Phẫu Thuật Thẩm Mỹ Vùng Kín Phụ Nữ (Thieme) – Tập 1

13/10/2026 • by Bs CKI Phẫu thuật tạo hình, tái tạo và thẩm mỹ Trương Hoài Anh •

Tài liệu dịch từ nhà xuất bản Thieme danh tiếng, chuyên sâu về phẫu thuật thẩm mỹ phụ khoa. Hướng dẫn chi tiết giải phẫu, kỹ thuật thu gọn môi bé, tạo hình tầng sinh môn và các thủ thuật trẻ hóa âm đạo.


📂 Chuyên mục: Tài liệu thẩm mỹ, Phẫu thuật thẩm mỹ, Tạo hình khác

🏷️ Từ khóa: thẩm mỹ vùng kín, tạo hình môi bé, thu hẹp âm đạo, trẻ hóa phụ khoa

Trang: / 241
Trang 1 Trang 2 Trang 3
📖 Xem bản dịch / Nội dung văn bản

193
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Chúng tôi nghĩ rằng điện di có thể kích
hoạt bên ngoài các hydroelectrophores để
đưa các phân tử qua da thậm chí còn lớn
hơn so với những phân tử được sử dụng
trong các nghiên cứu thực nghiệm trên
chuột tại Đại học Florence, Ý. Trong nghiên
cứu này, các phân tử của collagen type 1
của bò nhuộm huỳnh quang với kích thước
0,8 | x đã được phân phối và theo dõi qua
da thành công.
Một nghiên cứu gần đây ở Philippines
cho thấy có giảm chỉ số melanin, cho thấy
da sáng lên đáng kể, điều này có thể là do
các thành phần làm trắng của các hợp chất
(vitamin C). Các nhà nghiên cứu đã sử dụng
một loại hợp chất có hoạt tính sinh học cao,
ổn định, dưới dạng vitamin C tan trong dầu
(BV-OSC) được biết là có tác dụng ức chế
hình thành hắc tố, ức chế hoạt động của ty­
rosinase và hoạt động như một chất chống
oxy hóa để bảo vệ da khỏi tổn thương DNA
và tổn thương tế bào do tia UV gây ra. Sự
xâm nhập của axit ascorbic bị hạn chế và
phụ thuộc vào liều lượng, tuy nhiên BV-OSC
có tỷ lệ thâm nhập cao hơn nhiều để tạo
ra hiệu ứng này. Việc điều trị cho thấy một
hiệu quả tích lũy; các phiên điều trị lặp đi
lặp lại trong khoảng thời gian 1 tuần trong
6 tuần làm giảm đáng kể mức độ melanin
và da sáng lên trông thấy.
Chúng tôi đã tiến hành một nghiên cứu
thí điểm tại trung tâm của mình, nhằm mục
đích chứng minh việc vận chuyển thành
công và hiệu quả mong đợi của hợp chất
điều trị tăng sắc tố (kem vitamin C). Chúng
tôi thực hiện một buổi mỗi tuần trong 5 tuần
và đánh giá lại sau vài tuần kết thúc trị liệu.
Thời gian điều trị khoảng 15 phút, tùy thuộc
vào kích thước của khu vực được điều trị
(Hình 13-3 đến 13-7). Chất này dường như
có tác dụng duy trì trong ít nhất 4 tuần. Một
lý do khiến các chất này vẫn tồn tại trong lớp
trung bì là chúng không dễ dàng đào thải ra
khỏi da, so với các chất trong các lớp của
biểu bì. Hiệu quả làm sáng sẽ bền vững khi
áp dụng phương pháp điều trị định kỳ. Điều
trị duy trì mỗi tháng một lần sẽ giúp duy trì
các hiệu quả thu được sau một chuỗi điều
trị từ 4 đến 6 tuần. Điện di qua da đã được
chấp nhận tốt vì tính thoải mái trong trị liệu
và hiệu quả trong việc làm sáng âm hộ và
hậu môn mà không cần sử dụng các hóa
chất mạnh như hydrogen peroxide. Các ng­
hiên cứu với sự kết hợp của các chất làm
sáng đang được tiến hành tại trung tâm
của chúng tôi.
Hình. 13-3 Thiết bị Collagenizer II sử dụng trong điện di qua da.

194
Chương 13
Thủ thuật bổ sung
Hình. 13-4 Điện di qua da có thể được sử dụng bên ngoài trên các mô môi âm hộ và bên
trong ống âm đạo. Nó có thể được thực hiện để làm sáng da và giảm sắc tố, như đã thấy
trên những hình ảnh này. Nó cũng có thể được sử dụng với các chất gây tê tại chỗ để cung
cấp tác dụng gây tê sâu trước khi tiến hành các phương pháp như tạo hình môi và tạo hình
âm đạo.
Hình. 13-5 A, Hình ảnh trước trị liệu. B, Bệnh nhân sau thực hiện 5 phiên điều trị điện di qua
da với BV-OSC.

195
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 13-6 A, Hình ảnh trước trị liệu. B, Bệnh nhân sau thực hiện 5 phiên điều trị điện di qua
da với BV-OSC.
Hình. 13-7 A, Hình ảnh trước trị liệu. B, Bệnh nhân sau 5 tuần điều trị điện di qua da với
BV-OSC và kojic acid.

196

197
e-bacsy.com
e-bacsy.com
e-bacsy.com
Phần 3
Thủ Thuật
Nâng Cao

198
Chương 14
Hướng phát triển và những tiến bộ trong tương lai

e-bacsy.com
Chương 14
Hướng phát triển và những
tiến bộ trong tương lai
Colin C.M. Moore

200
Chương 14
Hướng phát triển và những tiến bộ trong tương lai
Những điểm chính
• Điểm G nằm dưới niệu đạo của người
phụ nữ, khoảng giữa xương mu và cổ
tử cung và chịu trách nhiệm ‘kích hoạt’
trạng thái cực khoái.
• Giải phẫu chính xác của điểm G không
rõ ràng.
• Âm đạo lỏng lẻo có thể được điều trị
bằng phẫu thuật tạo hình âm đạo, bao
gồm việc nâng niêm mạc âm đạo để
thắt chặt các cơ treo, loại bỏ lớp niêm
mạc âm đạo thừa và cố định lại các cơ
vùng chậu.
• Teo âm đạo có thể được điều trị bằng
các liệu pháp estrogen tại chỗ, toàn
thân, RF và laser.
• Trẻ hóa âm đạo bằng laser là phương
pháp điều trị tạm thời, ít xâm lấn, có thể
thực hiện đơn độc hoặc sau các phẫu
thuật tạo hình âm đạo.
• Trẻ hóa âm đạo bằng sóng RF thúc
đẩy sự hình thành và tái tạo collagen,
và cũng là 1 phương pháp điều trị tạm
thời, tương tự như laser, nó đạt được
hiệu quả cao khi kết hợp cùng với phẫu
thuật tạo hình âm đạo.

Điểm G
Lịch sử
Hiếm khi trong y học hiện đại, và đặc
biệt là trong giới tính học và y học tình dục,
có quá nhiều phản ứng liên quan đến cực
khoái của phụ nữ nói chung và đến điểm G
nói riêng. Theo thần thoại, Tiresias, con trai
của một người chăn cừu và một tiên nữ, đã
bị nữ thần Hera trừng phạt vì đã đánh một
cặp rắn đang giao cấu và bị biến thành phụ
nữ. Sau đó, Tiresias bị lôi kéo vào một cuộc
tranh cãi giữa Zeus và Hera xem nam hay
nữ là người có khoái cảm hơn khi quan hệ
tình dục: người đàn ông, theo tuyên bố của
Hera, hay người phụ nữ, theo tuyên bố của
Zeus. Là một phụ nữ đã từng là đàn ông,
Tiresias trả lời rằng: “Nếu cực khoái tương
ứng với 10 phần, người đàn ông chỉ đang
cảm nhận được một.” Hera ngay lập tức
khiến Tiresias bị mù vì sự bất cần của anh
ta (hoặc cô ta) và vì tiết lộ bí mật về cực
khoái của phụ nữ. Huyền thoại này cho
thấy, vì bất cứ lý do gì, sự thật về tính dục
nữ phần lớn đã bị che giấu, kể cả từ thời cổ
đại.
Trong thế kỷ 20, văn hóa phương Tây
hiện đại đã hướng tới niềm tin rằng phụ nữ
không có khả năng đạt cực khoái mãnh liệt,
ngoại trừ bằng cách tác động trực tiếp lên
âm vật. Quan niệm này đã được củng cố bởi
công trình của Masters và Johnson, người
có nghiên cứu cho rằng âm vật của phụ nữ
là nguồn duy nhất của khoái cảm phụ nữ,
mặc dù nhiều phụ nữ nhận thấy rằng điều
này khác xa sự thật.
Quan niệm sai lầm này vẫn tồn tại cho
đến năm 1950, khi một bài báo của bác sĩ
phụ khoa người Đức Ernst Grafenberg thu
hút sự chú ý của ông về những phát hiện
về một khu vực kích thích khoái cảm trong
niệu đạo của phụ nữ, khoảng giữa xương
mu và cổ tử cung. Tiến sĩ. John Perry và
Beverly Whipple đã đặt tên khu vực này của
niệu đạo là Grafenberg spot hay G-spot.
Whipple — đồng tác giả của The G-Spot
và những khám phá khác về tình dục con
người — tuyên bố rằng điểm G bị rất nhiều
bác sĩ bỏ qua trong nửa đầu thế kỷ 19 vì
hai lý do. Đầu tiên, điểm G nằm trên thành
trước của âm đạo, đây là vùng không được
sờ nắn khi khám âm đạo. Khi thầy thuốc sờ
nắn vùng này ở bệnh nhân, bệnh nhân sẽ
có phản ứng. Thứ hai, các bác sĩ được đào
tạo để không gây ra kích thích này. Whipple
tuyên bố rằng tất cả các Bs phụ khoa sờ
nắn khu vực này theo hướng dẫn của cô ấy
và Tiến sĩ Perry đều thấy bệnh nhân bị kích
thích.

201
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Phân loại cực khoái
Phụ nữ có thể có hai loại cực khoái. Tuy
nhiên, chúng không hoàn toàn là ở vị trí “âm
vật” và “âm đạo” như một số tác giả đã báo
cáo. Đúng hơn, chúng nên được gọi là “kích
hoạt âm vật” so với “kích hoạt cuối cùng.”
Trong nghiên cứu của họ về cực khoái được
kích hoạt ở âm đạo so với cực khoái được
kích hoạt ở âm vật, Jannini và cộng sự đã
chỉ ra rằng cực khoái do kích thích âm vật
trực tiếp luôn mạnh mẽ, bùng nổ, kéo dài
ngắn, nông và khu trú hơn, chỉ giới hạn ở
vùng mu. Ngược lại, cực khoái được kích
hoạt qua âm đạo được mô tả là lan tỏa hơn,
toàn bộ cơ thể, tỏa ra nhiều hơn, thỏa mãn
hơn về mặt tâm lý và kéo dài hơn. Người ta
đã chứng minh thêm rằng phụ nữ đạt cả
hai loại cực khoái thậm chí còn sâu hơn,
nhiều hơn, cực khoái mạnh mẽ hơn do sự
kết hợp co ở cả hai khu vực cùng một lúc.
Cực khoái phổ biến nhất (đôi khi được
gọi là cực khoái do âm vật kích hoạt) cũng
liên quan đến âm đạo, bởi vì kích thích âm
vật tạo ra các cơn co thắt của cơ mu cụt hỗ
trợ sàn chậu, với cảm nhận là các cơn co
thắt âm đạo. Cực khoái do kích thích điểm
G cũng liên quan đến âm đạo nhưng gây
ra các cơn co thắt xung quanh tử cung, nơi
cao hơn sàn chậu vài inch, và cũng có thể
liên quan đến các cơ phần dưới của thành
bụng trước.
Giải phẫu điểm G
Các cấu trúc giải phẫu có thể gây ra cực
khoái được kích hoạt qua âm đạo, chưa
được mô tả đầy đủ và rõ ràng. Đây có lẽ là
kết quả của sự mơ hồ về giải phẫu tổng thể
của con người (Hình. 14-1). Sau khi xuất
bản cuốn sách Điểm G và những khám phá
khác về tình dục con người vào năm 1982,
nhiều nhà khoa học đã bắt đầu tìm kiếm
một cơ quan hoặc vị trí cụ thể trong thành
trước âm đạo có mật độ dây thần kinh cao
có thể giải thích sự gia tăng độ nhạy cảm
của khu vực này, được nhiều phụ nữ báo
cáo.
Gần đây, Gravina và cộng sự đã chứng
minh mối tương quan trực tiếp giữa độ dày
của khoang niệu đạo – âm đạo, hoặc điểm
G và cực khoái được kích hoạt ở âm đạo.
Zaviacic và cộng sự khẳng định rằng kho­
ang này chứa tuyến tiền liệt của phụ nữ.
Mặt khác, Crooks và Baur báo cáo rằng
điểm G bao gồm một hệ thống các tuyến
(tuyến Skene) và các ống dẫn bao quanh
niệu đạo. Tuyến tiền liệt của phụ nữ được
coi là một bộ phận không có chức năng.

