Phẫu Thuật Thẩm Mỹ Vùng Kín Phụ Nữ (Thieme) – Tập 1

13/10/2026 • by Bs CKI Phẫu thuật tạo hình, tái tạo và thẩm mỹ Trương Hoài Anh •

Tài liệu dịch từ nhà xuất bản Thieme danh tiếng, chuyên sâu về phẫu thuật thẩm mỹ phụ khoa. Hướng dẫn chi tiết giải phẫu, kỹ thuật thu gọn môi bé, tạo hình tầng sinh môn và các thủ thuật trẻ hóa âm đạo.


📂 Chuyên mục: Tài liệu thẩm mỹ, Phẫu thuật thẩm mỹ, Tạo hình khác

🏷️ Từ khóa: thẩm mỹ vùng kín, tạo hình môi bé, thu hẹp âm đạo, trẻ hóa phụ khoa

Trang: / 241
Trang 1 Trang 2 Trang 3
📖 Xem bản dịch / Nội dung văn bản

Christine A. Hamori Paul , E. Banwell Red Alinsod
A
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ
Vùng kín
Chỉ định,
Kỹ thuật thực hiện
và
Áp dụng lâm sàng
Christine Hamori
Paul Banwell
Red Alinsod
e-bacsy.com

Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
B

Christine A. Hamori Paul , E. Banwell Red Alinsod
C
e-bacsy.com
Phẫu thuật
Thẩm mỹ vùng kín
Chỉ định, Kỹ thuật thực hiện và Áp dụng lâm sàng
Edited by
Christine A. Hamori, MD, FACS
Board-Certified Plastic Surgeon
Founder and Director, Cosmetic Surgery and Skin Spa
Boston, Massachusetts
Paul E. Banwell, BSc(Hons), MB BS,
FRCS(Eng), FRCS(Plast)
Consultant Plastic, Reconstructive and Aesthetic Surgeon
The Banwell Clinic
The McIndoe Centre
East Grinstead, West Sussex, United Kingdom
Red Alinsod, MD, FACOG, FACS
Director, South Coast Urogynecology and
Alinsod Institute for Aesthetic Vulvovaginal Surgery
Laguna Beach, California
With Illustrations by
Brenda L. Bunch, MAMS
Amanda Yarberry Behr, MA, CMI
Craig Durant, Dragonfly Media
Andrea Hines

Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
D
Cuốn sách: “ Phẫu thuật thẩm mỹ Vùng kín “ được chuyển ngữ từ sách tiếng Anh sang
tiếng Việt từ cuốn “Female Cosmetic Genital Surgery “ của nhóm tác giả “ Christine Hamori ,
Paul Banwell , Red Alinsod “ .
Với mục tiêu giới thiệu những cuốn sách thẩm mỹ nổi tiếng trên thế giới, vừa đảm bảo nội
hàm kiến thức chuyên môn cao vừa có giá trị áp dụng trên lâm sàng, chúng tôi đã nỗ lực hết
mình trong quá trình tìm kiếm, lựa chọn đầu sách, đồng thời chuyển ngũ bám sát nội dung
sách gốc với cách diễn đạt dễ hiểu nhất. Tuy vậy cũng không tránh khỏi sai sót trong quá trình
biên soạn. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ độc giả và quý đồng nghiệp để nhóm tiếp
tục hoàn thiện hơn trong những lần sau và trong những tác phẩm sắp tới.
Mọi ý kiến đóng xin gửi vào địa chỉ mail: ducta.bic@gmail.com
Fanpage:
Website : E-bacsy.com / Yhoc.pro
Chân thành cám ơn sự ủng hộ của quý đọc giả !

Christine A. Hamori Paul , E. Banwell Red Alinsod
E
e-bacsy.com
DẪN NHẬP
1
Phần 1
• chương 1 Giải phẫu và phân loại vùng kín ở nữ:
Cơ sở cho chỉ định phẫu thuật................................................3
• chương 2 Những vấn đề tâm lý và xã hội liên quan tới
phẫu thuật thẩm mỹ vùng kín ............................................. 22
• chương 3 Sự đồng thuận và tính pháp lý trong việc
thực hiện phẫu thuật thẩm mỹ vùng kín.......................... 28

Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
F
• chương 14 Hướng phát triển và những tiến bộ trong tương lai........ 199
• chương 15 Kỹ thuật O-Shot....................................................................... 212
• chương 16 RF qua da có kiểm soát nhiệt
trong trẻ hóa âm đạo............................................................ 220
• chương 17 Fractional Laser Erbium trong trẻ hóa âm đạo............ 227
• chương 4 Giảm môi âm hộ: Kỹ thuật Wedge....................................... 37
• chương 5 Giảm môi âm hộ: Kỹ thuật tạo hình bờ tự do ................. 55
• chương 6 Giảm môi âm hộ: Tạo hình môi lớn..................................... 68
• chương 7 Kỹ thuật tạo hình mũ âm vật.................................................. 80
• chương 8 Kỹ thuật ghép mỡ làm đầy môi lớn ................................... 103
• chương 9 Kỹ thuật tiêm filler làm đầy môi lớn......................................112
• chương 10 Biến chứng phẫu thuật thẩm mỹ vùng kín .................... 129
• chương 11 Tạo hình tầng sinh môn và tạo hình âm đạo................ 147
• chương 12 Tạo hình màng trinh. ............................................................. 165
• chương 13 Thủ thuật bổ sung. ................................................................. 185
KỸ THUẬT THỰC HIỆN
THỦ THUẬT NÂNG CAO
35
197
Phần 2
Phần 3

Christine A. Hamori Paul , E. Banwell Red Alinsod
G
e-bacsy.com
4-1 Minh họa quá trình tạo hình môi âm hộ
Christine A. Hamori
4-2 Tạo hình môi âm hộ : Đánh dấu vùng phẫu thuật
Christine A. Hamori
4-3 Tạo hình môi bé bằng kỹ thuật wedge mở rộng
Christine A. Hamori
4-4 Kỹ thuật wedge : Lựa chọn khâu đóng phía trước
Christine A. Hamori
5-1 Tạo hình môi âm hộ kiểu Barbie
Red Alinsod
6-1 Tạo hình môi lớn bằng loại bỏ miếng đệm mỡ
Red Alinsod
9-1 Làm đầy với filler
Nicolas Berreni
11-1 Tạo hình tầng sinh môn
Marco A. Pelosi III, Marco A. Pelosi II
11-2 Kết hợp tạo hình môi âm hộ và âm đạo
Red Alinsod
12-1 Tạo hình màng trinh
Otto J. Placik
13-1 Điện di qua da
Red Alinsod
16-1 ThermiVa
Red Alinsod

Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
H

1
e-bacsy.com
e-bacsy.com
e-bacsy.com
Phần 1
Dẫn Nhập

2
Chương 1
Giải phẫu và phân loại vùng kín ở nữ: Cơ sở cho chỉ định phẫu thuật

Chương 1
e-bacsy.com
Giải phẫu
Cơ sở cho chỉ định phẫu thuật
và phân loại vùng kín ở nữ:
Paul E. Banwell

