứt đi mà được sử dụng cho chức năng cố định
22. Kỹ thuật sử dụng chỉ gai 111 (1) Sau khi kéo chặc và buộc (2) Xuất hiện cục chỉ rối ở vị trí buộc Hình. 22.14 Phương pháp buộc chỉ gai Hướng của H chức năng cố định 088 61 7971 Hướng kéo Hình. 22.15 Kỹ thuật chỉ gai hai chiều - khái niệm kỹ thuật X-cross sẽ tốt là sử dụng các chỉ gai định hướng ngược lại còn lại mà không phải vứt chúng ra
23 Kỹ thuật cố định vùng thái dương 112 Kỹ thuật cố định vùng thái dương 23 23.1 Cơ chế Sự khác biệt giữa nấng băng phương pháp neo cố định và các phương pháp khác là cách sử dụng một sợi đơn hoặc chỉ gai để nó có thể tạo ra một điểm cố định vững chắc. Đó là lý tưởng để neo cố định một sợi chỉ trong cân của vị trí neo cố định (Hình 23,1), Nếu sợi chỉ được neo cố định ở lớp mỡ dưới đạ, lực cố định sẽ yếu. Hiểu được những thay đổi trong các mô xảy ra khi thực hiện thao tác véo da tại vùng thái dương, sợi chỉ có thể neo cố định một cách đáng tin cậy vào lớp cần. Các sợi chỉ phải được neo cố định thích hợp vào cân vùng thái đương bằng cách thao tác véo da nơi không có mạch máu lớn. Sau khi thực hiện neo cố định đúng - cách, các sợi còn lại được đặt vào lớp dưới da và thoát ra để thực hiện quy trình nâng chỉ. Kéo da lại tạo nếp gấp tại vùng neo cố định (Hình 23.2), Và nó được duy trì bởi các gai của chỉ. Kết quả thấy ngay thì tốt hơn phương pháp sợi đơn và các kỹ thuật nâng chỉ gai đơn giản. Tính lâu dài của kỹ thuật được xác định bởi sức mạnh, hiệu quả, tính bền vững của chỉ gai và chuyên môn của bác sĩ. Tóm lại Phương pháp thiết kế (Hình 23.3) 1. Điểm mốc ở mặt và đường tham khảo (a) Đường ngang ở góc mắt ngoài (b) Đường vuông góc ở góc mắt ngoài (c) Đường nối từ mép miệng đến tai (d) Đường kẻ ngang từ cuối lông mày 2. Đánh dấu một đường tham kháo bên trong đường chân tóc (e) Đường vuông góc ở tâm của vành tai E-BACSY.COM (f) Đỉnh thái dương: xuất hiện đồng thời với sự co của cơ nhai
Hướng đặt chỉ 23 Kỹ thuật cố định vùng thái dương: 113 Da Mỡ dưới da cần Cơ Hướng kéo Hướng đặt chỉ Da Mỡ dưới da Cân Cơ Hướng kéo Hình.23.1 Phương pháp neo cố định vào cân. Điều này cho thấy cơ chế treo chỉ trong cần và tạo điểm cố định - Đa Mỡ dưới da - Cần Di chuyển mỡ dưới da E-BAGSY.CONA Hình.23.2 Hiểu rõ cơ chế nâng về phương pháp neo cố định cân; kéo các mô tập trung tại một số điểm giữa điểm cố định và điểm ra
23 Kỹ thuật cố định vùng thát dương 114 Hình.23.3 Thiết kế của phương pháp neo cố định cân 3.Điểm vào Giả sử rằng hình bán nguyệt nằm từ khoảng hai ngón tay từ điểm giao nhau của (e) và (f) là (h), sẽ thuận tiện để đặt điểm vào tại đó. Nếu bạn tạo một điểm vào cao hơn mức này, rất khó để đặt cannula vì bê mặt cong của hộp sọ. Nếu thấp hơn mức này, bạn có thế gây tổn thương cho nhánh trước của STA (động mạch thái dương nông. Xem hình 23.4) dẫn đến chảy máu ồ ạt. 6 Tóm lại Lưu ý khi xem xét Thiết kế 1. Phòng ngừa mắt xếch và tổn thương tĩnh mạch đỉnh. Nếu sợi chỉ ở trong cùng ở gần góc mắt ngoài, thì góc mắt ngoài có thế nâng sau khi thực hiện kỹ thuật. Trong một số trường hợp với bệnh nhân trẻ tuổi, họ muốn nâng góc mắt ngoài, nhưng bệnh nhân ở độ tuổi từ trùng niên đến lớn tuổi thường côi việc nâng góc mắt ngoài là không tự nhiên. . Do đó, cần phải giái thích là góc