202
Chương 14
Hướng phát triển và những tiến bộ trong tương lai
Hình. 14-1 Giải phẫu đại thể âm hộ (chú thích xem ở chương 1).
Zaviacic và Albin đã chứng minh rằng
tuyến tiền liệt có thể được coi là một cơ
quan ở cả nam và nữ, có kích thước, trọng
lượng và chức năng khác nhau, nhưng các
thông số định tính giống nhau ở cả hai giới
tính. Battaglia và cộng sự đã nghiên cứu
một nhóm phụ nữ bằng cách siêu âm và
kiểm tra Doppler màu. Khoang âm đạo -
niệu đạo và âm vật được quét trên siêu âm
độ phân giải cao bằng chế độ Doppler màu.
Gravina và cộng sự đã kiểm tra khoang
âm - niệu đạo dọc theo một đường kẻ giữa
viền cơ trơn, lớp niêm mạc-dưới niêm mạc
của thành niệu đạo, và đường viền của
thành âm đạo và lòng của nó. Sự tái tạo
không gian ba chiều của khoang âm - niệu
đạo cho thấy chúng giống như một tuyến
với các mạch nuôi nhỏ. Komisaruk và cộng
sự đã xác nhận sự hiện diện của một số cơ
quan khác nhau trong vùng cơ thể rất phức
tạp này. Họ nói rằng khu vực này có thể
bao gồm thành trước âm đạo, chính niệu
đạo, các tuyến Skene (bao gồm các tuyến
quanh niệu đạo, còn được gọi là tuyến tiền
liệt nữ), có lẽ là cả các tuyến khác trong khu
vực này (tuyến tiền đình và tuyến Bartholin),
cơ và mô liên kết bao quanh, và có thể là
phần đáy của âm vật. Gravina và cộng sự
đã chứng minh rằng những phụ nữ báo cáo
đạt cực khoái được kích hoạt qua đường
âm đạo có khoảng cách giữa niệu đạo và
niêm mạc âm đạo lớn hơn so với những phụ
nữ còn lại, do đó cho thấy một phức hợp
âm vật – âm đạo – niệu đạo (điểm G) lớn
hơn sẽ dễ bị kích hoạt hơn. Phát hiện này
đã được xác nhận bởi các nhà nghiên cứu
khác, những người phát hiện ra rằng cực
khoái được kích hoạt qua âm đạo không
chỉ có liên quan đến âm đạo dày hơn mà
còn với vách ngăn âm - niệu đạo dài hơn.
Ngoài vai trò quan trọng trong việc căng
cứng các thành phần cương (mạch máu)
của phức hợp âm vật – âm đạo – niệu đạo
khi kích thích tình dục, mô này nằm ở bề
mặt bên dưới lớp niêm mạc của âm đạo
trong một nghiên cứu khám nghiệm tử thi.
Dựa trên phát hiện giải phẫu này, làm đầy
âm đạo (như trong làm đầy điểm G), qua
đường âm đạo có khả năng không chính
xác. Những phát hiện này cho thấy chất

203
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
làm đầy nên được đặt gần niệu đạo hơn là
thành âm đạo.
Âm vật được chi phối chủ yếu bởi dây
thần kinh thẹn (xem Hình. 1-11), âm đạo
được chi phối bởi là dây thần kinh vùng
chậu, và cổ tử cung bởi dây thần kinh hạ vị,
vùng chậu và phế vị. Do đó, một số đường
dẫn thần kinh được kích hoạt trong quá
trình phức hợp âm vật – âm đạo – niệu đạo
được kích thích (các dây thần kinh vùng
chậu, hạ vị và phế vị), trong khi chỉ có dây
thần kinh thẹn bị kích thích trực tiếp trong
quá trình kích thích âm vật, điều này ít nhất
có thể giải thích rõ ràng sự khác biệt về cảm
giác giữa cực khoái được kích hoạt âm vật
và cực khoái được kích hoạt qua âm đạo.
Hình. 14-2 Điểm G được xem
là màu xanh tím, hình trái nho
nằm giữa màng đáy chậu mặt
lưng và cân mu cụt dưới, và
hoàn toàn giống tổ chức dạng
hang , tạo ra một góc 35 độ với
niệu đạo bên. Cấu trúc giống
hình sợi dây xuất hiện từ đuôi
và hòa vào mô bên cạnh. Cực
dưới cách iệm đạo 3 mm và
cực trên cách niệu đạo 15mm.
Điểm G trông hoàn toàn giống
như các mô liên kết sợi.
Trong một nghiên cứu gần đây, giải
phẫu tử thi tươi đông lạnh, Ostrzenski xác
định điểm G là một cấu trúc kéo dài nằm
trên màng đáy chậu ở một góc xiên 35 độ
với mặt lưng (nghĩa là, về phía âm đạo) với
niệu đạo. Cực trên cách niệu đạo 15mm
cực dưới cách 3mm, và toàn bộ cấu trúc
gần như là tổ chức sợi (Hình. 14-2).

Điều trị
Bệnh sử và khám lâm sàng
Tất cả phụ nữ đều có điểm G. Không
phải tất cả phụ nữ đều đạt cực khoái tại
điểm G (cliterourethrovaginal complex).
Nguyên nhân có thể là do âm vật nằm nông
và dễ bị kích thích, ngược lại điểm G bị che
khuất và khó kích thích hơn. Cả phụ nữ và
nam giới ban đầu có xu hướng tập trung
vào việc kích thích âm vật, đặc biệt là trong
quá trình thủ dâm; tuy nhiên, một số phụ
nữ phát hiện ra điểm G của họ sau khi dậy
thì và học cách kích thích nó. Những phụ
nữ này có nhiều khả năng đạt cực khoái
điểm G hơn những người chỉ tập trung vào
âm vật. Vì vậy, khi xem xét tiền sử của bệnh
nhân, việc xác định loại cực khoái mà bệnh
nhân có là điều cần thiết. Những bệnh nhân
không đạt cực khoái (điểm G) kích hoạt qua
đường âm đạo cần được dạy cách đạt được
những điều này, bởi vì chỉ làm đầy điểm G
sẽ không đảm bảo rằng bệnh nhân sẽ đạt
cực khoái điểm G (xem phần tự khám phá
điểm G).
Khám lâm sàng bao gồm khám tổng
quát thông thường và khám âm đạo (bao

204
Chương 14
Hướng phát triển và những tiến bộ trong tương lai
gồm xác định điểm G của bệnh nhân). Với
các ngón tay nhẹ nhàng đưa vào âm đạo 1
đoạn sâu khoảng 5 đến 6 cm và bên dưới
xương mu, áp lực lên thành trước âm đạo
dọc đường giữa, ở khoảng giữa xương mu
và cổ tử cung ban đầu sẽ gây buồn tiểu.
Sau khi đi tiểu và gây áp lực trở lại, bệnh
nhân sẽ đạt được cực khoái. Người khám
nên dừng lại ở điểm này, ghi lại độ sâu của
điểm G liên quan đến một mốc giải phẫu cố
định như lỗ niệu đạo, và tiếp tục thông báo
cho bệnh nhân. Độ sâu ghi lại của điểm G
sẽ hữu ích sau này trong quá trình làm đầy
điểm G.
Tự khám phá điểm G
Những bệnh nhân không kích hoạt âm
đạo phải được dạy cách kích thích điểm G
của họ. Họ nên đạt cực khoái do điểm G
trước khi tiến hành làm đầy điểm G. Điều
này sẽ giúp đảm bảo kết quả thu được như
mong muốn. Để làm điều này, bệnh nhân sẽ
được Bs hướng dẫn để tìm điểm G (với sự
có mặt của y tá). Bệnh nhân ngồi thẳng và
được hướng dẫn cách và vị trí để xác định
điểm G bằng ngón tay của mình. Điều này
có thể khó khăn đối với một số bệnh nhân.
Trong những trường hợp này, tôi lấy máy
rung tìm điểm G và xác định vị trí cho cô
ấy. Sau đó, cô ấy tự cầm máy rung và xác
định lại vị trí của điểm G trên thành trước
âm đạo của cô ấy. Nếu cô ấy đã mang theo
máy rung của riêng mình, chúng tôi sẽ sử
dụng nó và chúng tôi sẽ đánh dấu mép của
máy rung để hỗ trợ cô ấy tìm độ sâu chính
xác khi thực hiện việc này tại nhà. Hầu hết
bệnh nhân học kỹ thuật này một cách dễ
dàng, mặc dù một số cần tới vài buổi thực
hành. Tôi khuyên họ nên ngồi trước gương
ở nhà với phần đùi gấp lại hoàn toàn và hơi
gập vào hông để lộ phần lỗ âm đạo. Họ sẽ
tiến hành như trong phòng khám của tôi.
Tôi nghĩ rằng có một y tá đứng cùng (không
phải bạn bè hoặc thành viên gia đình) là rất
quan trọng. Tôi đeo găng tay và nhấn mạnh
càng nhiều càng tốt về mặt lâm sàng và
tâm lý học về tính nhạy cảm của việc khám
nghiệm này. Khoảng 35% phụ nữ không thể
đạt được cực khoái điểm G ngay cả ở mức
độ nhẹ. Tôi giới thiệu những bệnh nhân này
đến một nhà trị liệu tình dục, điều này hữu
ích trong nhiều trường hợp (khoảng 15%).
Một số mất khả năng theo dõi và một số
tiếp tục điều trị.
Những phụ nữ chưa tìm thấy
điểm G
Là một phần của việc khám sức khỏe, khi
bác sĩ đã xác định được điểm G, bệnh nhân
nên được chỉ ra vị trí của điểm G bằng cách
cho ngón tay của cô ấy vào dọc theo thành
trước âm đạo cho đến khi cô ấy cảm thấy
cùng một cảm giác tương tự như khi người
khám thực hiện trong khi khám. Bệnh nhân
nên được yêu cầu mua một cái gọi là máy
rung tìm điểm G, được thiết kế đặc biệt để
kích thích thành trước âm đạo để cô ấy có
thể tìm điểm G tại nhà. Bạn tình của bệnh
nhân cũng nên được dạy cách xác định vị
trí của điểm G bằng ngón tay để sau này có
thể ‘thực hành’ tốt hơn..
Những phụ nữ đã tìm thấy điểm
G
Huyết tương giàu tiểu cầu và các
phương pháp làm đầy điểm G khác chỉ
nên được thực hiện cho những phụ nữ đã
đạt cực khoái điểm G, tuy nhiên điều này
không thôi là không đủ. Những kỹ thuật
này sẽ chỉ nâng cao thời gian và cường độ
của cực khoái điểm G ở những phụ nữ này.
Theo kinh nghiệm của tôi, những phương
pháp này sẽ không gây ra cực khoái điểm
G ở những phụ nữ chưa từng đạt cực khoái
điểm G.

Huyết tương giàu tiểu cầu
Huyết tương giàu tiểu cầu là một liệu
pháp mới cho lĩnh vực này (xem CHƯƠNG
15). Kinh nghiệm về việc sử dụng nó còn

205
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
hạn chế, và không có bài báo nào được
bình duyệt về việc sử dụng nó. Tôi không có
kết luận nào về sản phẩm này dựa trên kinh
nghiệm hạn chế của bản thân. Trong một
số ít trường hợp mà tôi đã thực hiện, không
có trường hợp nào cải thiện cực khoái điểm
G và không trường hợp nào chuyển đổi từ
không đạt cực khoái điểm G thành có.

Làm đầy điểm G qua ngả âm
đạo và ngả niệu đạo
Việc làm đầy điểm G hoạt động trên cơ
sở đẩy điểm G ra phía trước, về phía lòng
âm đạo trên thành âm đạo sẽ đưa nó tiếp
xúc nhiều hơn với dương vật khi quan hệ
và tăng khả năng bệnh nhân có cực khoái
điểm G lâu hơn và mãnh liệt hơn. Các kỹ
thuật hiện tại để đưa hóa chất qua đường
âm đạo như collagen hoặc các chất làm
đầy ngắn hạn khác hoặc các chất làm đầy
dài hạn khác vào thành trước của âm đạo
đều không hiệu quả . Kỹ thuật G-Shot®,
được David Matlock mô tả, đưa hóa chất
vào phần tổ chức dưới âm đạo (nghĩa là,
giữa điểm G và niêm mạc âm đạo) hoặc
vào điểm G trong vách ngăn âm đạo - niệu
đạo.
Bởi vì phần lớn điểm G nằm gần thành
âm đạo hơn thành niệu đạo, nên việc đưa
hóa chất vào vị trí ngay dưới cơ của niệu
đạo ở khoảng giữa cơ và điểm G sẽ hợp lý
hơn (Hình 14- 3 và 14-4) để đẩy các cấu
trúc điểm G tiến về phía lòng âm đạo và tạo
điều kiện cho chúng dễ tiếp cận với dương
vật khi quan hệ.
Tôi đã thành công với quy trình tiêm
1,5 đến 2,5 ml Macroplastique® (Cogentix
Medical) qua niệu đạo bằng bộ tiêm dịch
nhầy Storz (xem Hình. 14-3). Macroplas­
tique được đặt ngay dưới cơ niệu đạo, phía
trên điểm G (đã được xác định trước đó)
để làm cho điểm G bị đẩy về phía âm đạo.
Ngoài ra, có thể sử dụng thiết bị Cấy ghép
Macroplastique, bản chất là 1 thủ thuật mù,
yêu cầu phải sờ nắn điểm G qua đường âm
đạo để đảm bảo rằng đầu của thiết bị nằm
trong niệu đạo ở vị trí chính xác (xem Hình
14- 4). Kim được đưa vào và hoàn tất quá
trình tiêm.
Macroplastique là silicone y tế được
phân tích nhiệt trọng lượng (TGA) - được
chấp thuận để tiêm quanh niệu đạo và
quanh tử cung để điều trị các bệnh lý tiết
niệu khác nhau. Nó là chất làm đầy vĩnh
viễn và không di chuyển hoặc mất khối
lượng. Tuy nhiên nếu đặt sai vị trí thì nó dễ
dàng bị đào thải. Ngược lại, axit hyaluronic
là chất làm đầy tạm thời, chỉ kéo dài từ 12
đến 18 tháng; nếu nó được kết hợp với Bo­
tox, nó có thể kéo dài từ 2 đến 2.5 năm. Sau
tiêm, chúng có thể được điều chỉnh bằng
cách tiêm hyaluronidase nhằm giảm thiếu
tác động làm đầy, nhưng việc loại bỏ 100%
sẽ khá mất thời gian. Dị ứng với axit hyal­
uronic đôi khi xảy ra, trong khi dị ứng với
silicone chưa bao giờ được báo cáo, theo
những gì tôi biết.

206
Chương 14
Hướng phát triển và những tiến bộ trong tương lai
Hình. 14-3 Tiêm qua đường âm đạo. Bộ Tiêm dịch nhầy Storz (Karl Storz GMBH & Co.) được
sử dụng cho bệnh nhân đã được gây mê nông trong phòng phẫu thuật. Tôi nghĩ đây là kỹ
thuật chính xác nhất, nhưng nó đòi hỏi người thực hiện phải có một số kỹ năng về dụng cụ
nội soi tiết niệu.
Hình. 14-4 Minh họa việc sử dụng Thiết bị Cấy ghép Macroplastique. Kỹ thuật này gần như
y hệt trong Hình. 14-3, đặc biệt khi thực hiện với bệnh nhân đã được gây mê nông. Một lợi
ích là nó có thể được sử dụng cho những bệnh nhân không sử dụng được các thuốc tiền mê
hoặc thuốc mê, vì kỹ thuật này có thể chỉ cần gây tê tại chỗ, và có thể thực hiện tại phòng
thủ thuật.