4
Chương 1
Giải phẫu và phân loại vùng kín ở nữ: Cơ sở cho chỉ định phẫu thuật
Những điểm chính
• Nắm được giải phẫu cơ quan sinh dục
nữ là yếu tố then chốt để có thể lập
kế hoạch và thực hiện các phẫu thuật
thẩm mỹ ở vùng này.
• Nên thăm khám theo hệ thống từ vùng
gò mu, môi lớn, âm vật, cho tới môi nhỏ
(phức hợp âm hộ).
• Phức hợp âm hộ tồn tại rất nhiều biến
thể giải phẫu lâm sàng.
• Các tác giả Hodgkinson và Hait đã đưa
ra tiêu chuẩn về môi nhỏ ‘lý tưởng’.
• Song song với tính thẩm mỹ và hài hòa
trên khuôn mặt, chúng ta cũng nên bắt
đầu quan tâm tới tính cân đối và thẩm
mỹ của vùng kín nữ.
• Những khám phá mới về giải phẫu
mạch máu ở khu vực này cho chúng ta
cơ sở để lựa chọn kỹ thuật sao cho phù
hợp.
• Phân loại của Motakef giúp phân nhóm
đối tượng dựa trên vị trí tương quan
giữa môi bé và môi lớn.
• Phân loại Banwell mô tả các biến thể về
hình dạng và giải phẫu đại thể của môi
âm hộ, điều chưa từng xuất hiện trong
các hệ thống phân loại khác
• Phức hợp mũ âm vật – môi bé có rất
nhiều biến thể giải phẫu lâm sàng và
đây là một trong những thử thách không
hề nhỏ cho những nhà phẫu thuật.
• Thu thập thông tin đầy đủ về hình dạng
và kích thước của môi âm hộ và phức
hợp môi âm hộ - mũ âm vật (theo phân
loại Motakef và Banwell) là điều quan
trọng trước khi tiến hành lập kế hoạch
cho phẫu thuật.
Ngày nay, phẫu thuật vùng kín ở nữ ngày
một phổ biến do những lợi ích to lớn mà
chúng mang lại cho cuộc sống của họ, thì
việc liên tục cập nhật kiến thức và trau dồi
kỹ năng của các nhà phẫu thuật chúng ta
dường như là điều quan trọng bậc nhất. Và
với những thay đổi to lớn trong ngành công
nghiệp sắc đẹp, chúng ta đã dần chiếm
được lòng tin cũng như sự hài lòng từ khách
hàng. Với tỷ lệ biến chứng tối thiểu, tính an
toàn cao và đặc biệt là xóa đi rào cản tâm
lý của người phụ nữ, số lượng người đăng
ký thực hiện các thủ thuật này ngày một
tăng. Tuy nhiên, cho đến nay, kiến thức về
chuyên ngành này còn hạn chế, bao gồm
cả các hệ thống phân loại và biến thể giải
phẫu, thăm khám hệ thống và đánh giá
trước/sau phẫu thuật, cũng như công tác
lập kế hoạch phẫu thuật và kết quả điều trị.
Do đó, sự hiểu biết sâu sắc về giải phẫu
hiện tại và kiến thức về các biến thể giải
phẫu của cơ quan sinh dục nữ có thể giúp
bác sĩ phẫu thuật tối ưu hóa cách tiếp cận
cũng như chăm sóc bệnh nhân.

Giải phẫu ứng dụng
Giải phẫu đầy đủ cơ quan sinh dục ngoài
(CQSDN) của nữ được mô tả ở hình dưới
(Hình. 1-1). Cụ thể, CQSDN bao gồm gò mu
ở phía trên, tiếp đó là âm vật với mũ âm
vật trùm bên trên, cuối cùng là môi lớn và
môi nhỏ. Các cấu trúc này kết hợp lại tạo
thành phức hợp âm hộ. Tuy nhiên, phần lớn
các biến thể giải phẫu vẫn chưa được công
nhận hoặc mô tả trước đây; do đó, nắm
được sự tổ chức trong các biến thể này có
thể giúp Bs lập kế hoạch chi tiết và chu đáo
hơn, cải thiện sự hài lòng của bệnh nhân
sau phẫu thuật.

5
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 1-1 Giải phẫu đại thể cơ bản của CQSDN.
Pubic symphysis: Khớp mu
Anterior labial commissure: Mép môi trên (trước)
Hood of clitoris: Mũ âm vật
Prepuce of clitoris: Bao âm vật
Glans of clitoris: Quy đầu âm vật
Frenulum of clitoris: Hãm âm vật
Urethral orifice: Lỗ niệu đạo
Ischium: (Xương) ngồi
Labium minus: Môi bé
Labium majus: Môi lớn
Vaginal orifice: Lỗ âm đạo
Posterior labila commissure: Mép môi dưới (sau)