mắt ngoài sẽ nâng lên, và nếu điều đó là không mong muốn, việc thực hiện thiết kế đường đi của chỉ không nên quá gần với góc mắt ngoài. Đó là khuyến khích để khoảng cách ít nhất hai ngón tay từ góc mắt ngoài (mũi tên trong hình 23.5). Khi thiết kế như trên, nó sẽ không nằm đè lên tĩnh mạch đỉnh). 2. Ngăn ngừa làm các nếp nhăn dưới mắt nặng thêm Với sự nâng lên của góc mắt ngoài, khi kéo da bên dưới mắt, các nếp nhăn dưới mắt có thể xuất hiện sâu hơn. Để có thế ngăn chặn điều này ở một mức độ nhất định bằng cách thiết kế các sợi chỉ đi qua dưới góc mắt ngoài khoảng hai ngón tay. Trong quá trình thiết kế, bằng cách kéo đa thực sự với các ngón tay, kiểm tra xem các nếp nhăn dưới mắt có trở nên sâu hơn cùng với liệu góc mắt ngoài có nâng lên hay không. 3. Phải ngăn ngừa lõm má 4. Lưu ý khi thực hiện tại vùng thường xuyên có lún da Khi điểm ra của sợi chỉ phải ở trong, tốt nhất là điểm ra nên ở trong các điểm giao nhau của chấm màu xanh (đường giới hạn) như trong hình 23.6 3 và 4. Nếu điểm ra là ở trong đi qua điểm giao nhau, hiệu ứng nâng điều trị chảy xệ miệng có thể trở nên tốt 23 Kỹ thuật cố định vùng thái đương: 115 tốt hơn, nhưng do dễ xuất hiện của lúm da, mức độ hài lòng của bệnh nhân có nhiều khả năng giảm đi. 5. Điểm STA phải thận trọng -1 Khi thiết kế đường dẫn của sợi chỉ ngoài cùng, không thiết kế trong khoảng giữa vành tai và cách 1 ngón tay nới bên dưới có mạch đập STA mạnh nhất. Khu- yến khích để thiết kế cách STA ít nhất 1,5 -2 ngón tay về phía vành tai (mũi tên của hình 23.5). Nếu khoảng cách gần hơn mức này thì khả năng tổn thương STA cao hơn, và cũng có thể có yêu cầu của " có nếp nhăn vùng trước tai" sau khi làm thủ thuật (bệnh nhân có da lỏng lẻo). 6. Điểm STA phải thận trọng với -2 Điểm vào phải nắm trong phạm vi (h). Trong một số trường hợp, nhánh trước của STA hoặc nhánh sau có thế chạy trong phạm vi đó. Trước khi bạn thực hiện đặt chỉ vào, bạn phải kiếm tra xem có cảm thấy nhịp đập không. BINESCCON
Tốm lại Chuẩn bị vùng chân tóc và trải săng. 1. Chuẩn bị vùng chân tóc Dùng kéo hoặc dao cắt một ít tóc ở vùng này. Khi chuẩn bị đường chân tóc, tất cả tóc ở vùng đối diện với hướng đi của chỉ cũng như hướng ngược lại phải chuẩn bị kỹ. Chuẩn bị cắt tóc ở mức tối thiếu là cần thiết để dễ dàng chăm sóc sau mỗ. khi sợi neo cố định ở vùng thái dương thế xảy ra chảy máu bất ngờ nghiêm trọng trong một số trường hợp. Trong trường hợp như vậy, chúng ta phải thay đổi vị trí neo cố định ở vị trí khác. Xem xét điều này, nên chuẩn bị đường chân tóc đủ để cho phép neo cố định hai 2 chỗ. 23 Kỹ thuật cố định vùng thái đương 116 2. Khắc phục (Hình 23.7) Chuẩn bị xung quanh đường chân tóc bằng cách sử dụng Fixomer; Tegaderm(®), kẹp tóc, dây cao su, 3M, v.v ... Nếu các quy trình được hình thành hoàn toàn mà không có bước này, nó sẽ gây trở ngại cho việc đặt chỉ. Hơn nữa, nếu tóc dính vào điểm vào, nó có thế gây viêm nang lông. Do đó, nên làm sach và chuẩn bị vg chn tc kỹ trước khi làm thủ thuật. 3. Vô trùng Để ngăn các chất lạ-bấn xâm nhập vào cannula trong quá trình đặt chỉ, các vùng chạm vào cannula hoặc tất cả các vùng có thể chạm vào cannula, bao gồm cá tóc, phải được vô trùng nghiêm ngặt. CHỈ SINH HỌC 088 616 7971 D-n tesecon
23 Kỹ thuật cố định vũng thái dượng 117 Hình.23.4 Cẩn thận mạch máu trong khi thiết kế phương pháp neo cố định vào cân - STA (động mạch thái dương nông) Hình.23.5 Cần thận trọng khi thiết kế phương pháp neo cố định vào cân - Mắt xếch HOC
23: Kỹ thuật cố định vùng thái dương 118 Hình.23.6 Cần thận trọng khi thiết kế phương pháp neo cố định vào cận - ở vùng thường xuyên có lún da. - Limit line Hình 23,7 Chuẩn bị cho phương pháp neo cố định vào cần- trải săng và chuẩn bị đường chân tóc. (ạ) Dán miếng Tegaderm vô trùng. (b) Dụng cụ cần thiết để chuẩn bị vùng chân tóc 23.2 Phương pháp đặt chỉ 23.2.1 Thiết kế 23.2.2 Phương pháp gây tê 1. Gây tế các điểm vào và điểm ra bằng kim • Sử dụng lidocaine (1:100.000) trong đó có epinephrine để gây tê các điểm vào và điểm ra. Nếu điểm ra không được gây tê, có thể xảy ra bầm tím do chảy máu tại các mạch máu ở da.