207
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Tôi đã sử dụng Macroplastique (silicon)
hoặc gel polyacrylamide (Aquamid, Contura)
cho thấy kết quả tốt như nhau.
Việc sử dụng các chất làm đầy tạm thời
có thể cải thiện hàm lượng collagen cục
bộ và kích thích tăng sinh collagen, tăng
lưu lượng máu nếu sử dụng axit hyaluronic
hoặc các sản phẩm Radiesse và / hoặc
huyết tương giàu tiểu cầu. Lưu lượng máu
cục bộ tăng lên có thể giúp giải thích cách
hoạt động của những mũi tiêm này ở một
số bệnh nhân.
Theo kinh nghiệm của tôi với 230 bệnh
nhân, một số chỉ có âm vật và một số có
cực khoái điểm G, kỹ thuật này (gel Mac­
roplastique hoặc polyacrylamide đưa qua
đường niệu đạo) đã tạo ra kết quả tuyệt vời
với việc cải thiện cực khoái kích hoạt ở âm
đạo về cường độ và tần suất. Tại bài viết
này, 99% phụ nữ trong nghiên cứu của tôi,
những người có cực khoái điểm G kém chất
lượng trước khi điều trị đã cải thiện cực
khoái điểm G ngay sau đó. Tổng số người có
cực khoái điểm G chất lượng tốt sau điều trị
là 189 (82%) và tổng số người có cực khoái
điểm G chất lượng thấp hơn đã chuyển đổi
thành cực khoái điểm G chất lượng tốt là
187, tương đương với 99 % bệnh nhân đạt
thành công sau điều trị. Trong số những
người không đạt cực khoái điểm G trước
khi điều trị, chỉ 65% có thể chuyển đổi với
phương pháp được mô tả trước đây (trong
phần phụ nữ không đạt cực khoái điểm G).
Tuy nhiên, 92,5% bệnh nhân của tôi trong
nhóm này cuối cùng đã đạt cực khoái điểm
G chất lượng tốt sau khi điều trị.
Sau khi đưa gel Macroplastique hoặc
polyacrylamide vào vách ngăn niệu đạo
- âm đạo bên dưới cơ niệu đạo, tạm thời
bệnh nhân sẽ có nguy cơ tắc nghẽn niệu
đạo. Do đó, tôi đặt một ống thông Foley
14 Fr vào bàng quang, vừa để tránh bí tiểu,
vừa để vật liệu được bơm vào lan ra xung
quanh niệu đạo và cho phép nó tạo thành
hình chữ U. Sonde tiểu vẫn giữ nguyên qua
đêm và được lấy ra vào sáng hôm sau.
Trong thời gian này, Macroplastique hoặc
gel polyacrylamide sẽ được định hình theo
tác động của ống thông tiểu (đẩy cấu trúc
điểm G về phía âm đạo) và phát triển một
nang (bao) bọc xung quanh vật liệu (ví dụ,
tương tự như những gì xảy ra xung quanh
mô cấy ghép ngực); điều này góp phần vào
sự ổn định vị trí và tuổi thọ của nó. Bệnh
nhân được xuất viện sau khi họ có thể đi
tiểu bình thường.
Theo kinh nghiệm của tôi, việc đưa
khoảng 2,5 đến 5 ml gel Macroplastique
hoặc polyacrylamide ngay dưới thành cơ
niệu đạo ở đường giữa thường đạt được kết
quả tuyệt vời.
Biến chứng
Tỷ lệ tắc nghẽn đường tiết niệu trong
nghiên cứu loạt ca lâm sàng của tôi là 7
trên 10. Những bệnh nhân này được điều
trị bằng cách đặt một ống thông niệu đạo
trong 12 giờ và được xuất viện mà không
gặp bất kỳ vấn đề nào khác. Sau đó, tôi bắt
đầu đặt ống thông niệu đạo thường quy
ngay sau khi tiêm, giữ bệnh nhân ở bệnh
viện qua đêm và rút ống thông vào sáng
hôm sau. Sau khi bệnh nhân có thể đi tiểu
qua niệu đạo, họ được xuất viện (thường là
vào cuối buổi sáng hôm đó).
Tạo hình âm đạo
Sau khi sinh con, mãn kinh và quá trình
lão hóa, phụ nữ có thể bị kéo căng cơ sàn
chậu và dây chằng vùng chậu và những
thay đổi về da có thể làm thay đổi hình
dạng và chức năng của âm đạo bên trong
và bên ngoài. Những thay đổi này đã được
giải quyết bằng các loại kem bôi tại chỗ
chứa hormone, chất bôi trơn và phẫu thuật.
Chúng cũng có thể được điều trị bằng phẫu
thuật tạo hình âm đạo (xem CHƯƠNG 11),
bao gồm việc thắt chặt các cơ vòng của âm
đạo thông qua việc nâng niêm mạc, loại bỏ
lớp niêm mạc âm đạo dư thừa và gắn lại

208
Chương 14
Hướng phát triển và những tiến bộ trong tương lai
các cơ đã được thắt chặt.
Trước thời kỳ cao trào, âm đạo được cấu
tạo bởi các lớp tế bào khỏe mạnh dày, và
các estrogen khuyến khích sự tăng trưởng
và phát triển của các tế bào này. Kết quả là,
biểu mô âm đạo vẫn có nhiều lớp, và các
bức tường của nó dẻo dai và đàn hồi.
Sự giảm dần các estrogen lưu hành xảy
ra sau khi ngừng chức năng buồng trứng
trong thời kỳ mãn kinh gây ra những thay
đổi về mô và chuyển hóa, nổi bật nhất là
ở đường sinh dục vì nó có độ nhạy cao với
sự thay đổi nồng độ hormone sinh dục. Teo
âm đạo là 1 tình trạng tiến triển được coi là
sự xâm thực của các mô và màng nhầy âm
hộ âm đạo do sự sụt giảm nồng độ estro­
gen ở thời kỳ mãn kinh.
Các triệu chứng điển hình của teo âm
hộ, phản ánh những thay đổi về hình thái
- chức năng âm hộ, bao gồm khô âm đạo,
ngứa, rát, kích ứng, khó tiểu và khó thở. Các
thành âm đạo có vẻ mỏng hơn và kém đàn
hồi hơn với ít nếp gấp hơn. Bề mặt âm đạo
có vẻ khô và thường chảy máu sau một
chấn thương nhỏ. Vùng âm hộ, đặc biệt là
âm vật, trở nên teo và dễ bị tổn thương hơn.
Một số lựa chọn điều trị có sẵn để điều
trị các triệu chứng teo âm hộ. Chúng bao
gồm RF (xem CHƯƠNG 16), huyết tương
giàu tiểu cầu (xem CHƯƠNG 15), chất làm
đầy axit hyaluronic, các sản phẩm không
chứa chất sinh nhiệt, liệu pháp đặt thuốc
âm đạo cho trường hợp có triệu chứng dai
dẳng và liệu pháp thay thế nội tiết tố toàn
thân. Chất bôi trơn đã được chứng minh là
làm giảm kích ứng âm đạo trong hoạt động
tình dục nhưng không mang lại giải pháp
lâu dài. Hạn chế chính của các phương
pháp này là sự tái phát của các triệu chứng
khi việc điều trị đã kết thúc. Hơn nữa, việc
điều trị thường chỉ có hiệu quả ở lớp bề
ngoài của thành âm đạo.
Gần đây, nhu cầu ngày càng tăng về
một lựa chọn điều trị an toàn, lâu dài, có
thể điều trị hiệu quả các lớp sâu của niêm
mạc âm đạo, ngoài biểu mô. Bằng cách áp
dụng các nguyên tắc của y học tái tạo và
chống lão hóa vào niêm mạc âm đạo, việc
sử dụng laser CO2 phân đoạn có thể được
mở rộng để điều trị cho bệnh nhân bị teo
âm hộ. Như được hiển thị ở các khu vực
khác của cơ thể, laser CO2 phân đoạn tạo
ra sự tái tạo tại chỗ của mô liên kết và sản
xuất collagen và sợi đàn hồi.
Trẻ hóa âm đạo bằng Laser
Dựa trên kết quả thu được trên da, Peri­
no và cộng sự đã áp dụng phương pháp
điều trị bằng laser CO2 phân đoạn được
thiết kế đặc biệt cho niêm mạc âm đạo. Họ
đã chỉ ra rằng laser CO2 phân đoạn nhiệt
áp là một lựa chọn an toàn, hiệu quả và khả
thi để điều trị các triệu chứng teo âm hộ ở
phụ nữ sau mãn kinh.
Vào năm 2011, Gaspar và cộng sự lần
đầu tiên đã chứng minh sự cải thiện đáng
kể về mô học trong các mẫu sinh thiết âm
đạo đã được điều trị bằng laser CO2 phân
đoạn, vi mô kết hợp với huyết tương giàu
tiểu cầu. Họ đã quan sát thấy những thay
đổi có lợi trong ba lớp của thành âm đạo
trái ngược với những thay đổi gây ra bởi es­
trogen hoặc các liệu pháp cục bộ khác chỉ
điều trị biểu mô.
Salvatore và cộng sự gần đây đã công
bố một nghiên cứu thử nghiệm về việc sử
dụng laser CO2 phân đoạn để điều trị teo
âm hộ ở phụ nữ sau mãn kinh. Kết quả cho
thấy sự cải thiện đáng kể trong chức năng
tình dục và sự hài lòng tổng thể đối với đời
sống tình dục. Sau 12 tuần theo dõi, khoảng
2/3 số bệnh nhân nghiên cứu có dấu hiệu
cải thiện. Khô âm đạo được cải thiện ở 66%
bệnh nhân, nóng rát âm đạo ở 64%, ngứa
âm đạo ở 67%, giao hợp đau ở 66% và khó
tiểu ở 54% bệnh nhân. Alinsod đã thực hiện
một nghiên cứu tương tự vào 12 tuần sau
ba lần điều trị bằng RF, đã cho thấy sự cải
thiện gần như 100% đối với tình trạng khô,
rát, ngứa và giao hợp đau.

209
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Trong một nghiên cứu vi mô và siêu cấu
trúc, Zerbinati và cộng sự đã đưa ra kết quả
ủng hộ mạnh mẽ giả thuyết rằng việc sản
xuất collagen mới và các thành phần cơ
bản trong mô liên kết, glycogen và các chất
nhầy có tính axit trong biểu mô có thể tái
cân bằng và phục hồi niêm mạc âm đạo
khỏi bị teo gây ra. do không có estrogen
buồng trứng, dẫn đến cải thiện đáng kể các
triệu chứng lâm sàng. Điều này đúng với
điều trị bằng laser và RF. Với RF, lưu lượng
máu cục bộ trong âm đạo tăng lên, dẫn đến
tăng dịch truyền âm đạo và cải thiện độ
nhạy. Trong nghiên cứu của Perino và cộng
sự, 28 91% bệnh nhân được điều trị bằng
laser CO2 tuyên bố rằng họ hài lòng hoặc
rất hài lòng với quy trình này, tương ứng với
sự cải thiện đáng kể về chất lượng cuộc
sống.
Khoảng thời gian của những thay đổi ở
âm đạo do ứng dụng laser gây ra đòi hỏi
phải làm rõ. Salvatore và cộng sự đã xác
nhận rằng tác động lên quá trình tái tạo col­
lagen, mà họ đã chứng minh sơ bộ trong
các mẫu mô âm đạo, tương tự như những
gì đã được quan sát thấy trong cơ thể ở các
vùng da khác. Hiện tại, Mitch Goldman, ở
San Diego, đang tiến hành một nghiên cứu
để hiểu rõ hơn về cách RF cải thiện những
thay đổi teo của âm hộ âm hộ. Từ những
nghiên cứu này, có vẻ như phương thức
điều trị tương đối mới này chủ yếu được
áp dụng để cải thiện các triệu chứng niêm
mạc âm đạo như ngứa, khô, rát và giao hợp
đau ở phụ nữ sau mãn kinh.
Phương thức điều trị này có thể có một
số vai trò ở phụ nữ tiền mãn kinh (xem
CHƯƠNG 16). Tuy nhiên, điều đó có vẻ khó
xảy ra, bởi vì phàn nàn chính của họ là mất
cảm giác xúc giác khi giao. Điều này phổ
biến nhất là do các cơ sàn chậu bị kéo căng
và giờ trở nên lỏng lẻo. Tại thời điểm viết bài
này, không có bằng chứng nào cho thấy kết
quả thắt chặt cơ âm đạo đáng kể từ điều trị
bằng laser CO2 phân đoạn. Điều này hoàn
toàn tương tự với những gì xảy ra trên khuôn
mặt, nơi tái tạo bề mặt bằng laser CO2 kiểu
cũ hoặc erbium tạo ra một làn da săn chắc
nhưng không ở đâu gần với những thay đổi
mà phẫu thuật căng da mặt có thể tạo ra.
RF và laser có tác dụng khác nhau trên các
mô. RF được biết là có tác dụng chữa lành
các cơ và mô cơ, và nó được sử dụng rộng
rãi trong các môn thể thao chuyên nghiệp
để giúp các vận động viên chữa lành các
mô và mô bị rách hoặc bị tổn thương nhanh
hơn. Các báo cáo giai thoại từ những bệnh
nhân được điều trị bằng RF đã ghi nhận
chức năng cơ phối hợp hiệu quả hơn, bởi vì
RF đưa các cơ căng ra gần nhau hơn, cho
phép cơ hoạt động như một đơn vị có tổ
chức. Bệnh nhân giải thích hành động phối
hợp này là sự co cơ mạnh hơn của họ, mặc
dù không có kiểm tra sức mạnh và chức
năng của cơ được thực hiện.
Một ưu điểm của phương pháp tạo hình
âm đạo bằng laser CO2 là tính chất xâm
lấn tối thiểu. Chỉ mất 15 phút và thường yêu
cầu ba lần điều trị cách nhau hàng tháng.
Bệnh nhân có thể trở lại làm việc muộn hơn
cùng ngày hoặc ngày hôm sau. Tuy nhiên,
bệnh nhân không nên sinh hoạt tình dục tối
đa 6 tuần sau mỗi đợt điều trị.
Tôi nghĩ rằng cuối cùng những phụ nữ
tiền mãn kinh với đầy đủ niêm mạc âm đạo,
cơ sàn chậu lỏng lẻo và tình trạng khô hạn
có thể được hưởng lợi tốt từ sự kết hợp của
phẫu thuật tạo hình thành sau âm đạo tiêu
chuẩn và trẻ hóa âm đạo bằng laser CO2
khoảng 6 tuần sau phẫu thuật tạo hình
âm đạo. Ngoài ra, bác sĩ phẫu thuật có thể
tiến hành phẫu thuật tạo hình âm đạo, tiếp
theo là điều trị RF sau phẫu thuật, vào lần
khám hậu phẫu sau 6 tuần và lần thứ hai
một tháng sau đó. Điều này cho phép sự
phát triển của độ pH bình thường và âm
đạo được giữ ẩm bình thường trong cùng
một khung thời gian chữa bệnh cần thiết
cho chính cuộc phẫu thuật.