6
Chương 1
Giải phẫu và phân loại vùng kín ở nữ: Cơ sở cho chỉ định phẫu thuật
Hình. 1-2 Tương quan giữa xương/khớp mu và CQSDN của nữ.
Gò mu
Gò mu là tổ chức mỡ, trên là da, hình
tam giác nằm trước xương mu (Hình. 1-2).
Mô mỡ này có thể phát triển trong thời kỳ
dậy thì hoặc khi tăng cân, nhưng nó cũng
‘giảm’ đi khi giảm cân (lượng lớn) và sau
thời kỳ mãn kinh. Về mặt giải phẫu, gò mu
được bao phủ bởi lông mu, lượng lông này
cũng giảm dần theo tuổi, đặc biệt sau thời
kỳ tiền mãn kinh. Độ ‘nhô’ của gò mu thay
đổi tùy theo lượng mỡ dưới da và góc tạo
bởi hai bên xương mu; và nếu không hài
hòa với khu vực xung quanh, chúng ta có
thể phẫu thuật để điều chỉnh lại độ ‘nhô’
này tùy theo căn nguyên của nó.
Môi lớn
Môi lớn (môi ngoài) là hai nếp gấp trên
da kéo dài ra sau từ gò mu về phía vùng đáy
chậu (Hình. 1-3). Mặt ngoài (bên) được che
phủ bởi lông mu còn mặt trong thì không.
Dưới da môi lớn chủ yếu là tổ chức xơ-mỡ,
nhưng lượng mô này có thể từ “đầy đặn”
hoặc “căng đầy” đến “lỏng lẻo” và “thùng
thình” – đúng như cách mà họ mô tả vùng
kín khi khai thác bệnh sử (Hình 1-4). Bản
chất của hiện tượng này là do nếp da ‘phát
triển’ dài ra theo thời gian và kéo theo đó là
sự lỏng lẻo tổ chức dưới da.
Cấu trúc nằm cạnh môi lớn và gần
đường giữa hơn đó là mũ âm vật, âm vật và
môi bé. Môi bé được ngăn cách với môi lớn
bởi một rãnh sâu; rãnh này chính là vùng
phân định giữa khu vực da được che phủ và
không phủ bởi lông mu (Hình. 1-5). Đôi khi,
vì một lý do nào đó rãnh này đầy lên hoặc
tổ chức dưới da lỏng lẻo dần ra, dẫn đến
sự liên tục giữa môi lớn và môi bé. Trong
những trường hợp như vậy, nếu bệnh nhân
được chỉ định phẫu thuật giảm môi lớn, thì
sẹo sau phẫu thuật rất dễ bị lộ hoặc phì đại.
Điều này nên được thảo luận với bệnh nhân
trước khi phẫu thuật.

7
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 1-3 Môi lớn ở người trẻ.
Hình. 1-4 Hình ảnh môi lớn ‘trống’, hoặc
được bệnh nhân mô tả là ‘rộng thùng thình’.
Thực chất là do tồn tại vùng da thừa ở cả
môi lớn và môi bé, làm môi bé lộ ra ngoài
chiếm mất khoảng không môi lớn (trống/
rỗng). Bệnh nhân này nên thực hiện phẫu
thuật giảm môi lớn và chỉnh sửa môi bé.
Hình. 1-5 A, Bệnh nhân này được chỉ định phẫu thuật giảm môi lớn và chỉnh hình môi bé.
Phần da môi âm hộ tăng sắc tố như này không phải là hiếm. B, Ranh giới phần da được
che phủ và không được che phủ bởi lông mu (rãnh giữa môi lớn và bé). Đây cũng là ranh
giới cần xác định trước khi thực hiện giảm môi lớn (xem thêm ở chương 6).

8
Chương 1
Giải phẫu và phân loại vùng kín ở nữ: Cơ sở cho chỉ định phẫu thuật
Âm vật
Âm vật (thân âm vật) nằm ngay phía
dưới mũ âm vật (quy đầu) chạy xuống dưới
chuyển thành hai dải đối xứng nhau, tiếp
nối với vòm âm đạo gọi là hãm âm vật
(Hình. 1-6). Theo y văn, hãm âm vật thường
gắn với mặt ngoài của một phần ba trên
của môi bé (Hình. 1-6, A), nhưng vẫn tồn tại
rất nhiều biến thể giải phẫu khác, mà không
nhất thiết là bất thường bệnh lý. Bản thân
âm vật cũng có kích thước rất đa dạng,
nhưng thường thì âm vật lớn sẽ đi cùng
với một mũ âm vật lớn tương đương. Một
nếp gấp thứ hai của da có thể xuất hiện ở
hai bên mũ âm vật, tiếp nối với môi âm bé
(Hình. 1-6, G và H) hoặc lớn hẳn và trông
như một phần của môi bé (Hình 1-6, I ).
Cuối cùng, đỉnh của hãm âm vật sẽ tiếp nối
với phần đầu của lỗ niệu đạo.
Hình. 1-6 A, Giải phẫu bình thường của CQSDN (tiêu chuẩn). Có thể thấy mũ âm vật tiếp nối
với 1/3 trên của môi nhỏ. Tuy nhiên các biến thể giải phẫu tại vị trí này có liên quan mật
thiết tới kết quả lâm sàng, do đó cần được đánh giá thật kỹ trước khi lựa chọn loại phẫu
thuật. B, Mũ âm vật nhỏ, liên tục với môi bé âm hộ. C, mũ âm hộ lớn. D, mũ âm hộ nhỏ.
Hãm âm vật liên tiếp với môi bé. Tuy nhiên phía ên phải có một nếp gấp nhỏ. E, Hai bên mũ
âm vật có nếp gấp kép. Và F, Hai bên mũ âm vật với nhiều nếp gấp.