2. Gây tê đường đi của chỉ 1, Tiêm dung dịch tumescent hoặc lidocaine pha loãng bằng cannula. • Gây tê đúng cách cho phép đặt- cannula trong quá trình nâng chỉ. Sử dụng rất cannula dài và mỏng có thể làm giảm đau, nhưng rất khó để duy trì đẩy đi ở độ sâu phù hợp và đễ dàng uốn cong trong quá trình tiêm; đề xuất độ đày phù hợp (đường kính 0,9->1,0 mm). 23 Kỹ thuật cố định vùng thái đượng 119 lượng nhỏ lidocaine vào đường đi của chỉ để gây tê. - Ưu điểm là ít xảy ra sưng sau thủ thuật, quy trình trở nên đơn giản và độ sâu của việc đặt chỉ có thể được nhận biết thông qua việc hỏi bệnh nhân có đau không. - Mặt khác, so với việc gây tê đường đặt chỉ bằng cannula, bệnh nhân có thể cảm thấy đau hơn và trở nên lo lắng hơn. • Thay cho cannula, cũng có một phương pháp tiêm thuốc gây tê 23.3 Điểm vào và neo cố định một cách thuận tiện vào các điểm 23.3.1 Dụng cụ cho điểm vào khác nhau của đường chỉ bằng 1. Awl cách sử dụng kim thường và lido- • Nên sử dụng awl hơn kim. caine nha khoa, nhưng nó có một • Ưu điểm số nhược điểm. 1. Nguy cơ chảy máu thấp (tù). - Vì gây tê không đạt kết quả như 2. Nếu lỗ được tạo ra nhỏ do lo ngại mong muốn, có thể yêu cầu gây tê chảy máu, ma sát gây khó khăn thêm trong quá trình đặt chỉ. trong việc tiến lên cannula. Bằng - Nếu kim được tiêm ở nhiều nơi, cách sử dụng awl, một lỗ có kích do chảy máu đám rối da, khả năng thước đủ có thể thực hiện kỹ thuật. bị bầm tím tăng lên. Kỹ thuật đặt cannula trở nên thuận 2. Gây tế tại chỗ bằng cách sử dụng tiện hơn. kim tiêm • Trong quy trình nâng chỉ chỉ dài, chỉ xuyên qua lớp mỡ dưới da. Tuy nhiên, vì lớp mỡ dưới đa không phải là nơi mà các giác quan đau được phát triển tốt, nói chung là đau tối thiểu khi luồn kim ở lớp mỡ dưới da ngoại trừ một số vùng cụ thể (chủ yếu là vùng xuyên qua mạch máu). 23.3.2 Dụng cụ neo cố định 1. Cây kim 2. Kim khâu vùng thái dương (Hình 23.8) • Ưu điểm so với kim 1. Khả năng chảy máu giảm đáng kể. 2. Khả năng xảy ra lún đa tại điểm vào ít hơn. E-RENESYCTOSE • Sử dụng cách này, đôi khi dùng kim tiêm thường tiêm thêm một
23.3.3 Độ sâu và hướng của điểm neo cố định Có nhiều ý kiến khác nhau như sau: • Cố định tại măng xương • Cố định tại cân thái dương sâu: về mặt lý thuyết • Cố định tại cân thái đương nông Mẹo! Trong một số trường hợp các mô SQ tại điểm neo cố định bị lỏng ra Trong quá trình kéo chí sau khi đặt, trong một số trường hợp, các mô SQ lỏng lẻo không thế gắn và giữ vào chỉ và chỉ bị kéo xuống từ điểm cố định. Ngay cả khi các mô SQ tương đối dày đặc, nếu bác sĩ kéo sợi chỉ quá mạnh, có thể xảy ra điều tương tự. Do đó, người trợ lý phải nhấn điểm neo cố định bằng ngón tay khi kéo chỉ • Cố định tại SQ sâu Một điểm vào có thể nằm trên đường thẳng của đỉnh thái dương (nghĩa là., Cao hơn so với vùng (h) trong Hình 23.3). Trong trường hợp như vậy, có những lợi thế cho việc giảm chảy máu có thể xảy ra trong quá trình neo cố