210
Chương 14
Hướng phát triển và những tiến bộ trong tương lai
Trẻ hóa âm đạo bằng RF
Năm 2010 Millheiser và cộng sự đã báo
cáo về nghiên cứu thử nghiệm đầu tiên sử
dụng phương pháp điều trị RF không phẫu
thuật để cải thiện chủ quan độ se khít âm
đạo. Năm 2012, Sekiguchi và cộng sự, 34
tuổi từ Phòng khám Phụ nữ LUNA, ở Nhật
Bản, đã báo cáo về loạt thứ hai gồm 30 bệnh
nhân được điều trị bằng RF để phục hồi âm
đạo. Alinsod đã thực hiện một nghiên cứu
thí điểm theo cách tương tự với ThermiVa
với 23 bệnh nhân. Ông cũng thực hiện một
nghiên cứu chưa được công bố, được IRB
chấp thuận bao gồm hơn 60 bệnh nhân và
điều đó đã xác nhận kết quả nghiên cứu
của Millheiser, Sekiguchi và Alinsod.
Millheiser và Sekiguchi đã báo cáo về
những phụ nữ sinh ngả âm đạo và bị mất
cảm giác âm đạo. Phương thức RF chỉ được
áp dụng cho phần bên trong âm đạo và các
mô ở vùng quanh miệng và các phần bên
trong của môi âm hộ. Năng lượng RF được
chọn để điều trị cho những phụ nữ này, vì
nó có lịch sử sử dụng an toàn đáng kể để
điều trị không xâm lấn vùng da lỏng lẻo của
mặt và cổ và cho các nhịp điệu ở mô mỏng
manh của vùng quanh mắt, dựa trên tiền đề
của tu sửa nhiệt độ hơn là cắt bỏ. Nó dựa
trên khái niệm rằng năng lượng RF được
kiểm soát cẩn thận có thể được sử dụng
để làm nóng mô sâu hơn, dưới niêm mạc,
kết hợp với làm lạnh cryogen đồng thời để
ngăn ngừa tổn thương nhiệt bề mặt. Sự hình
thành collagen tăng lên sẽ góp phần vào cơ
chế săn chắc da theo thời gian, với tái tạo
collagen ở da như một quá trình phục hồi
sau khi tiếp xúc với năng lượng nhiệt RF.
Millheiser và cộng sự đã sử dụng âm
đạo cừu như một hệ thống mô hình động
vật và chỉ ra rằng những thay đổi theo thời
gian của quá trình tái tạo mô collagen trong
âm đạo cừu phản ánh một cơ chế có thể có
để giải thích nhận thức của con người về sự
gia tăng độ khít của âm đạo trong khoảng
thời gian từ 1 đến 6 tháng. sau khi điều
trị bằng RF. Họ báo cáo thêm rằng trong
khoảng thời gian 6 tháng sau khi điều trị RF,
điểm số chức năng tình dục được cải thiện
trong mẫu nghiên cứu về phụ nữ và mức độ
đau khổ cá nhân của họ giảm đáng kể, với
phiên bản Malay của Chỉ số chức năng tình
dục nữ cao hơn 15.
Sekiguchi và cộng sự đã nghiên cứu
một loạt 30 phụ nữ Nhật Bản trong thời kỳ
tiền mãn kinh có những phàn nàn chủ yếu
là “âm đạo trống rỗng” và mất cảm giác thể
chất / tình dục khi quan hệ qua đường âm
đạo. Một phương pháp điều trị RF duy nhất
được thực hiện trên mỗi đối tượng như một
liệu trình điều trị tại phòng khám mà không
cần dùng thuốc an thần hoặc giảm đau
trước đó. Tất cả 30 bệnh nhân đều báo cáo
sự cải thiện chủ quan về tính toàn vẹn của
âm đạo và tăng sự hài lòng trong tình dục.
Vào năm 2015, Alinsod đã báo cáo về
một nghiên cứu tiền cứu trên 23 bệnh nhân
từ 26 đến 58 tuổi bị hẹp âm hộ được điều
trị bằng RF. Sáu trong số 23 đối tượng đã
mất để theo dõi trước khi mỗi lần điều trị
thứ hai và thứ ba có thể được thực hiện. Họ
báo cáo rằng họ rất hài lòng với kết quả và
không cần điều trị thêm. Phần còn lại hoàn
thành lần điều trị thứ hai và thứ ba. Không
bị bỏng, không có mụn nước, hoặc các biến
chứng lớn xảy ra trong hoặc sau khi điều
trị, bệnh nhân mô tả là dễ chịu và rất thoải
mái. Bệnh nhân có thể tiếp tục mọi hoạt
động như bình thường, kể cả quan hệ tình
dục, ngay sau mỗi lần điều trị. Hơn nữa, tất
cả bệnh nhân mắc bất kỳ loại rối loạn cực
khoái nào, bao gồm rối loạn cực khoái âm
vật, đều báo cáo sự cải thiện đáng kể, ví
dụ, đạt được cực khoái mạnh hơn, nhiều và
/ hoặc nhanh hơn với sự phối hợp co thắt
âm đạo trong thời gian quan hệ. Trong một
cuộc trao đổi cá nhân, Alinsod đã thông
báo với tôi rằng tình trạng không thể lên
đỉnh vẫn tồn tại ở một số bệnh nhân, mặc
dù họ đã cải thiện độ nhạy cảm. Những
người đã từng phẫu thuật tái tạo với bóc
tách rộng rãi phía trước không đáp ứng tốt
với phương pháp điều trị RF để cải thiện độ

211
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
nhạy. Alinsod nghĩ rằng điều này có thể là
kết quả của việc mổ xẻ rộng rãi phần kho­
ang trước có thể làm gián đoạn các khu
vực điểm G — một giả thuyết mà tôi đồng ý,
đưa ra cấu trúc vi mô phức tạp của điểm G.
RF điều trị lỏng lẻo âm đạo sau khi sinh
qua đường âm đạo trong ba loạt ngắn này
cho thấy kết quả rất hứa hẹn. Các báo cáo
phần lớn mang tính chủ quan và cần phải
có sự đo lường kết quả khách quan hơn.
Tuy nhiên, những kết quả này dường như
đặt RF ở một vị trí tương tự với sự lỏng lẻo
ở âm hộ vì nó thích hợp với việc săn chắc
da ở mặt và các vùng quanh mắt. Cũng như
điều trị trong những lĩnh vực này, kết quả
tốt có thể sẽ phụ thuộc vào việc lựa chọn
bệnh nhân cẩn thận, và khi nó là phương
thức duy nhất được sử dụng, RF sẽ được
chứng minh là ứng dụng hạn chế. Dựa trên
thông tin hiện có, RF dường như không tạo
ra loại thay đổi được tạo ra bởi phẫu thuật
chỉnh sửa cơ hoành vùng chậu, bắt buộc
đối với những bệnh nhân có cơ vùng chậu
bị tổn thương do sinh nở. Tôi nghĩ rằng việc
áp dụng RF sau phẫu thuật sửa chữa sẽ
phù hợp hơn, mặc dù Alinsod đã chỉ ra rằng
việc thu nhỏ các mô bị sa bằng RF có thể
ngăn chặn nhu cầu phẫu thuật xâm lấn ở
những bệnh nhân được chọn. Do đó, ông
đề nghị RF trước khi phẫu thuật.

e-bacsy.com
Chương 15
Kỹ thuật O-Shot
Charles Runels

213
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Những điểm chính
• Điều trị rối loạn chức năng tình dục nữ
đòi hỏi các liệu pháp mới, tác động trực
tiếp đến cơ quan sinh dục nữ.
• Bằng việc tiêm huyết tương giàu tiểu
cầu (PRP), kỹ thuật O-Shot, đã mang
lại tiềm năng trị liệu hiệu quả cho các
trường hợp rối loạn chức năng tình dục
ở nữ, lichen xơ hóa và tiểu không tự
chủ.
• Bởi vì định nghĩa về “điểm G” của một
số tác giả chưa rõ ràng hoặc chỉ là cấu
phần chức năng hơn là 1 bộ phận giải
phẫu rõ ràng, và cũng bởi vì việc sử
dụng điểm G có thể gây nhầm lẫn khi
xác định 1 khu vực khác với những gì
chúng tôi dự định tiêm, nên chúng tôi
đề xuất tên “O-spot”, là vị trí xa trung
tâm nhất, nằm giữa niệu đạo và thành
trước âm đạo, để tiêm PRP.
• Việc điều trị rối loạn chức năng tình
dục nữ đã tiến bộ hơn nhiều một hướng
tiếp cận phân tích hệ thống sẽ được sử
dụng để giải thích sinh lý bệnh học cho
các hệ thống cơ quan khác (như hô hấp
và tiêu hóa). Do đó, thuật ngữ “hệ thống
cực khoái” đã được sử dụng như một
khái niệm mới để chỉ những vấn đề liên
quan đến trạng thái này.
• Khi các liệu pháp điều trị các vấn đề
tình dục dần hiểu quả hơn, các chuẩn
mực đạo đức xây dựng cho người có
thể quyết định khi nào là “tốt”, khi nào
là “đủ tốt” gần như là điều tất yếu.

Tiêm huyết tương giàu tiểu
cầu tự thân điều trị rối loạn
chức năng tình dục ở nữ giới
Khoảng 40% phụ nữ cảm thấy đau khổ vì
rối loạn chức năng tình dục (FSD), trong khi
chỉ 14% phụ nữ — trong suốt cuộc đời — sẽ
đến khám bác sĩ về các vấn đề liên quan tới
tình dục. Nguyên nhân chính dẫn đến việc
này có thể là do các bác sĩ né tránh cuộc
trò chuyện, nghĩ rằng có rất ít giải pháp cho
chuyện này; do đó tránh đi thì tốt hơn (!).
Vào cuối những năm 1980, các nhà ng­
hiên cứu đã khuyên các bác sĩ tiết niệu trở
thành “bác sĩ chuyên khoa [tâm lý] chính”
để điều trị rối loạn cương dương (ED), bởi
vì “hầu hết các trường hợp liệt dương mắc
phải” được cho là “do tâm lý”. Tuy nhiên
hiện nay, FDA đã chấp thuận thêm hơn 20
loại thuốc giúp điều trị ED, sau khi nghiên
cứu chứng minh rằng hầu hết các trường
hợp ED phát sinh không phải do nguyên
nhân tâm lý, mà thay vào đó là do rối loạn
thần kinh và nội tiết. Nhưng những hiệu quả
trong điều trị ED nghi ngờ do liên quan tới
các yếu tố mạch máu thần kinh đã đặt ra
câu hỏi, liệu đây có phải nguyên nhân?
Ngược lại, đối với phụ nữ, các liệu pháp
điều trị bằng thuốc nhóm A cho FSD hiện
chỉ bao gồm testosterone “ngắn hạn” và
một loại thuốc được FDA chấp thuận cho
FSD, flbanserin.
Không có loại thuốc nào được FDA chấp
thuận cho FSD nhắm trực tiếp vào cơ quan
sinh dục nữ. Flibanserin với cơ chế thay đổi
mức serotonin và dopamine, do đó không
ảnh hưởng trực tiếp đến cơ quan sinh dục,
xếp thuốc vào cùng nhóm với thuốc chống
trầm cảm. Hơn nữa, không có dạng tes­
tosterone nào dành cho phụ nữ hiện được
FDA chấp thuận. Bởi vì âm vật tương tự như
dương vật về mặt giải phẫu và sinh lý, và
do nam giới bị rối loạn chức năng tình dục
thứ phát sau bệnh lý dương vật (ví dụ, do
bệnh tự miễn, giảm tuần hoàn hoặc mất
cảm giác), nên các phương pháp điều trị
cho phụ nữ có thể giải quyết trực tiếp bệnh
lý của cơ quan sinh dục sẽ là hướng đi mới
trong tương lai.
Bởi vì các chất ức chế phosphodiester­
ase (PDEI) có thể điều trị cho nam giới bị rối
loạn chức năng tình dục, chiến lược tương

214
Chương 15
Kỹ thuật O-Shot
tự có vẻ hợp lý đối với phụ nữ. Tuy nhiên,
khi xem xét kỹ hơn những lợi ích mà PDEI
mang lại cho nam giới, việc sử dụng chúng
ở nữ có vẻ ít đem lại lợi ích. Mặc dù PDEI cải
thiện độ cứng của dương vật bằng cách thay
đổi huyết động học, nhưng chúng hầu như
không tác động vào mắt xích nào trong cơ
chế bệnh sinh. Sự thiếu hụt này đã giúp các
BS định hướng tới các liệu pháp điều chỉnh
các nguyên nhân chính của rối loạn cương
dương. Hơn nữa, việc ‘hình thành’ một thể
hang ‘cứng chắc’ thông qua việc làm tăng
các tumescence sẽ trực tiếp giải quyết vấn
đề cho nam giới (nhu cầu về dương vật đủ
cứng để quan hệ tình dục) nhưng tốt nhất
sẽ chỉ nên là lựa chọn thứ 2 cho rối loạn
chức năng tình dục nữ, bởi vì âm vật cứng
không giải quyết được rối loạn chức năng
tình dục cụ thể ở nữ giới. Cũng không phải
một thể hang ‘cứng chắc’ sẽ luôn giải quyết
được các rối loạn chức năng tình dục của
nam giới (vấn đề có thể là giảm ham muốn
tình dục, giảm cảm giác, đau khi giao hợp
hoặc giảm khả năng đạt cực khoái). Tuy
nhiên, mặc dù việc tác động vào các tạng
cương sẽ không trực tiếp giải quyết bất kỳ
rối loạn chức năng tình dục nữ cụ thể nào, ý
tưởng này đã cho thấy nhiều hứa hẹn trong
một số nghiên cứu, mặc dù chúng cho thấy
“sự gia tăng đáng kể các tác dụng phụ so
với giả dược.” Hơn nữa, mặc dù việc điều trị
FSD thường yêu cầu sử dụng các phương
thức tâm lý và nội tiết, việc mở rộng ý tưởng
đó - rằng các liệu pháp ảnh hưởng trực tiếp
đến bộ phận sinh dục nữ mang lại ít lợi ích -
dường như hạn chế và khó có thể xảy ra. Ví
dụ, một phụ nữ có thể không được hưởng
lợi ích từ một loại thuốc hướng đến não
nếu cô ấy bị sẹo do cắt khâu tầng sinh môn
hoặc do bệnh lichen xơ hóa, đau do căng
cơ sàn chậu, hoặc không thể đạt cực khoái
do bệnh tiểu đường với tổn thương mạch
thần kinh của âm vật. Do đó cần có thêm
các liệu pháp loại A (thuốc và thủ thuật)
dành cho phụ nữ hướng đến bệnh lý của cơ
quan sinh dục nữ.