9
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 1-6, (tiếp) G và H, Nếp gấp (hãm) của âm vật tiếp nối với mặt ngoài môi bé. I, Nếp gấp
dày lên và tiếp nối với môi bé. Mũ âm vật và âm vật nằm phía bên trong nếp gấp này.
Hình. 1-7 A, Môi bé bình thường. B, môi bé ‘lỏng lẻo’ và lộ hẳn ra ngoài môi lớn. C, Hai bên
môi bé không cân đối. Bờ ngoài môi bé ‘lỏng lẻo’ và tăng sắc tố.
Môi bé
Môi bé tiếp tục ở phía sau vùng âm vật,
di dọc xuống dưới, về phía đáy chậu. Hai
bên môi bé kết hợp với nhau để tạo thành
một phần của mép môi sau hoặc vẫn tách
biệt và tiếp nối vào đáy chậu (Hình 1-7).
Môi bé có nhiều biến thể giải phẫu trên
lâm sàng; và thường hai bên môi bé không
hoàn toàn cân đối với nhau. Hơn nữa, chất
lượng da có thể khác nhau. Một số bệnh
nhân có môi bé đầy đặn và căng mịn (xem
Hình. 1-7, A), nhưng thường bệnh nhân tới
phòng khám khi môi bé đã trong tình trạng
rất lỏng lẻo và ‘nhăn nheo’ (Hình. 1-7, B).
Cùng với đó là hiện tượng tăng sắc tố, cũng
khá phổ biến.

10
Chương 1
Giải phẫu và phân loại vùng kín ở nữ: Cơ sở cho chỉ định phẫu thuật
Hình. 1-8 Môi lớn cũng tương tự như bìu. Hai bên môi nhỏ hợp lại với nhau để hình thành
BPSDN của nam (đường giữa tầng sinh môn). Các ống Wolffian phát triển ở giới nam và
ống dẫn Mullerian phát triển ở giới nữ. Sự khác biệt phát triển ở tuổi thai khoảng 9 tuần. Ở
nữ, nếp niệu dục hình thành tương ứng với vị trí BPSD nữ. Nếp này phát triển về phía mu
hình thành hai lồi môi-bìu ở hai bên, sau này hoàn thiện được gọi là môi lớn. Ngược lại,
môi nhỏ phát sinh do sự phát triển tiếp tục của nếp niệu dục nhưng ở phía dưới lồi môi-
bìu; phần còn lại của nếp niệu dục hợp lại với nhau thành củ sinh dục (sau này tạo thành
âm vật). Phần quy đầu trưởng thành sẽ trở thành quy đầu âm vật. Ở nam giới, phần chậu
của ổ nhớp phát triển khá sớm. Lồi môi-bìu hai bên phát triển ra xung quanh và giữa phần
chậu và hậu môn để hình thành vùng bìu ở nam. Khi tinh hoàn bắt đầu di chuyển từ ổ bụng
xuống bìu, vùng bìu này được phát triển thành túi bìu. Dương vật được phát triển từ củ sinh
dục. Giống như ở nữ, màng niệu sinh dục dần thoái triển thành một kênh ở mặt dưới của
củ sinh dục; kênh này mở rộng về phía trước để hình thành vành quy đầu. (chú thích xem
hình 1.1)
Lỗ niệu đạo
Quy đầu dương
vật
Da quy đầu
Thân dương vật
Đường giữa
Bìu
Hậu môn
Đường giữa
tầng sinh môn
Phôi thai học
Về mặt phôi thai, môi lớn có nguồn gốc
từ sự phình ra của lồi môi – bìu mà ở thai
nhi nam, sẽ phát triển thành bìu (Hình 1-8).
Ngược lại, môi nhỏ phát triển từ các nếp
sinh dục, nếp này ở nam sẽ phát triển thành
đường giữa dương vật.
Động mạch cấp máu
Nguồn cung cấp máu cho môi lớn và
môi nhỏ bao gồm động mạch môi sau và
động mạch đáy chậu, cả hai đều là nhánh
của động mạch thẹn trong. Tương tự, động
mạch thẹn trong, đi sâu tới đáy chậu, cũng
tạo ra động mạch mu âm vật.