định ở vùng thái dương và neo cố định vào các mô rắn hơn (màng xương). Tuy nhiên, khác với cấu trúc hộp sọ của người phùng Tây, nh trong nhiều 23 Kỹ thuật cố định vùng thái đương 120 trường hợp, người châu Á có hộp sọ hình tam giác (không phải là lượng giác, nhưng hộp sọ phát triển to hơn kích thước của khuôn mặt), thật khó để đặt chỉ dọc theo đường cong ở độ sâu nhất định. Mẹo! Hướng neo cổ định Dựa trên Michael A. Carron và cộng sự, khi thực hiện neo cố định ở vùng cần của cơ thái dương, người ta đã phát hiện ra rằng có lực kháng lại khi kéo mạnh hơn trong phương pháp đỉnh ngang so với phương pháp đính dọc (1.9 so với 5.01, lực xé kg/cm). Tóm lại Chảy máu trong khi neo cố định: Chỉ dài 1. Chảy máu sau khi neo cố định bằng kim • Chảy máu có thể xuất hiện do tổn thương các mạch máu nhỏ từ đầu kim nhọn, sau khi đầu kim đâm xuyên hoặc chỉ xuyên qua, nhưng nếu nó dừng lại do gây áp lực, chỉ được đặt có thế tiếp tục làm tiếp. • Khi nghi ngờ đi vào mạch máu Trong một số trường hợp, hầu như không có cháy máu xáy ra sau khi xuyên kim qua, nhưng có thế xáy ra chảy máu nhiều nếu sợi
23 Kỹ thuật cố định vũng thái dương 121 TENTT_ Hình.23.8 Các dụng cụ cho phương pháp neo cố định cận ( kim khâu vòng). (a) Kim khâu vòng hình bán nguyệt. (b) Giữa hai điểm vào, đặt một bên trước (trong trường hợp này, có thể được thực hai điểm vào bằng cách sử dụng awl hoặc kim). (c) Sau khi neo cố định bằng cách dùng kim khâu vòng, thoát ra ở điểm vào đối diện (xuyên cho xuất hiện lố chỉ bên đối diện). (d) Đặt sợi chỉ vào lỗ chi. (e) Lấy kim khâu ra và khâu một lần nữa theo hướng ngược lại chỉ được gắn trên kim và sau đó neo cố định, dẫn đến sưng bầm ở vùng điểm vào. Điều này có thế là do khi đưa cây kim sắc nhọn xuy- ên qua giữa mạch máu dày. Vì nó sẽ ổn khi kim xuyên qua 1 phần mạch máu, các bác sĩ tin rằng nó sẽ sớm cầm máu. Nhưng, mặc dù ép một thời gian dài, nhưng vẫn chảy máu. Điều này là do tổn thươngmạch máu bị năng hơn -BAGSY.COI khi sợi chỉ xuyên qua mạch mái Trong trường hợp như vậy, nên cắt ở giữa sợi chỉ gai hai chiều và
loại bỏ nó. Sau đó, ép lại trong một khoảng thời gian đủ để cầm máu và thực hiện lại kỹ thuật với một điểm vào khác ở nơi khác. 2. Chảy máu sau khi neo cố định với kim khâu thái dương. Vì thân kim dày hơn đầu kim, thậm chí chấn thương xảy ra trong quá trình neo cố định và máu sẽ không thấy tại điểm vào ngay lúc đó. Sau khi đặt sợi chỉ và kéo chỉ đi qua, lúc này mới thấy chảy máu. Nếu chảy máu khó cầm, trong trường hợp như vậy, cần phải loại bỏ sợi chỉ được và dừng lại. → Các loại kim khác, kim khâu thái dương dày hơn, làm một đường hầm thông qua neo cố định. Sau khi neo cố định, thay vì ngay lập tức đặt sợi chỉ, thì hãy kim khâu thái dương ra và kiểm tra xem có chảy máu nào ở nơi nó đi qua không. Nếu không có chảy máu, đặt chỉ trở lại sau khi đặt kim khâu thái dương một lần nữa vào đường hầm được tạo sẵn. Nếu