Cực khoái: “Sâu” và “sâu”
hơn nữa
Một nhóm nhỏ những phụ nữ bị FSD
(1 trong số 20 người) cũng bị rối loạn cực
khoái nữ: khó đạt được hoặc hoàn toàn
không có khả năng đạt cực khoái. Điều trị
thành công chứng rối loạn cực khoái không
chỉ giúp cải thiện khoái cảm tình dục của
phụ nữ mà còn có thể cải thiện liên kết cảm
xúc, sức khỏe tâm thần của cô ấy, và các
mối quan hệ.
Mặc dù liệu pháp testosterone có thể
tạo điều kiện cho phụ nữ đạt cực khoái
(một phần bằng cách duy trì tính toàn
vẹn của mạng lưới sợi thần kinh âm đạo
và khối lượng cơ trong khi tăng cường lưu
lượng máu và niêm mạc sinh dục), những
phụ nữ không thể sử dụng testosterone
hoặc những người đã có mức hormone
bình thường thì chỉ có liệu pháp tâm lý là
phương pháp điều trị chính (loại A). Tất cả
các loại thuốc, bao gồm cả flbanserin và
testosterone, đều là off label — không được
FDA chấp thuận — để điều trị rối loạn cực
khoái ở nữ.
Thuốc cung cấp một số lựa chọn để
cải thiện cực khoái của phụ nữ; do đó các
kỹ thuật sẵn có được xem xét để chỉ định.
Gel và collagen hyaluronic acid (HA) đã
được tiêm vào điểm G để tăng cường cực
khoái ở phụ nữ bằng cách tạo thuận cho
việc tăng áp lực lên điểm G trong khi quan
hệ tình dục; nhưng những liệu pháp này
không được phát triển để điều trị rối loạn
chức năng tình dục (chỉ để cải thiện chức
năng bình thường) và không được biết là
có khả năng sửa chữa mô. Hơn nữa, bởi vì
bào mòn, tắc nghẽn đường tiểu và thuyên
tắc phổi là những nguy cơ ở phụ nữ điều trị
= HA để tăng nhạy cảm điểm G, ACOG đã
xuất bản một bài báo nghiêm cấm các bác
sĩ không nên áp dụng thủ thuật này.

215
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Tương tự như vậy, FDA đã phê duyệt
sử dụng các tinh thể canxi hydroxyapatite
(Coaptite) để tiêm gần niệu đạo để làm
giảm chứng tiểu không tự chủ do căng
thẳng, nhưng việc sử dụng như vậy có nguy
cơ hình thành u hạt dẫn đến bào mòn hoặc
tắc nghẽn, cần phẫu thuật chỉnh sửa ở
khoảng 1 trong số 40 phụ nữ. Mặc dù vẫn
được FDA chấp thuận cho chứng tiểu không
tự chủ, Coaptite không được chỉ định cũng
như không được đề xuất như một phương
pháp điều trị FSD.
Ý tưởng về việc tiêm hóa chất gần niệu
đạo để cải thiện chức năng tình dục hoặc để
chấm dứt chứng tiểu không tự chủ đã được
thảo luận trong hơn một thập kỷ. Thách
thức là tìm ra một loại hóa chất có hiệu quả
trong điều trị mà không có tác dụng phụ, và
cho tới nay thì vẫn chưa ai vượt qua thách
thức lớn này.
Một phương pháp điều trị mới và thú vị
là việc sử dụng PRP để tăng cường chức
năng tình dục của nữ giới. Ngược lại với
các vật liệu tổng hợp nêu trên, PRP đã
được chứng minh là không có tác dụng
phụ nghiêm trọng và có hiệu quả trong
nhiều nghiên cứu để điều trị vết thương
mô mềm và chấn thương khớp cũng như
phẫu thuật chỉnh hình và nha khoa và một
loạt các thủ thuật thẩm mỹ. Tế bào gốc đa
năng tiếp xúc với PRP sẽ kích hoạt và phát
triển thành mô mới - thần kinh, collagen và
mạch máu. Hơn nữa, các tài liệu trước tới
nay đã có nhiều bài báo chứng minh tính
an toàn của PRP, không có báo cáo về sự
hình thành u hạt, nhiễm trùng hoặc bất kỳ
tác dụng phụ nghiêm trọng nào khác khi sử
dụng. Do đó PRP đã được FDA phê duyệt
để sử dụng trong cơ thể. PRP là thậm chí
được sử dụng để điều trị sẹo và để phục hồi
các mô bị teo.
Vì PRP là dạng nước, nó dễ dàng được
đưa vào cơ thể qua một kim có lỗ nhỏ (để
bệnh nhân thoải mái chỉ với gây tê tại chỗ)
và được phân bố đều (giúp tránh được sự
cần thiết phải định vị tỉ mỉ vị trí kim khi tiêm
gel HA hoặc tinh thể canxi hydroxyapatite).
Một nghiên cứu thí điểm đã được thực
hiện để xác định tác dụng của việc tiêm
PRP đơn thuần, khu trú trong điều trị FSD,
quy trình O-Shot. Như được mô tả trong
CHƯƠNG này, quy trình sẽ được thực hiện
ở phòng thủ thuật, chỉ mất khoảng 15 phút.
Đầu tiên, một loại thuốc gây tê tại chỗ
được tiêm quanh lỗ âm đạo và âm vật. Máu
toàn phần sau đó được lấy từ cánh tay và xử
lý tại giường bệnh để chiết xuất PRP ngay
tại chỗ, bằng cách sử dụng một bộ dụng cụ
đã được FDA chấp thuận để chuẩn bị PRP
cho việc tiêm trở lại cơ thể. Bệnh nhân ở tư
thế sản khoa, dùng 4 ml PRP được hoạt hóa
bằng 0,2 ml canxi clorua 10% và được tiêm
vào điểm O - không gian giữa niệu đạo và
thành âm đạo, ở xa nhất, trong khu vực của
các tuyến quanh niệu đạo (Hình 15-1 và 15-
2). Một ml PRP đã hoạt hóa được tiêm vào
thể hang âm vật, gần quy đầu âm vật.

216
Chương 15
Kỹ thuật O-Shot
Hình. 15-1 Tiêm 4 ml PRP tại điểm O (vị trí tiêm 1). Chất lỏng lấp đầy phần tổ chức giữa niệu
đạo và âm đạo. Tiêm 1 ml vào phần thân của thể hang âm vật (vị trí tiêm 2). Siêu âm được
thực hiện ngay khi làm thủ thuật đã chứng minh chất lỏng đi vào tất cả các phần của âm
vật và “phủ” hoàn toàn các tuyến Skene. (xem chú thích giải phẫu ở chương 1)
Hình. 15-2 Vị trí trong âm đạo của đầu dò siêu âm tần số 18 MHz hình gậy khúc côn cầu cho
thấy echo của đường cong niệu đạo, với cơ thắt niệu đạo và 2 đường song song giữa niệu
đạo và âm đạo, ta xác định được điểm O (X). Hình ảnh siêu âm thu được trong và sau quy
trình O-Shot đã chứng minh khả năng khu vực được tiêm PRP đã được thủy tách.

217
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Trong một nghiên cứu về thủ thuật
O-Shot, sau 12 đến 16 tuần và chỉ tiêm một
lần, hai bài kiểm tra tiêu chuẩn đã được sử
dụng để đo lường tác động của thủ thuật:
Thang điểm đánh giá sự khó chịu khi quan
hệ tình dục ở nữ đã được sửa đổi (FSDS-R)
và Chỉ số chức năng tình dục nữ (FSFI) .
Bảng câu hỏi FSDS-R đo lường sự khó chịu
liên quan đến tình dục (điểm 11 trở lên cho
thấy có khó chịu) . Bảng câu hỏi FSFI đo
lường sự kích thích, ham muốn, đau đớn,
cực khoái, thỏa mãn và độ bôi trơn.
Trong cùng một nghiên cứu, 7 trong
số 10 (70%) phụ nữ tiến triển từ khó chịu
sang không còn khó chịu, với điểm số được
báo cáo làm giảm trung bình 10 điểm trên
FSDS-R, từ trung bình 17 xuống 7 (p = 0,04)
. Các câu trả lời trên bảng câu hỏi FSFI cũng
đã được đánh giá. Tám trong số 10 phụ nữ
cho thấy sự cải thiện có ý nghĩa thống kê
trong các lĩnh vực ham muốn, kích thích,
bôi trơn và cực khoái, với mức cải thiện
trung bình là 5,5. Sự hài lòng, mặc dù có
xu hướng tăng có ý nghĩa thống kê, lại thấy
rằng bệnh nhân ít hài lòng hơn, một phần
vì ham muốn tình dục của phụ nữ tăng lên
trong một số trường hợp vượt quá mức
mong muốn của đối tác, dẫn đến sự thất
vọng và do đó ít cải thiện sự hài lòng mặc
dù cải thiện trong các lĩnh vực khác.
Giải thích cho những cải thiện rõ rệt này
đã được chứng minh có thể là do đa yếu
tố, các nghiên cứu gần đây cũng ủng hộ.
Một nghiên cứu hình ảnh MRI đã chỉ ra rằng
những phụ nữ dễ dàng đạt được cực khoái
có nhiều khả năng có âm vật lớn hơn và/
hoặc âm vật nằm gần thành âm đạo hơn
hơn những phụ nữ bị rối loạn cực khoái. Vì
PRP đã được chứng minh là có khả năng
tác động lên mô khỏe mạnh của nhiều loại
tế bào, tác dụng của PRP trên thể hang âm
vật có thể là tăng cường cảm giác bằng
cách cải thiện sức khỏe và chức năng của
mô cho phép âm vật tiếp xúc với thành âm
đạo “hiệu quả hơn”. Mối quan hệ về giải
phẫu chức năng với việc tạo ra cực khoái
còn nhiều tranh cãi, và các biến thể của kỹ
thuật được đề xuất có thể chứng minh hiệu
quả hơn và giúp xác định rõ hơn các cơ chế
liên quan. Có lẽ lượng PRP lớn hơn được
tiêm vào âm vật sẽ có lợi nhiều hơn.
Trong một số trường hợp có giao hợp
đau, tiêm điểm kích hoạt sàn chậu là hữu
ích, hoặc cũng có thể tiêm nhiều lần vào
đường sẹo cắt tầng sinh môn kết hợp với kỹ
thuật đã mô tả.
Cải thiện chức năng tình dục ở phụ nữ có
liên quan đến việc tăng lưu lượng máu qua
âm vật. Bởi vì yếu tố tăng trưởng có nguồn
gốc từ PRP được gọi là yếu tố tăng trưởng
nội mô mạch máu (hoặc VEGF) được biết
là nguyên nhân gây tăng sinh mạch, nên
tác động thứ yếu của kỹ thuật này là để cải
thiện lưu lượng máu qua cả âm vật và kho­
ang quanh niệu đạo.
Tiêm vào điểm O có thể dẫn tới tăng
sinh và kích hoạt các tuyến quanh niệu đạo,
dẫn đến việc bắt đầu “xuất” với sự gia tăng
cực khoái ở một số phụ nữ sau thủ thuật.
Về phương diện thẩm mỹ, không có tế
bào gốc nào được sử dụng trong phương
pháp này mà chỉ có PRP. Một số nghiên
cứu kết hợp PRP với tế bào gốc mà không
phân biệt được loại nào trong số hai loại
hữu ích hơn. Mặc dù các liệu pháp tế bào
gốc có nhiều hứa hẹn, tế bào gốc trung mô
được coi là một thuốc theo FDA, tuy nhiên
để được sử dụng chúng thì cần yêu cầu
thêm một mức phí, thời gian và sự cảnh
giác nhất định. Ngoài ra, các tế bào gốc đa
năng nằm im trong mô gốc và chịu trách
nhiệm chữa lành vết thương bình thường
mà không cần chuyển tế bào gốc, bởi vì
PRP kích hoạt các tế bào gốc trung mô tại
chỗ và pericyte, đồng thời giải phóng các
cytokine, giúp hướng động các tế bào tái
sinh khác vào khu vực đó.
Kỹ thuật O-Shot có thể áp dụng trong
các trường hợp kgasc. Trong một nghiên
cứu gần đây chỉ sử dụng PRP (không có tế
bào gốc trung mô), phương pháp này đã
giúp làm giảm viêm (trên tiêu bản mô học)
và cải thiện triệu chứng có ý nghĩa thống