11
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Cắt đường cong
Kỹ thuật wedge
Tuy nhiên, Georgiou và cộng sự đã cung
cấp thêm cái nhìn chi tiết về giải phẫu mạch
máu của môi nhỏ dựa trên nghiên cứu phân
bố mạch máu tử thi gần đây của họ. Từ đó,
họ cũng đưa ra những quan điểm mới về
kỹ thuật giảm môi bé âm hộ: Họ cho rằng
biến chứng chính của những phẫu thuật
này là do tình trạng tách vết mổ, và thường
là do đường rạch thiếu cấp máu, đặc biệt
là trong kỹ thuật tạo vạt (Hình. 1-9). Trong
nghiên cứu, họ đã xác định được cấp máu
cho môi âm hộ gồm một động mạch trung
tâm (động mạch C), hai động mạch sau (P1
và P2), và một động mạch nhỏ phía trước
(A) (Hình 1-10). Họ xác nhận có mối liên hệ
giữa hệ thống phía trước của động mạch
thẹn ngoài và hệ thống phía sau của động
mạch thẹn trong. Họ kết luận rằng điều
này có thể giúp các bác sĩ phẫu thuật định
hướng đường rạch trong kỹ thuật wedge
(nêm). Nghiên cứu của họ cũng chỉ ra rằng
kỹ thuật cắt dọc theo đường cong giải phẫu
của môi bé là an toàn nhất, bảo đảm cấp
máu tốt nhất cho phần môi còn lại.
Hình. 1-9 Sơ đồ cấp máu vùng môi âm hộ trong hai kỹ thuật wedge và tạo hình đường cong
Hình. 1-10 Sơ đồ động mạch cấp máu cho
môi âm hộ.

12
Chương 1
Giải phẫu và phân loại vùng kín ở nữ: Cơ sở cho chỉ định phẫu thuật
Hình. 1-11 Thần kinh thẹn và thần kinh mu âm vật.
Chi phối thần kinh
Thần kinh thẹn chi phối toàn bộ BPSDN
của nữ (Hình 1-11). TK thẹn sẽ tách thành
hai nhánh thần kinh đáy chậu nông và sâu
tại vị trí cơ đáy chậu ngang nông. Nhánh
nông trở thành dây thần kinh môi âm hộ
sau còn nhánh sâu trở thành dây thần kinh
mu âm vật.

Phân loại bộ phận sinh dục
ngoài ở nữ giới
Theo Lloyd và cộng sự, kích thước vùng
kín của nữ khác biệt đáng kể giữa các quần
thể người. Trong một nghiên cứu cắt ngang
, tác giả này đã thu thập nhiều thông số
khác nhau, bao gồm chiều dài và chiều
rộng, kích thước và màu sắc âm vật, và tình
trạng da môi âm hộ. Họ ghi nhận một loạt
các giá trị cho mỗi biến số nêu trên và đã
đưa ra kết luận rằng không có mối liên hệ
có ý nghĩa thống kê nào giữa các thông
số trên với tuổi, lứa tuổi, dân tộc, sử dụng
hormone hoặc lịch sử hoạt động tình dục.
Điều này rất quan trọng, vì chúng cho
thấy những biến thể giải phẫu cũng rất đa
dạng về kích thước. Và mặc dù bệnh nhân
tới được chỉ định phẫu thuật, họ cũng nên
hiểu rằng CQSDN của họ hoàn toàn bình
thường.