có chảy máu, sau khi cầm máu neo cố định ở một điểm khác. Nếu áp dụng các phương pháp như trên, các trường hợp loại bỏ chỉ do chảy máu sau khi neo cố định với kim khâu có thế được giảm đi. 3. Tổn thương mạch máu từ chỉ 23 Kỹ thuật cố định vùng thái dương 122 gai Trên đường đi của chỉ, có thể xảy ra tốn thương mạch máu từ chỉ gai. Tuy nhiên, trong trường hợp như vậy, chảy máu có thể cầm lại dễ dàng và có thể tiếp tục tiến hành đặt chỉ. Đính ngang Đính dọc 23.3.4 Tác dụng phụ: Phòng ngừa và điều trị đau đầu Nhức đầu có thể xảy ra khi bạn đính vào cân thái dương: 1. Không cần dùng giảm đau NSAID hoặc Tylenol như một thói quen, nhưng thống qua việc khai thác tiền sử trước khi làm thủ thuật, nếu có tiền sử bệnh đau đầu vừng thái dương, nên kể đơn thuốc này như một biện pháp phòng ngừa. 2. Nếu đau đầu xảy ra sau thủ thuật, trong một số trường hợp, thuốc giảm đau sẽ không giải quyết được, tiêm botulinum toxin A sẽ làm giảm những cơn đau đầu. Hiện tại, botulinum toxin đã được FDA chấp thuận là có tác dụng phòng ngừa chứng đau nửa đầu mãn tính
23 Kỹ thuật cổ định vùng thái dương 123 tái phát. Tuy nhiên, dựa trên phân 23.4 Cannula đầy đủ cho đặt tích tổng hợp của Jeffrey L. Jackson chỉ dài (17G) và cộng sự, được biết là không có Nó bao gồm 2 phần, kim tác dụng đối với chứng đau đầu do bên trong và vỏ bên ngoài, và có căng thẳng mãn tính. chiều dài khoảng 15->20 cm. Sinh lý bệnh của đau đầu xảy ra từ các kỹ thuật neo cố định thái dương không rõ ràng lắm. • Trong số các cơn đau đầu xảy ra sau thủ thuật neo cố định ở vùng thái dương, có một số trường hợp không đáp ứng với thuốc giảm đau nhưng đáp ứng hiệu quả với botu- linum toxin. Chúng tôi nghĩ rằng có một số yếu tố mạch máu liên quan đến đau đầu. Cần thiết có nghiên 23.4,1 Phương pháp sử dụng kim dẫn bên trong (tù) + Vỏ ngoài nhọn (Một cặp) (Hình 23.9b, 23.10 và 23.11) Nhược điểm • Cần nhiều lực khi đẩy nó vào da. • Vỏ bên ngoài nhọn sẽ đùng ít lực khi đi qua các mô. Đôi khi một nang tóc bị dính vào đầu vỏ. cứu sâu hơn và thiết lập các tiêu chuẩn điều trị rõ ràng cho những trường hợp này. 3. Để điều trị đau đầu cho bệnh nhân bị phì đại cơ thái dương, nếu tiêm botulinum toxin, có thể thụ 23.4.2 Phương pháp sử dụng kim dẫn bên trong (tù) + vỏ ngoài tù (một cặp) và kim đâm bên trong nhọn (Hình 23.9a, hình 23.12, hình 23,17) được hiệu quả giảm thêm hình đạng của đầu rộng. Mẹo! Lời khuyên cho việc tiến hành đặt Cannula Ưu điểm • Đặt sợi chỉ vào vỏ ngoài là thuận tiện vì đường vào của vỏ bên ngoài được cắt theo hình vắt. • Lời khuyên cho đặt cannula là ở độ sâu nhất định (nếu nó đi qua phần nông, khả năng bị sưng lên hoặc lúm da sau khi đặt chi). • Điểm vào, vùng cung xương gò má: Nếu không có nhiều mỡ ở giữa SMAS và da. Đặt cannula vào với cảm giác ngay dưới bên dưới lớp E-TIESYICOM da sẽ tốt hơn khi đặt sát SMAS, nó sẽ tiến hành trơn tru ở độ sâu thích hợp trong lớp dưới da.