218
Chương 15
Kỹ thuật O-Shot
kê ở các bệnh nhân có lichen xơ hóa. Ưu
điểm của phương pháp O-Shot so với dùng
steroid tại chỗ đối với bệnh lý lichen xơ hóa
là chúng có thể điều trị được sẹo thứ phát
do bệnh lý này. PRP có thể tăng cường hệ
thống miễn dịch; do đó sử dụng nó để điều
trị bệnh lichen xơ hóa có thể làm giảm nguy
cơ ung thư xảy ra khi nó được điều trị bằng
steroid khi bệnh nhân có nhiễm cả HPV.
PRP có thể cải thiện dẫn truyền các dây
thần kinh cho cả đáp ứng đi tiểu và hoạt
động tình dục nếu tác động của PRP trong
âm đạo cũng tương tự như những tác động
của PRP trong các mô khác trong các ng­
hiên cứu trước đây. Vì vậy, quy trình này
hứa hẹn điều trị các tình trạng tiểu không
tự chủ.
Quy trình O-Shot cũng có thể cải thiện
kết quả khi kết hợp với RF hoặc liệu pháp la­
ser được áp dụng trên thành âm đạo giống
như cách PRP cải thiện kết quả và nhanh
chóng phục hồi sau khi điều trị bằng laser
trên khuôn mặt, như đã thấy trong các ng­
hiên cứu thẩm mỹ.
Nói chung, có các chống chỉ định đối
với thủ thuật, bao gồm các tình trạng cản
trở quá trình lành vết thương và có thể ảnh
hưởng tiêu cực đến kết quả: hút thuốc,
dùng corticosteroid liều cao và giảm tiểu
cầu đáng kể. Mang thai và rối loạn tâm lý là
chống chỉ định tương đối.
Liệu pháp chống kết tập tiểu cầu (dùng
lâu dài) được coi là một chống chỉ định
tương đối, nhưng các nghiên cứu đã cho
thấy kết quả khả quan ngay cả khi điều trị
PRP ở bệnh nhân đang dùng chống kết tập
tiểu cầu. Quy trình O-Shot không có chống
chỉ định tuyệt đối, vì nó sử dụng huyết tương
tự thân; không có báo cáo nào về tác dụng
phụ nghiêm trọng trong hơn 8000 bài báo
được xuất bản. Việc tiêm vào điểm O một
thể tích PRP lớn dẫn đến một trường hợp
tắc nghẽn dòng chảy, đã được giải quyết
mà không có di chứng. Bầm tím, tăng nhạy
cảm và khó tiểu nhẹ là tất cả những tác
dụng phụ được quan sát cho đến nay.
Hệ thống cực khoái nữ: Thời
khắc đã điểm
Một hệ thống (nói chung) bao gồm các
yếu tố tương tác tạo thành một tổng thể
phức tạp liên quan đến mục đích của nó.
Khi xem xét một liệu pháp cụ thể cho rối
loạn chức năng tình dục, cho dù đó là thuốc
nhắm vào trung khu ở não, liệu pháp tâm lý,
liệu pháp nội tiết tố hay liệu pháp điều trị tại
chỗ, đều có thể hữu ích khi áp dụng phân
tích hệ thống. Nếu hệ thống hô hấp, hệ tuần
hoàn và hệ thống thận có thể được hiểu và
nghiên cứu tốt hơn và bệnh nhân được điều
trị bằng cách sử dụng phân tích hệ thống,
thì bệnh nhân có thể được hưởng lợi từ quy
trình suy nghĩ tương tự áp dụng cho cực
khoái và kích thích ở phụ nữ.
Hệ thống sinh sản chia sẻ các thành
phần với hệ thống cực khoái, vậy tại sao lại
phân chia thành 2 hệ thống? Kích thích và
cực khoái mang lại khoái cảm và gắn kết
nhưng không phải lúc nào cũng dẫn đến
mang thai (mục đích của hệ thống sinh
sản) và có thể xảy ra mang thai mà không
có kích thích hoặc cực khoái (mục đích của
hệ thống cực khoái). Vì vậy, chúng tôi đề
xuất rằng việc xác định các thành phần cần
thiết cho khoái cảm và cực khoái tình dục,
cùng với việc lập bản đồ tương tác của các
thành phần này bằng cách sử dụng phân
tích hệ thống có thể giúp khắc phục những
thiếu sót trong suy nghĩ về các hệ thống
này. Ngay cả khi phân tích chức năng bình
thường, việc coi kích thích và cực khoái là
kết quả của hệ điều hành sẽ khuyến khích
các chiến lược hiệu quả hơn để tối ưu hóa
kết quả.
Cách đây không lâu, âm vật còn không
được minh họa trong Grey’s Anatomy, và
phân tích chi tiết về hormone cũng không
có; chức năng của các tuyến Skene không
được biết đến, và âm đạo được cho là chỉ
là một ống sinh đẻ và một bộ phận chứa
dương vật trong khi quan hệ; do đó FSD
xuất hiện với tỷ lệ khá cao nhưng lại không

219
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
được công nhận, và ý tưởng về một hệ
thống cực khoái là không thực tế. Nhưng
với sự hiểu biết sâu sắc hơn, đã có ý tưởng
về một hệ thống liên quan đến cực khoái. Ví
dụ, sử dụng phân tích hệ thống ngăn chặn
việc tập trung quá chi tiết vào 1 vấn đề nhỏ,
đã dẫn đến nỗ lực giảm chứng giao hợp
đau bằng liệu pháp tâm lý (khi một phương
pháp điều trị thay thế có thể giải quyết cơn
đau) hoặc để tăng ham muốn tình dục chỉ
với testosterone (đối với phụ nữ bị lạm dụng
và những người đang trong 1 mối quan hệ
“căng thẳng”). Phân tích hệ thống khuyến
khích bệnh nhân và bác sĩ từ nhiều chuyên
ngành xem xét toàn bộ các liệu pháp hiện
có và hợp tác chiến lược hơn trong việc tìm
kiếm sức khỏe và chữa bệnh.
Hệ thống cực khoái của phụ nữ bao
gồm ít nhất các thành phần sau: (1) nội tiết,
(2) thần kinh, (3) mạch máu, (4) giải phẫu /
cơ học, (5) dược lý, (6) cảm xúc và (7) mối
quan hệ.
Hệ thống cực khoái của phụ nữ cần
được các nhà nghiên cứu suy nghĩ nhiều
hơn để xác định các thành phần, cách các
thành phần tương tác với nhau và cách
những tương tác đó có thể được tối ưu hóa.
Ví dụ, phân tích hệ thống được áp dụng cho
các nghiên cứu giải phẫu gần đây đã đưa ra
thuật ngữ mới phức hợp âm vật – niệu đạo
– âm đạo, mô tả rõ ràng hơn về giải phẫu
chịu trách nhiệm về sự kích thích ở nữ giới
so với quan niệm cũ về điểm G.
Một ví dụ khác về tư duy hệ thống, việc
tập thể dục nhịp điệu của phụ nữ dùng
thuốc chống trầm cảm làm thay đổi dopa­
mine và serotonin, dẫn đến cải thiện chức
năng tình dục trong khoảng 1 giờ. Các vận
động viên được tập thể dục nhịp điệu đã
cho thấy lưu lượng máu âm vật cao hơn so
với những người không tập, giúpchức năng
tình dục và được báo cáo điểm cao hơn về
FSFI trong các vấn đề về kích thích và cực
khoái. Lập bản đồ về nhiều thay đổi trong
hệ thống cực khoái của phụ nữ có rèn luyện
thể chất tốt sẽ hữu ích để hiểu cách phân
tích hệ thống tạo điều kiện thuận lợi cho cả
việc lập kế hoạch các liệu pháp cụ thể và
nghiên cứu trong tương lai. Nó cũng giúp
hiểu cách quy trình O-Shot có thể phù hợp
với kế hoạch điều trị nào có trong cấu trúc
hệ thống này.
Phân tích hệ thống cho phép các bác sĩ
tối ưu hóa một hệ thống đang hoạt động
“bình thường”. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên
cứu đưa ra một câu hỏi quan trọng: Việc
giúp một phụ nữ có chức năng tình dục bình
thường đạt được chức năng tốt hơn có phải
là vi phạm đạo đức không? Hiện nay, việc
các bác sĩ cung cấp cho bệnh nhân những
hormone để tăng cường cơ bắp được coi
là điều bình thường. Tuy nhiên có mức độ
nào khiến chúng ta vi phạm đạo đức khi
muốn giúp phụ nữ khám phá nhiều khoái
cảm tình dục hơn không? Cụ thể, việc bác
sĩ kê đơn để tăng cường khoái cảm tình dục
chứ không chỉ để điều trị bệnh có phải là vi
phạm đạo đức? Nếu không, thì đâu là ranh
giới phân biệt bệnh tật với bình thường, và
ai sẽ là người vạch ra ranh giới đó: thầy
thuốc hay người phụ nữ?
Được xem xét từ góc độ hệ thống, O-Shot
không phải là một phương pháp chữa bệnh
ma thuật mà thay vào đó chỉ là một cách
thức nhằm thúc đẩy mô âm đạo khỏe mạnh
hơn, chức năng hơn — không hơn, không
kém. Mọi công cụ đã được chứng minh
khác vẫn được áp dụng. Khi nhiều liệu pháp
phát triển hơn, phân tích hệ thống và các
vấn đề đạo đức sẽ trở nên quan trọng hơn
đối với việc điều trị FSD.

e-bacsy.com
Chương 16
RF qua da có kiểm soát nhiệt
trong trẻ hóa âm đạo
Red Alinsod

221
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Những điểm chính
• RF có kiểm soát nhiệt giúp ‘thắt chặt’
các mô âm hộ ngay lập tức và duy trì
trong vòng vài tháng, có hiệu quá trong
các biện pháp thắt chặt âm hộ và âm
đạo không phẫu thuật.
• RF có kiểm soát nhiệt kích thích sự
hình thành các phần tử collagen mới và
tân sinh mạch, giúp cải thiện màu sắc
da vùng kín cũng như độ nhạy cảm.
• Thắt chặt các mô âm đạo làm giảm sự
lỏng lẻo của âm đạo, tiểu không tự chủ
do căng thẳng, bàng quang tăng hoạt
và các tình trạng sa bàng quang, trực
tràng mức độ nhẹ tới vừa.
• RF có kiểm soát nhiệt có thể cải thiện
lưu lượng máu âm đạo, giúp tái lập lại
độ ẩm khu vực này và cải thiện độ nhạy
cảm khi quan hệ.
• Rối loạn cực khoái có thể được hỗ trợ
điều trị bằng liệu pháp này.
Giữa các lần sinh nở — thường là sinh
nhiều con — và mức độ estrogen suy giảm
do mãn kinh, âm đạo trải qua nhiều thay
đổi dẫn đến một loạt các vấn đề, bắt đầu
với sự lỏng lẻo âm đạo với độ đàn hồi giảm
và viêm teo âm đạo (dẫn đến kích ứng mạn
tính và khó chịu), tiểu không tự chủ do căng
thẳng và các biểu hiện khác của rối loạn
chức năng tình dục. Bất kỳ hoặc tất cả
những điều này đều có thể có, và tuổi khởi
phát có thể khác nhau. Giải quyết những
điều kiện này là một vấn đề vì hai yếu tố.
Đầu tiên, phụ nữ thường gặp khó khăn khi
thảo luận những vấn đề này với bác sĩ chính
hoặc bác sĩ phụ khoa của họ. Cho đến gần
đây, những người làm công tác xã hội đã
được giao trọng trách thực hiện các cuộc
thảo luận thẳng thắn cũng như tư vấn về
các vấn đề liên quan đến tiền mãn kinh, vì
nếu không có những biện pháp kịp thời, hầu
hết phụ nữ đều chỉ biết cam chịu và coi đó
như 1 lẽ tự nhiên.
Thứ hai, trang bị của bác sĩ khá hạn chế,
chỉ giới hạn ở liệu pháp hormone, các bài
tập Kegel để tăng cường cơ sàn chậu, sử
dụng kem hoặc chất bôi trơn và các lựa
chọn phẫu thuật xâm lấn để điều trị dứt
điểm.
Các phương pháp dựa trên năng lượng
đã được áp dụng cho khu vực này theo cách
tương tự như trong y học thẩm mỹ, với mục
đích làm co lại tổ chức collagen, kích thích
tân tạo collagen và phục hồi ‘sự trẻ trung’
thông qua tác động nhiệt. Hiệu ứng nhiệt
này giúp kích thích sản sinh các nguyên
bào sợi và hình thành collagen. Về cơ bản,
khả năng cung cấp nhiều năng lượng hơn
sẽ gây ra ảnh hưởng sâu sắc hơn, ở một
khía cạnh nào đó. Năng lượng trực tiếp
không gây ra cảm giác đau ở thành âm đạo
như chúng đã làm ở da mặt, làm cho các
liệu pháp dựa trên năng lượng có thể đẩy
lên mức năng lượng cao hơn, và cho thấy
rằng âm đạo có thể là một vùng giải phẫu lý
tưởng để tái tạo bề mặt dựa trên tác động
nhiệt. Bất kể thuật ngữ nào được sử dụng
- trẻ hóa, tái tạo bề mặt, se khít hay điều trị
tình trạng lỏng lẻo - thì mục đích và phương
pháp cơ bản đều giống nhau.
Sự co lại của mô bằng cách sử dụng
năng lượng RF là một phương thức được
thiết lập trong y học thẩm mỹ. Nhiệt được
tạo ra ở gần điện cực thông qua trở kháng
khi năng lượng RF truyền qua mô, có thể
được tính toán bằng cách sử dụng một
phương trình tính đến độ dẫn điện cục bộ
và mức độ dòng điện được tạo ra gần điện
cực (bộ phát RF) . Do đó, mô hình sinh nhiệt
cụ thể này có thể dự đoán được và có thể
được kiểm soát bằng cách điều chỉnh công
suất cho chính điện cực. Việc làm nóng
mô trong điều trị đã được chứng minh là
nằm trong một phạm vi nhiệt độ được công
nhận (40 ° đến 45 ° C) để kích thích tối ưu
quá trình hình thành tế bào mới và tân tạo
tế bào đồng thời giảm thiểu tổn thương đối
với da và các cấu trúc mô lân cận; Do đó,
năng lượng RF phải được kiểm soát nhiệt
trong quá trình trị liệu để tối đa hóa việc
cung cấp năng lượng, nhưng ngăn ngừa