13
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 1-12 Phân loại Motakef dựa trên tương quan vị trí vùng rìa của môi nhỏ so với môi
lớn, được chia thành 3 loại. Loại I (0 đến 2 cm), loại II (2 đến 4 cm) và loại III (trên 4 cm). Tùy
thuộc vào mức độ da dư thừa của môi bé mà có phương án điều trị khác nhau. Nếu hai bên
không đối xứng, trong phân loại sẽ có thêm chữ “A” và nếu mũ âm vật quá lớn, trong phân
loại sẽ được thêm chữ “C”.
Một số tác giả đã đề xuất cách phân loại
CQSDN dựa trên vị trí môi bé, tuy nhiên giữa
các cách phân loại vẫn chưa có sự thống
nhất. Motakef và cộng sự gần đây đã thực
hiện một nghiên cứu tổng phân hợp từ các
nghiên cứu phẫu thuật tạo hình môi âm hộ
và cho chúng ta thấy hiện tại vẫn cần có
một hệ thống phân loại ‘chuẩn’ (Hình 1-12).
Thông thường, bệnh nhân đến với chúng ta
trong tình trạng môi âm hộ ‘phì đại’ hoặc
‘lớn bất thường’, nhưng nếu một người tới
muốn phẫu thuật thẩm mỹ với một CQSDN
hoàn toàn bình thường thì chúng ta sẽ tiếp
cận như thế nào? Do đó, việc xây dựng một
phân loại ‘chuẩn’ là tất yếu khách quan.
Một trong những hệ thống phân loại
được sử dụng rộng rãi nhất, được mô tả lần
đầu tiên bởi Franco vào năm 1993, phân
loại ‘phì đại’ môi thành bốn loại: Loại I, nhỏ
hơn 2 cm; Loại II, 2 đến 4 cm; Loại III, 4 đến
6 cm; và Loại IV, trên 6 cm. Các tác giả đã
đo khoảng cách (tính bằng cm) từ gốc của
môi bé (phần tiếp giáp âm đạo) đến phần
rìa môi tương ứng để đưa ra phân loại này.
Họ cũng phát hiện ra rằng môi bé khác
nhau về độ dài, độ dày, độ đối xứng và độ
‘nhô’ ra ngoài. Trong một nghiên cứu khác,
chiều rộng trung bình của môi bé đo được
là khoảng 2,5 cm, với dao động từ 0,7 đến
5 cm.
Ngược lại, Chang và cộng sự đã đề xuất
một phân loại đơn giản dựa trên kích thước
và vị trí môi bé ‘nhô’ ra ngoài. Cụ thể, lớp 1
là giải phẫu bình thường; môi lớn và môi bé
nằm ngang nhau. Ở lớp 2, môi bé ‘nhô’ ra
ngoài so với môi lớn. Trong lớp 3, mũ âm
vật lớn, trùm kín môi âm hộ. Ở lớp 4, môi
nhỏ kéo dài đến đáy chậu. Tác giả cũng đề
xuất từng cách tiếp cận với mỗi phân loại
này.
Gần đây hơn, Motakef và cộng sự đã
đưa ra phân loại hình thể ngoài CQSD nữ
dựa trên độ ‘nhô’ ra ngoài của môi bé so với
môi lớn (xem Hình. 1-12).
Nhóm của chúng tôi đồng tình với cách
tiếp cận này và đã phát triển thêm những
khái niệm mới trong 10 năm qua và hình
thành một phân loại dựa trên vị trí của phần
‘nhô’ ra ngoài nhiều nhất của môi bé. Có lẽ

14
Chương 1
Giải phẫu và phân loại vùng kín ở nữ: Cơ sở cho chỉ định phẫu thuật
điều quan trọng nhất, Motakef và cộng sự
cũng chỉ ra rằng mỗi nhóm trong phân loại
sẽ đều có một mô hình điều trị khác nhau -
do đó cần phải xem xét một cách tiếp cận
phù hợp để giảm thiểu biến chứng và cải
thiện kết quả. Khẳng định này được ủng hộ
bởi các nghiên cứu giải phẫu mạch máu
được mô tả trước đây.
Chúng tôi cũng nhận thấy rằng việc áp
dụng phương pháp tiếp cận khách quan và
đo lường (và ghi lại) kích thước các chiều
của môi ân hộ sẽ giúp Bs và bệnh nhân
thống nhất được mục tiêu điều trị. Thay vì
sử dụng những từ ngữ mang tính chất định
tính hoặc lo ngại về việc điều trị không đạt
được mục tiêu, có thể áp dụng một cách
tiếp cận khách quan hơn liên quan đến tỷ lệ
phần trăm mô sẽ loại bỏ. Do đó, việc thực
hiện giảm môi âm hộ dần trở nên đơn giản
vì lượng ‘dư thừa’ sẽ được quy ra % tổ chức
và điều này tạo điều kiện thuận lợi cho Bs
và bệnh nhân đều hướng tới kết quả mà cả
2 mong đợi. Vì những thông số này dần trở
nên quan trọng hơn bao giờ hết, không chỉ
từ góc độ pháp lý mà còn hỗ trợ các chiến
lược điều trị, chúng tôi khuyến khích tất cả
các bác sĩ phẫu thuật ghi lại hình dáng và
kích thước của môi âm hộ. Ví dụ, bác sĩ
phẫu thuật tái tạo và phẫu thuật thẩm mỹ
luôn chú ý đến các số đo và hình dáng ngực
khi lập kế hoạch phẫu thuật ngực thẩm mỹ,
thì điều này cũng nên được áp dụng tương
tự đối với phẫu thuật vùng kín.