23 Kỹ thuật cố định vùng thải dương 124 a b Hình. 23.9: Cắc dụng cụ cho phương pháp neo cố định cần - 2 bộ cannula. (a) 2 kim + 1 vỏ. (b) 1 kim + 1 vỏ a Kim dẫn bên trong (tù) + Vỏ ngoài (nhọn b Kim dẫn bên trong (tủ) Vỏ ngoài (nhọn) d Kim dẫn bên trong (tú) Kim dẫn bên trong (tù) + Vó ngoài (nhọn) Vó ngoài (nhọn) Hình. 23.10 Các dụng cụ cho phương pháp neo cố định cân - phương pháp một kim + một vỏ. (a) Kim dẫn bên trong (tù) kết hợp với vỏ bên ngoài (nhọn). (b) Kim dẫn bên trong (tù) lấy ra khỏi vỏ ngoài (nhọn). (c) (Phóng đại phần cuối của vỏ bên ngoài theo mũi tên) Vì kim dẫn dài hơn đầu vát của vỏ, khi nó kết hợp với nhau, tổn hại trong các mô sẽ giảm đi. Đôi khi, các mô bị cắt ở cuối đầu vỏ. (d) (Độ phóng đại của phần cuối của b) Vì đầu vắt ở phần cuối của vỏ có hướng ngược lại với tay cầm, nó rất nhọn. Nó đi vào da tại điểm ra bằng cách dùng vỏ tách ra khỏi kim đẫn
23.5 Cắt và kết thúc Cắt chỉ không nên làm ngay sau khi đặt chỉ nhưng sau khi kéo hết phần thêm của kỹ thuật. 23.5.1 Kết thúc (Kéo) Một tay giữ cả hai đầu của sợi chỉ ở điểm ra và cố định trên đa tại sợi chỉ gai sau khi đi chuyển đa theo hướng từ vị trí ban đầu đến điểm vào bằng tay còn lại với cảm giác răng các gai chi đã dinh trong da (có nghĩa là, trong khi sợi chỉ vẫn ở vị trí ban đầu, đẩy và nâng đa a 23 Kỹ thuật cố định vùng thái dương: 125 về phía điểm vào). Lặp lại quá trình này hai lần hoặc ba lần như vậy. Trong khi đang thực hiện kỹ thuật nay, người phụ sẽ dùng tay nhấn vào điểm neo cố định. Nếu bác sĩ kéo sợi chỉ quá mạnh mà không có điều này, có thể xảy ra rách điểm neo cố định (xem hình 23.11m cố định cân thái dương). 23.5.2 Cắt Trong khi giữ chí, dây da lên cao khoảng 4 -5 mm tại điểm ra và cắt chỉ bằng kéo ở tay còn lại. b Hình. 23.11 (tiếp tục) E BASSWICOM
23 Kỹ thuật cố định vùng thải dương 126 d Hình: 23.11 Cố định thái dương (dài 41 cm) - Dạng U. (a) Để đặt sợi chỉ dài, trước tiên, sử dụng kim dài để thực hiện neo cố định trong vùng thái dương. (b) Đặt chỉ vào lỗ ở đầu kim. (c) Sử dụng giá đỡ kim, kéo toàn bộ kim ra khỏi điểm vào ở phía bên kia: (d) Khi toàn bộ kim đi qua, tách sợi ra khỏi kim. (e) Kéo sao cho mỗi nửa của sợi chỉ treo ở hai điểm vào trong hình dạng U. (f) Đặt cannula dài tại điểm vào đầu tiền (Hình 23.12a kim dẫn đầu tù + vỏ) và đi qua lớp dưới da. (g) Xâm nhập và luồn về phía điểm ra (đầu tiên tách kim dẫn đầu tù ra khỏi vỏ và để đầu vỏ vát nhóm đâm ra đa Hình 23.12a. Sau đó, sử dụng tay kia, lấy kẹp, hỗ trợ điểm ra và đi xuyên qua da bằng lực ở của tay) (xem hình 23.17g-h). (h) Nếu kim đâm được tách ra khỏi vỏ, chỉ có vỏ ở giữa điểm vào và điểm ra. (i) Đặt chỉ qua vỏ từ điệm vào đến điểm ra. (i) Kéo và tháo vỏ khỏi phía bên kia. (k) Sau khi loại bỏ vỏ, chỉ còn sợi chỉ còn lại bên đưới đa. (I) Nếu nửa còn lại của chỉ được đặt bằng phương pháp tương tự, sợi chỉ dài sẽ bị treo trong hình dạng U. (m) Trong khi nhẹ nhàng nâng da lên bằng tay kia, cố định các sợi gai trên da. (n) Cuối cùng, cắt chỉ (ấn đa lên trên bằng kéo vô trùng và cắt bằng một đến hai chỉ gai ra khỏi da), sau đó kéo nhẹ da bằng cách búng nhẹ ngón tay