222
Chương 16
RF qua da có kiểm soát nhiệt trong trẻ hóa âm đạo
điều trị quá mức dẫn tới các biến chứng liên
quan đến nhiệt độ. Không giống như các
phương pháp dựa trên năng lượng đã được
chứng minh khác, RF hoàn toàn không xâm
lấn; do đó chức năng hàng rào bảo vệ da
được bảo toàn, giảm thiểu thời gian lành và
rủi ro cho bệnh nhân. Vì RF không sử dụng
năng lượng ánh sáng nên sắc tố da không
phải là yếu tố có thể tác động trong trị liệu
này. Năng lượng RF đặc biệt thích hợp cho
các mô ẩm tự nhiên và ngậm nước tốt như
mô của thành âm đạo và âm hộ.
Liệu pháp RF qua da có kiểm soát nhiệt
độ (TTCRF), tên thương hiệu ThermiVa, sử
dụng điện cực RF đơn cực và tấm trở lại
(để hoàn thành vòng khép kín), giữa đó cho
dòng điện chạy qua. Nguồn điện tới bộ phát
RF được điều chế tự động bằng nhiệt điện
trở và cặp nhiệt độ được tích hợp vào thiết
bị điều trị để theo dõi nhiệt độ tại chỗ của
mô trong thời gian thực. Do đó, các đích
nhiệt độ đều có thể đạt được một cách an
toàn nhanh chóng và duy trì trong thời gian
đủ để mô có thể đáp ứng với điều trị. Quản
lý nhiệt độ ở mô 1 cách thích hợp có tác
động tích cực đến sự thoải mái của bệnh
nhân trong quá trình điều trị; điều trị này cơ
bản không cần các biện pháp vô cảm.
Đối với tổ chức âm đạo, công nghệ
TTCRF sẽ dùng một đầu dò dài khoảng 20
cm và rộng 1,5 cm (bằng chiều rộng của
ngón tay người lớn) với một đường cong
hình chữ S nông về phía trung tâm, tương
tự như của ống nong Hegar (Hình 16 -1).
Đầu dò điều trị mỏng như này có ưu
điểm là giảm những chấn thương có thể
xảy ra khi đặt vào âm đạo do khô, nhạy cảm
và teo mô thành âm đạo. Bộ phát RF (có
kích thước bằng con tem bưu chính) nằm ở
một bên của đầu dò.
Trong thời gian điều trị, bệnh nhân nằm
thoải mái ở tư thế sản khoa. Đầu dò được
đưa vào âm đạo, với đầu phát RF hướng vào
vùng điều trị; bên ngoài, bộ phát RF được
áp trực tiếp vào các cấu trúc âm hộ. (Âm
hộ có thể được cạo lông mu.) Các khu vực
điều trị tiềm năng bao gồm các thành âm
đạo trái, phải, mặt lưng, mặt bụng và vùng
âm hộ nói chung. Sau đó, đầu dò được đưa
qua từng vùng điều trị liên tục cho đến khi
đạt được nhiệt độ mục tiêu và duy trì trong
3 đến 5 phút hoặc lâu hơn (dựa trên khả
năng chịu đựng của bệnh nhân).
Điều trị tập trung cho từng khu vực để
đảm bảo hiệu quả và an toàn, ví dụ, dọc
theo vùng cân mu – cổ tử cung để điều
trị chứng tiểu không tự chủ do căng thẳng
hoặc phía trên và xung quanh điểm G, mũ
âm vật và vùng âm vật để điều trị rối loạn
cực khoái. Không yêu cầu chuẩn bị hoặc
chăm sóc sau điều trị quá phức tạp; do
đó bệnh nhân có thể trở lại sinh hoạt bình
thường ngay sau khi điều trị và không cần
kiêng quan hệ tình dục.

223
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 16-1 A và B, Ví dụ về sử dụng TTCRF qua đường âm đạo và qua đường trực tràng. Đầu
dò nhỏ đi vào được trong âm đạo, cho phép điều trị thoải mái ngay cả trong những trường
hợp nghiêm trọng nhất là teo thành âm đạo và viêm teo âm đạo. Các phương pháp điều trị
qua đường trực tràng đối với sa trực tràng, tiểu không tự chủ, trĩ nội hiện đang được nghiên
cứu ở Hoa Kỳ và nước ngoài. C, Ví dụ về điều trị âm hộ và mũ âm vật. D, ThermiVa Box nhỏ
gọn, nhẹ và dễ dàng di chuyển.
Một liệu trình điều trị tiêu chuẩn bao
gồm tối đa ba buổi, với khoảng cách 4 đến
6 tuần giữa các lần điều trị để có thời gian
tái tạo mô. Điều trị duy trì hàng năm có thể
có lợi. Một đợt điều trị TTCRF âm hộ hoàn
chỉnh thường giúp cải thiện thẩm mỹ của
âm hộ, se khít niêm mạc âm đạo và cải thiện
độ đàn hồi của mô. Cải thiện chất lượng mô
và tăng lưu lượng máu cục bộ dẫn đến cải
thiện sản xuất chất bôi trơn và dịch tiết.
Một bài báo sắp được xuất bản của Tiến
sĩ. Gustavo Leibashoff và Pablo Gonzales,
ở Columbia, đã xác nhận bằng chứng mô
học rằng phương pháp điều trị TTCRF làm
tăng sản xuất collagen âm hộ và âm đạo
và giúp tân sinh collagen, cũng như làm
dày bề mặt âm hộ và âm đạo, cải thiện chỉ
số trưởng thành âm đạo. Nghiên cứu của
họ đã chỉ ra rằng TTCRF dường như là một
giải pháp thay thế đầy hứa hẹn để điều trị
chứng tiểu không tự chủ do căng thẳng từ
nhẹ đến trung bình và các triệu chứng khác
liên quan đến hội chứng sinh dục của thời
kỳ mãn kinh. Với sự hợp tác của John Mik­
los và Robert Moore, tác phẩm của họ đã
được xuất bản.
Các tác động tích cực khác có thể bao
gồm các cải tiến về các vấn đề liên quan.
Điều tra ban đầu đã cho thấy sự cải thiện
lên đến 25% và hơn 33% đối với bàng quang
tăng hoạt có và không có tiểu không tự chủ;
giảm thời gian đạt cực khoái trung bình lên
đến 50% đối với bệnh nhân rối loạn cực
khoái và phục hồi cực khoái đối với bệnh
nhân không đạt cực khoái; cải thiện trung

224
Chương 16
RF qua da có kiểm soát nhiệt trong trẻ hóa âm đạo
bình 2,5 điểm đối với thang điểm hài lòng
về tình dục và 5 điểm đối với bảng câu hỏi
ước tính độ lỏng lẻo của âm đạo, và giảm
hoặc loại bỏ nhu cầu dùng thuốc bôi trơn
cho những bệnh nhân bị teo âm hộ và
chứng khó chịu; giải quyết tình trạng hẹp
âm đạo nặng; và cải thiện tình trạng tiểu
không tự chủ do căng thẳng nhẹ đến trung
bình. Trong một số trường hợp, việc giảm
hoặc loại bỏ liệu pháp estrogen đã được
ghi nhận sau điều trị TTCRF. Bằng chứng
về việc điều trị thành công sa bàng quang
(qua đường âm đạo) và sa trực tràng (sử
dụng TTCRF qua đường âm đạo và qua
đường hậu môn) cũng đã được báo cáo
(Hình. 16-2). TTCRF có nhiều hứa hẹn là
một phương thức điều trị an toàn và hiệu
quả không xâm lấn, không phẫu thuật,
không dùng thuốc, không steroid với nhiều
ứng dụng lâm sàng.
Hình. 16-2 Người phụ nữ mãn kinh 56 tuổi này có tăng áp lực vùng chậu dẫn tới lộn âm
đạo ra ngoài, cùng với bàng quang tăng hoạt và tiểu không tự chủ. A, Tình trạng sa bàng
quang rõ ràng khi thực hiện nghiệm pháp Valsava. B, Một lần điều trị với TTCRF làm giảm
tình trạng sa, bàng quang tăng hoạt và tiểu không tự chủ, ngăn ngừa nhu cầu phẫu thuật
sửa chữa và dùng thuốc kháng cholinergic.
Kết quả
Hai năm nghiên cứu lâm sàng liên tục tại
trung tâm của chúng tôi và nhiều trung tâm
trên toàn thế giới đã cho thấy các phương
pháp điều trị này đặc biệt an toàn. Trong
năm đầu tiên điều trị tại Hoa Kỳ và trên
toàn thế giới, hơn 10.000 phụ nữ đã được
điều trị với ThermiVa. Không có mụn nước
hoặc bỏng hoặc các tác dụng phụ nghiêm
trọng nào được báo cáo hoặc nhìn thấy
trong vài nghìn trường hợp điều trị. Ther­
miV được dung nạp tốt và tỷ lệ hài lòng cao.
Sự co lại môi lớn thường rất mạnh và khá
rõ ràng, mặc dù sự co lại của môi bé khiêm
tốn hơn, khoảng 20%. Tác dụng làm se khít
âm đạo có thể có ý nghĩa đối với cả bệnh
nhân và bạn tình, với độ ẩm âm đạo được
cải thiện mà không cần sử dụng hormone
hoặc chất bôi trơn. Chứng giao hợp đau
có thể được giảm bớt và loại bỏ. ThermiVa
đang trở thành một phương pháp điều trị
được chấp nhận rộng rãi và nhanh chóng
cho chứng tiểu không tự chủ từ nhẹ đến
trung bình, bàng quang tăng hoạt, mức độ
nhẹ đến trung bình, và rối loạn cực khoái;
gần đây hơn, nó đã được sử dụng như một
phương pháp điều trị mới cho tình trạng đại
tiện không tự chủ và ‘lỏng lẻo’ hậu môn.
ThermiVa không có giấy phép cụ thể của
FDA đối với những tình trạng này, nhưng nó
được chấp thuận cho các bệnh da liễu và
áp nhiệt dây thần kinh, như đã đề cập trước
đó. ThermiVa dường như không có hiệu
quả đối với chứng tiểu không tự chủ mức
độ nghiêm trọng, bất thường cơ thắt trong,

225
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 16-3 A và C, Người phụ nữ 57 tuổi này đã từng trải qua 3 lần điều trị TTCRF đối với
chứng teo và lỏng lẻo âm hộ, tiểu không tự chủ do căng thẳng và rối loạn cực khoái. B và D,
Hậu phẫu, bệnh nhân đã báo cáo hầu như các triệu chứng đều cải thiện rõ rệt.
cơ detrusor hoạt động quá mức / không
ổn định và bàng quang tăng hoạt kèm theo
tiểu không tự chủ. Các nghiên cứu hiện tại
đang đánh giá hiệu quả của việc sử dụng
ThermiVa kết hợp với huyết tương giàu tiểu
cầu. Kết quả của các phương pháp điều trị
khác nhau được thể hiện trong Hình. 16-3
đến 16-6.

226
Chương 16
RF qua da có kiểm soát nhiệt trong trẻ hóa âm đạo
Hình. 16-4 A, Người phụ nữ tiền mãn kinh ở độ tuổi ngoài 40 này bị khô âm đạo và lỏng
lẻo âm đạo. B, Sau hai lần điều trị với TTCRF, mô của cô ấy căng hơn và đầy đặn hơn rõ rệt.
Hình. 16-5 A, Người phụ nữ mãn kinh ở độ tuổi ngoài 60 này bị khô âm đạo và chứng giao
hợp đau. B, Sau hai lần điều trị với TTCRF, mô của cô ấy ẩm hơn và đàn hồi hơn rõ rệt.
Hình. 16-6 A, Người phụ nữ đã mãn kinh 62 tuổi này có biểu hiện lỏng lẻo ở âm đạo, tiểu
không tự chủ do stress và sa trực tràng. B, Sau ba lần điều trị với TTCRF, mô đã được co lại
đáng kể, và các triệu chứng của cô ấy đã được giải quyết mà không cần phẫu thuật.

e-bacsy.com
Chương 17
Fractional Laser Erbium trong
trẻ hóa âm đạo
Evgenii Leshunov

228
Chương 17
Fractional Laser Erbium trong trẻ hóa âm đạo
Những điểm chính
• Er:YAG 2940 nm là một trong những hệ
thống giúp trẻ hóa âm đạo bằng laser
phổ biến nhất thế giới.
• Công nghệ này đã được sử dụng để
điều trị hội chứng ‘lỏng lẻo’ âm đạo, tiểu
không tự chủ do căng thẳng, và teo âm
đạo.
• Trẻ hóa vùng kín là một thủ thuật có
thể thực hiện tại phòng khám và không
cần áp dụng các biện pháp vô cảm.
• Thời gian phục hồi chức năng sau khi
trẻ hóa âm đạo bằng laser erbium là
72h.
Hệ thống Fractional Er: YAG với hệ thống
trị liệu phụ khoa chuyên dụng gần đây đã
được bán trên thị trường.
Hệ thống Er: YAG cung cấp một cách
tiếp cận không phẫu thuật để ‘thắt chặt’
âm đạo. Công nghệ laser Erbium được sử
dụng để điều trị tình trạng ‘lỏng lẻo’ âm đạo,
chứng tiểu không tự chủ do căng thẳng,
sa cơ quan vùng chậu và teo âm đạo. Các
thử nghiệm đầu tiên để thắt chặt ống âm
đạo bằng erbium bắt đầu vào năm 2008 và
2009.
Từ năm 2010 đến năm 2014, một số
nghiên cứu lâm sàng liên quan đến cả bốn
chỉ định đã được thực hiện để chứng minh
tính hiệu quả và an toàn của công nghệ mới
này. Laser erbium hồng ngoại (Er: YAG) có
bước sóng phát xạ là 2,94 p và hoạt động
ở chế độ xung. Cơ chế hoạt động chính
của công nghệ laser là kích thích chọn lọc
sự tổng hợp collagen dưới niêm mạc (lớp
mô đệm) và kích thích tổ chức niêm mạc
sinh nhiệt. Như một phản ứng tức thời, sợi
collagen sẽ co lại và tăng tốc quá trình tân
tạo collagen dẫn đến sự “co lại” của các mô
và tăng tính đàn hồi của chúng.
Việc lựa chọn Er: YAG với bước sóng
2940 nm cho hệ thống đầu dò phụ khoa này
dựa trên cơ sở lý thuyết bước sóng đạt đỉnh
hấp thụ của phân tử nước. Mô trong cơ thể
người là mục tiêu tốt nhất cho bước sóng
này vì tỷ lệ nước của chúng rất cao, đặc biệt
là ở vùng âm đạo nơi có màng nhầy và ở
lớp đệm (vùng dưới niêm mạc).
Vì độ hấp thụ cực cao trong nước, năng
lượng photon tới gần như được dập tắt
hoàn toàn trong micromet đầu tiên của
mô, tạo ra ở các thông số thích hợp một
cột kích thích nhiệt được kiểm soát tốt với
dải đông tụ thứ cấp cực kỳ hẹp, được gọi là
tổn thương nhiệt dư.
Collagen là một thành phần quan trọng
của cấu trúc nâng đỡ sàn chậu - nó chiếm
hơn 80% hàm lượng protein của cân nội
mạc. Collagen tạo nên độ bền và tính toàn
vẹn, còn elastin chịu trách nhiệm về độ
đàn hồi và khả năng phục hồi các mô liên
kết của sàn chậu. Chất nền ngoại bào của
thành âm đạo bao gồm collagen Loại I, III
và V. Tỷ lệ collagen Loại I / Loại III quyết
định các đặc tính cơ học của thành âm
đạo. Sự thay đổi tỷ lệ collagen III, thường
được quan sát thấy trong chứng sa âm đạo
và tiểu không tự chủ do căng thẳng, có thể
làm giảm đáng kể độ đàn hồi của thành âm
đạo.
Collagen loại V là một thành phần quan
trọng của màng đáy. Những thay đổi của
dạng collagen này là rất hiếm. Elastin hỗ
trợ cho sự vững chắc của sàn chậu. Theo
tuổi tác, elastin trong chất nền ngoại bào
giảm làm mất chức năng nâng đỡ dưới
niêm mạc của thành âm đạo.
Mô vùng chậu của những phụ nữ bị
tiểu không tự chủ do căng thẳng và sa
cơ quan vùng chậu đã cho thấy khuynh
hướng di truyền đối với quá trình tái cấu
trúc “bất thường” của chất nền ngoại bào,
được điều chỉnh bởi các hormone sinh sản,
chấn thương, tải trọng cơ học và lão hóa.
Quá trình tái cấu trúc này góp phần dẫn tới
tiểu không kiểm soát và sa cơ quan vùng
chậu bằng cách thay đổi cấu trúc mô bình
thường và các đặc tính cơ học. Xung nhiệt
và cơ học qua trung gian laser tác động tới

229
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
cân nội mạc và mô sàn chậu có thể là một
phương pháp không phẫu thuật hiệu quả
để điều trị chứng tiểu không tự chủ ở phụ
nữ và các rối loạn khác do giảm bớt sự hỗ
trợ của sàn chậu.
Collagen trải qua những vi tổn thương
cơ học (bóc tách) và / hoặc nhiệt sẽ được
tái tạo, dẫn đến tăng tính đàn hồi, co lại các
bó sợi giúp “thắt chặt” thành âm đạo. Kết
quả là mô cơ sẽ được “gia cố” để hỗ trợ tốt
hơn cho sàn chậu.
Tiến sĩ Rodolfo Milani đã thực hiện
một nghiên cứu thử nghiệm tại Đại học
Milano-Bicocca, Bệnh viện San Gerardo ở
Monza, Ý, để đánh giá tính an toàn và hiệu
quả của phương pháp điều trị trẻ hóa âm
đạo bằng Er: YAG. Bốn mươi bảy bệnh nhân
được điều trị teo âm đạo từ tháng 12 năm
2015 đến tháng 4 năm 2016. Tuổi trung
bình của bệnh nhân là 55 tuổi. Cứ 2 tuần
một lần, bệnh nhân được đánh giá lại tình
trạng teo âm đạo (khám bằng mỏ vịt và đo
pH âm đạo) và hoàn thành bảng câu hỏi
về các triệu chứng teo và chất lượng cuộc
sống (Thang điểm Utian Quality of Life
[UQOL]).
Hình. 17-1 A, MCL31 Dermablate (Er:YAG 2940 nm). B, Đầu dò âm đạo Juliet.
Kết quả
Tất cả phụ nữ đều giảm đáng kể pH
âm đạo từ 6,5 - 7 (± 0,3) xuống còn 4,5 (±
0,3). pH là một trong những thông số quan
trọng và nhạy cảm nhất để đánh giá tình
trạng chức năng của niêm mạc âm đạo. Sự
thay đổi pH theo hướng kiềm sẽ phá vỡ hệ
vi khuẩn âm đạo và làm giảm chức năng
hàng rào niêm mạc. Việc sử dụng laser làm
thay đổi các đặc tính dinh dưỡng của mô.
Nó làm tăng lưu thông máu và hàm lượng
glycosaminoglycans, thúc đẩy giảm đáng
kể độ pH và phục hồi quần lạc sinh vật âm
đạo bình thường.
Tất cả các bệnh nhân đều thấy cải thiện
tất cả các triệu chứng liên quan tới teo âm
đạo.
Chỉ số trưởng thành âm đạo (VMI) được
cải thiện: Tế bào cạnh đáy là 100% khi mới
điều trị và 33% sau 6 tuần điều trị, tế bào
trung gian thay đổi từ 0% lên 40%, và tế bào
bề mặt thay đổi từ 0% lên 27%. VMI là một

230
Chương 17
Fractional Laser Erbium trong trẻ hóa âm đạo
tỷ số, thu được bằng cách thực hiện đếm
số lượng tế bào thuộc ba loại tế bào chính
tách khỏi lớp biểu mô vảy của âm đạo: tế
bào cạnh đáy, trung gian và bề mặt. Nó
được viết dưới dạng tỷ lệ phần trăm tương
đối của các loại tế bào này và được viết
dưới dạng tỷ lệ (cạnh đáy%: trung gian%: bề
mặt%).
VMI được cho là công cụ đánh giá tác
động của estrogen lên niêm mạc âm đạo
(không phải cổ tử cung). Tế bào cạnh
đáy không bị ảnh hưởng bởi estrogen và
progesterone, vì chúng là những tế bào
chưa trưởng thành; tế bào trung gian phần
nào đã trưởng thành, đã bị ảnh hưởng bởi
progesterone; và các tế bào bề mặt là
những tế bào trưởng thành nhất, đã bị ảnh
hưởng bởi estrogen. Một tỷ lệ lớn các tế
bào cạnh đáy trong chỉ số VMI có thể cho
thấy sự thiếu hụt estrogen ảnh hưởng đến
các mô. Một tỷ lệ lớn các tế bào bề mặt
trong chỉ số VMI cho thấy rằng đã có rất
nhiều kích thích estrogen. Các tế bào trung
gian không có giá trị ở đây.
Chỉ số VMI được diễn giải như sau: 49
hoặc ít hơn cho thấy tác dụng estrogen
không nhiều, hoặc không có; 50 đến 64
cho thấy tác dụng estrogen vừa phải; và 65
đến 100 cho biết đây một môi trường có
estrogen chiếm ưu thế.
Bởi vì chúng tôi có thể thấy sự cải thiện
về tính chất của niêm mạc và dưới niêm
mạc khi sử dụng Er: YAG, chúng tôi quyết
định đánh giá những thay đổi của chỉ số
này trước và sau khi điều trị. Chúng tôi ghi
nhận sự cải thiện đáng kể về chỉ số này, chỉ
số này đã trở lại mức cao sau hai liệu trình
điều trị bằng laser.
Các bệnh nhân báo cáo có sự cải thiện
đáng kể về điểm số UQOL, bao gồm cả vấn
đề về sinh hoạt tình dục.
Các tiêu bản mô học cho thấy bằng
chứng về một lớp tế bào biểu mô dày và
nhiều tế bào hơn, cùng với một lớp lamina
propria mật độ cao hơn với các liên kết
dày đặc, như được thấy trong Hình. 17-2 và
17-3.
Kết quả phân tích mô học cho thấy sự
‘thắt chặt’ và ‘săn chắc’ của thành âm đạo
Hình. 17-2 Tiêu bản nhuộn Hematoxylin và eosin của tế bào thành âm đạo. A, Hình ảnh
trước khi điều trị. B, Bảy ngày sau khi điều trị, kiến trúc niêm mạc được cải thiện, bao gồm
cả lớp biểu mô và lớp đệm.

231
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 17-3 Hình ảnh trên kính hiển vi photon của tế bào thành âm đạo. A, Lúc trước điều
trị, biểu mô bị tách ra, có ít nhân và có nhân kết đặc. B, Bảy ngày sau khi điều trị, biểu mô
có nhiều lớp và được tổ chức hóa tốt với các nhân rõ ràng.
Kết luận
Các kết quả sơ bộ trong nghiên cứu của
chúng tôi khẳng định rằng phương pháp
điều trị bằng laser phân đoạn (fractional),
xâm lấn tối thiểu với Er: YAG xung ngắn và
dài là một lựa chọn điều trị hiệu quả, an
toàn để trẻ hóa âm đạo ở bệnh nhân teo
âm đạo.
Tất cả các bệnh nhân đều thấy có cải
thiện trong đời sống tình dục vì trị liệu giúp
điều chỉnh lượng dịch tiết âm đạo, cải thiện
cảm giác khi giao hợp vì âm đạo thắt chặt
và đàn hồi hơn. Các triệu chứng tiểu không
tự chủ được loại bỏ hoặc giảm đáng kể.
Thay đổi tỷ lệ các loại collagen và
elastin làm thay đổi tính chất cơ học, dẫn
tới thay đổi đáng kể cấu trúc thành âm đạo;
đặc biệt, nó làm giảm độ đàn hồi của thành
âm đạo. Do thành trước âm đạo đóng vai
trò hỗ trợ niệu đạo và cơ vùng tiết niệu, nên
việc mất chức năng dẫn đến tăng khả năng
“vận động” của mô niệu đạo và cổ bàng
quang, biểu hiện bởi tình trạng tiểu không
tự chủ do căng thẳng (căng thẳng do thay
đổi áp lực trong ổ bụng).
Việc sử dụng năng lượng laser đã giúp
tái tạo chất nền ngoại bào và nguyên bào
sợi, đồng thời kích thích mô âm đạo tăng
sinh và thay mới, cải thiện khả năng “nâng
đỡ” của thành âm đạo. Độ đàn hồi của
thành âm đạo được đánh giá chủ quan
bằng thang điểm visual analog scale và
có thể không được khách quan, do đó cần
thận trọng sử dụng tùy từng trường hợp.

Phẫu thuật thẩm mỹ vùng kín
232
Chapter 1
Fig. 1-10 From Georgiou CA, Benatar M, Dumas P, et al. A cadaveric study of the arte-
rial blood supply of the labia minora. Plast Reconstr Surg 136:167, 2015.
Chapter 3
Fig. 3-1 From Gorney M, Martello J. Patient selection criteria. Clin Plast Surg 26:37,
1999.
Chapter 4
Figs. 4-1, 4-3, 4-5, and 4-13 From Hamori CA. Postoperative clitoral hood deformity
after labiaplasty. Aesthet Surg J 2013;33(7)1030-1036, by permission of Oxford University
Press.
Figs. 4-4 and 4-8 From Hamori CA. Aesthetic surgery of the female genitalia: labia-
plasty and beyond. Plast Reconstr Surg 134:661, 2014.
Chapter 14
Fig. 14-2 From Ostrzenski A. G-spot anatomy: a new discovery. J Sex Med 9:1355,
2012.
Chapter 17
Fig. 17-1 ©2016 Asclepion Laser Technologies, Jena–Germany. All rights reserved.
Figs. 17-2 and 17-3 Courtesy of University of Milano-Bicocca, San Gerardo Hospital,
Monza, Italy - Department of Obstetrics and Gynecology, Chief Prof. Rodolfo Milani.
CRESITS

233
e-bacsy.com

hacklink satın al mumu模拟器 雷电模拟器 向日葵 giftcardmall/mygift giftcardmall balance mygift giftcardmall matbet matbet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Betgaranti Betgaranti Güncel Adres Betgaranti Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Fim İzle Fim İzle Giriş Fim İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Fim İzle Fim İzle Güncel Adres Fim İzle jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Giriş Casibom Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Jojobet Jojobet Giriş Jojobet Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Deneme Bonusu Film İzle Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Türkçe Dublaj Film İzle Film İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi perabet perabet giriş holiganbet holiganbet giriş Casibom Lesfillmercom Casibom Lesfillmercom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Gerbergirlcom Casibom Gerbergirlcom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Spcelectriccontrolcom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş marsbahis marsbahis giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş matbet matbet giriş matbet güncel giriş vaycasino vaycasino güncel giriş vaycasino giriş matbet matbet giriş pusulabet pusulabet giriş pusulabet pusulabet güncel giriş pusulabet giriş matbet matbet güncel giriş matbet giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Resmi Adres pusulabet pusulabet giriş pusulabet güncel giriş Fixbet Fixbet Güncel Giriş Salvobet Salvobet Giriş Salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Turk Porno Turk Porno Giriş Turk Porno casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi casibom casibom jojobet izmir escort izmir buca escort buca escort jojobet casibom holiganbet holiganbet giriş jojobet holiganbet holiganbet giriş jojobet jojobet jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş izmir escort izmir buca escort buca escort izmir escort bayan salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Deneme Bonusu Veren Giriş Deneme Bonusu Veren salvobet salvobet salvobet salvobet Casibom betgaranti betgaranti betgaranti matbet matbet giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Salvobet jojobet Salvobet Salvobet Salvobet Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Güncel Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis bahsegel Fixbet Fixbet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş 1xbet 1xbet Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Listesi Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet grandpashabet grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler vaycasino vaycasino giriş jojobet grandpashabet casibom Casibom Casibom Giriş casibom www.giftcards.com Marsbahis grandpashabet jojobet jojobet jojobet grandpashabet casibom jojobet Casibom Casibom Casibom Casibom Casibom Grandpashabet Grandpashabet Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Marsbahis Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres grandpashabet grandpashabet giriş Casibom Fixbet Fixbet Giriş Casibom İzmir Escort İzmir eskort İzmir Escort Bayan Vip escort Adana Escort Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Holiganbet Holiganbet Güncel Adres