23 Kỹ thuật cổ định vùng thái dương: 127 e f g E-BAGSY.CON Hình. 23.11 (tiếp tục)
23 Kỹ thuật cố định vùng thái dương 128 h Hình, 23.11 (tiếp tục)
23 Kỹ thuật cố định vùng thát dương 129 m E-BACS Hình. 23,11 (tiếp tục)
23 Kỹ thuật cố định vùng thái đương 130 n Ngạy sau khi cắt chỉ, có thể thấy lõm da tại vị trí cắt. Nó có thể giải quyết dễ dàng lõm da bằng cách kéo nhẹ da xuống dùng ngón tay cái hoặc ngón trỏ đè bớp tổ chức bên dưới tại điểm ra (xem hình 23.11n cố định thái dương). 23.5.3 Thay đổi vùng da xung quanh điểm vào (Lõm da) Sau khi hoàn thành kỹ thuật, bình thường, phần da xung quanh điểm vào sẽ gấp nhẹ lên một chút. 23.5.4 Nếp nhăn quanh mắt và (Biến dạng của da) Nếu da bị lỏng lẻo nghiêm trọng (từ trung niên đến cao tuổi), các nếp nhăn nhỏ có thể xuất hiện quanh mắt và vùng thái dương sau khi làm kỹ thuật (Hình 23.14). Điều này xảy ra theo hướng vuông góc với hướng của hướng chỉ nâng. Nói chung, nó biến mất trong vòng vài ngày sau đó do trọng lực. Do đó, không cần thiết phải đẩy da xuống để khôi phục lại hình dạng ban đầu. Điểm vào NH V SÔ TONN
23 Kỹ thuật cổ định vung thái đương Kim bên trong (nhọn) 131 Hình. 23.12 Dụng cụ cho phương pháp neo cố định vào cân - phương pháp hai kim + một vỏ, (a) Kim dẫn bên trong (tù) kết hợp với vỏ bên ngoài. (b) Kim dẫn bên trong (tù) tách ra từ vỏ bên ngoài: (c) (Phóng đại của phần tay cầm) Có một chỗ vát ở phần cuối của vỏ kết nối với tay cầm. (d) (Phóng đại của phần cuối của phía đối diện) kim dẫn được đặt kết hợp với vỏ, và tổn thương mô được giảm thiểu khi tiến hành đặt chỉ: Thực hiện xâm nhập ra da tại điểm ra, trong khi vỏ và kim bên trong được kết hợp lại với nhau a Й ĐELE Kim dẫn bên trong (tù) + Vỏ bên ngoài b Kim bên trong (nhọn) Kim bên trong (tủ) Vỏ bên ngoài d Kim bên trong (nhọn) Kim bên trong (tủ) Vỏ bên ngoài CHÍ SINH H Mẹo! Làm thế nào để phân biệt các kỹ thuật trong phạm vi bình thường và bất thường sau khi đặt sợi chỉ theo hình chữ U và kéo cả hai đầu của sợi chỉ: → Nguyên nhân (Hình 43.9; xem nguyên nhân và cách ngăn ngừa lúm da tại điểm vào). → Điều trị: Phải bóc tách bằng kéo hoặc dụng cụ khác. → Phòng ngừa: Hình thành một đường hầm bằng cách sử dụng • Nếu không có lún trêng da gần awl hoặc sử dụng kim khâu thải hai lỗ điểm vào, điều đó là bình dương thay vì kim. thường • Nếu da gần một hoặc hai điểm FASTNEOA! vào được lốm vào trong:
23 Kỹ thuật cố định vùng thải dương 132 Hình. 23.13 Một ví dụ về thiết kế sử dụng phương pháp neo cố định cân (một sợi chỉ cho mỗi bên) < Thiết kế> Nâng QT chỉ dài 41 cm x 1ea /mỗi bên Hình. 23.14 Vùng nơi nếp nhăn thấy rõ có thể xảy ra sau khi phương pháp neo cố định cân. Nếu phương pháp neo cố định cân được thực hiện trên một người già có làn da mỏng, nó có khả năng gậy ra nếp nhăn rõ ở vùng thái dương bên cạnh mắt. Thông thường nó mất đi trong 2 đến 3 ngày: SY.COM
Trước 23: Kỹ thuật cố định vùng thái đương Sau 133 Hình. 23.15 Hình ảnh trước và sau phương pháp neo cố định cần: nâng QT sợi chỉ dài (41 cm) x 2ea + Nâng 18 cm (Kỹ thuật hình chữ L) x Zea / mỗi bên
23 Kỹ thuật cố định vùng thái dương 134 a b C Hình. 23.17 Cố định thái dương (dài 41 cm) - Hình chữ U: mỗi bên đặt hai sợi chỉ bằng kim khâu thái đương. (a) Giữ kim khâu thái dương trông như hình bán nguyệt. (b) Trước tiên, đặt qua một điểm vào và thoát khỏi điểm vào khác một lần nữa sau khi neo cố định kim khâu thái dương trong khi xoay nó, nửa vòng. (c) Đặt từng chỉ vào hai lỗ ở cuối vòng (đối với dụng cụ có hai lỗ, thời gian kỹ thuật có thể được lưu bằng cách đặt hai chỉ cùng một lúc). (d) Tháo kim khâu thái dương khỏi phía bên kia một lần nữa trong khí quay vòng nó. (e) Tháo vòng
23 Kỹ thuật cố định vùng thái dương 135 và kéo chỉ theo hình dạng U sao cho mỗi nửa của chuỗi treo ở hai điểm vào. (f) Đặt một cannula dài vào đầu tiên tại điểm vào (Hình 23.12a kim dẫn đầu tù + vở), luồn chỉ ở cùng độ sâu trong lớp dưới đa và đi lên phía trước điểm ra. (g) Tách và tháo kim dẫn đầu tù ra khỏi vỏ. (h) Chỉ còn lại vỏ, Đặt kim đâm trong hình 23.12a vào vỏ. (i) Sử dụng tay kia, lấy kẹp, hỗ trợ điểm ra và chuẩn bị chọc kim đâm từ điểm ra với lực ở tay phải. () Nếu kim đẫm được tách ra khỏi vỏ, chỉ còn vỏ cannula bị treo ở giữa điểm vào và điểm ra. (k) Đặt chỉ vào một điểm vào của vỏ và khiến nó đi ra khỏi điểm ra. Quá trình sau đây giống hệt với j - n trong Hình 23.11 e Hình. 23.17 tiếp tục B-BAOST COX)
23 Kỹ thuật cố định vùng thái dương 136 E-BAGSY.COM Hình. 23.17 tiếp tục
23 Kỹ thuật cố định vũng thái dương 137 k JE-BACSY.COM Hình. 23.17 tiếp tục
Trước 23 Kỹ thuật cố định vùng thái đương Sau 138 a Trước Sau b ISENCSNEUNT Hình, 23,18 Cố định thái dương (dài 41 cm) - Hình chữ U: hai đường mỗi bên sử dụng kim khâu thái đương, (a) Nâng QT dài 41 cm x 4 e, (b) Nâng QT 41 cm * 4ea (nâng mặt), nầng QT 41cm x 2ea (nâng dưới cằm)
24: Phương pháp đặt chỉ gai 2 chiều Chỉ có kim (Silhouette Soft®) 139 Phương pháp đặt chỉ gai 2 chiều Chỉ có kim (Silhouette Soft®) 24 24.1 Cơ chế (Khái niệm) 24.1.2 Ưu điểm độc quyền của Chúng tôi đã giải thích các Silhouette Soft® loại chỉ gai hai chiều trong chương Thay vì chỉ gại, có những trước. Trong chương này, chúng hình nón, không cố định và có khả tôi giới thiệu các chỉ hai chiều với năng di chuyển trong không gian hình nón thay vì chỉ gai. Phương giữa các nút (khoảng 0,5 - 0,8 mm), pháp này thuận tiện cho việc thực do đó hầu như không tạo ra lõm da hiện kỹ thuật mà không cần cannu- từ việc treo sợi chỉ gai (Hình 24.1). la vì hai đầu của sợi chỉ được nối Đây là một cách nâng mới trong với kim. Loại chỉ này được gọi là một khái niệm về tái định vị mỡ. một chỉ với kim hai đầu, Silhouette Soft® là một đại diện. Chỉ Silhouette Soft® bao gồm thành phần axit poly-L- lactic (PLLA). Thành phần này phân hủy và hấp thụ trong cơ thể. Đây là một trong những chỉ tiêu. 24.1.1 Tác dụng của Silhouette Soft® 1. Các cục hình nón liên kết tốt với các mô dưới đa ngay sau khi đặt chỉ và phát huy tác dụng nâng ngay lập tức. 2. Thời gian trôi qua, col- lagen mới được hình thành xung quanh cục hình nón và sợi chỉ. Nó cung cấp thêm độ đăn hồi bằng cách hỗ trợ các mô mềm gần đó. Hình. 24.1 Một số nút thắt và hình nón tồn tại theo cả hai hướng (hai chiều). (Nguồn: Silhouette Soft® / SINCLAIR), pharma.com/silhouette-soft