Phân loại các biến thể giải
phẫu trên lâm sàng
Phân loại Banwell đã được phát triển
để giúp phân nhóm các biến thể giải phẫu
chưa từng được quan sát thấy trước đó,
đồng thời đưa ra hướng điều trị phù hợp
cho từng phân nhóm. Điều này đã giúp giáo
dục bệnh nhân, hỗ trợ lập kế hoạch phẫu
thuật và tạo điều kiện cho các Bs tới từ
nhiều chuyên ngành khi thảo luận về chiến
lược điều trị cụ thể.
Về cơ bản, phân loại này chia CQSDN
nữ dựa trên vị trí và tương quan giữa môi
bé trong khu vực đáy chậu. Nó cũng tính
đến cả tương quan vị trí giữa hãm âm vật,
âm vật với môi bé. Chúng tôi nghĩ rằng tất
cả các bác sĩ lâm sàng cần phải nắm được
các biến thể giải phẫu này và các thông
số cơ bản của môi âm hộ để có nhận định
khách quan trên lâm sàng.
Hình thể ngoài của môi bé
Cần lưu ý các biến thể về hình dạng của
môi bé (Hình. 1-13). Có thể thấy, độ ‘nhô’ ra
nhiều nhất của môi bé có thể nằm ở đoạn
1/3 trên, giữa hoặc dưới. Chúng sẽ được
phân loại lần lượt là Loại I, Loại II và Loại
III. Cũng nên lưu ý độ ‘nhăn nheo’ và cân
đối hai bên môi bé, trong mối tương quan
với sắc tố da để có phương án điều trị thích
hợp.

15
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Loại I
Lồi đoạn 1/3 trên
Loại II
Lồi đoạn 1/3 giữa
Loại III
Lồi đoạn 1/3 dưới
1/3 trên
1/3 giữa
1/3 dưới
Hình. 1-13 Phân loại Banwell. A, Loại I: Lồi đoạn 1/3 trên B, Loại II: Lồi đoạn 1/3 giữa. C, Loại
III: Lồi đoạn 1/3 dưới. D, Hình thể lâm sàng thường gặp tương ứng đoạn 1/3 trên. E, Loại I:
Lồi đoạn 1/3 trên. Phần tăng sắc tố môi bé nên được ghi lại và thông báo cho bệnh nhân,
vì nó ảnh hưởng tới kết quả phẫu thuật khi áp dụng kỹ thuật Wedge (xem CHƯƠNG 4: Giảm
môi âm hộ: Kỹ thuật Wedge).

16
Chương 1
Giải phẫu và phân loại vùng kín ở nữ: Cơ sở cho chỉ định phẫu thuật
Hình. 1-14 A, Phân loại Banwell liên quan với tính đối xứng hai bên của môi bé. B, Trường
hợp này sẽ được phân Loại II (1/3 giữa) bên phải và Loại III (1/3 dưới) bên trái. C, Còn ca
này là loại I (phần ba phía trên) với sự bất đối xứng (bên phải dài hơn bên trái). D, Bất đối
xứng Loại I, trái; Bất đối xứng loại II, bên phải (bên phải lớn hơn bên trái). E, Bất đối xứng
Loại II (1/3 giữa hai bên), nhưng bên trái lớn hơn bên phải. F Bất đối xứng, Loại II (trái lớn
hơn phải).
Môi âm hộ cân đối và bất đối xứng
Sự bất đối xứng của môi âm hộ là cực kỳ
phổ biến và cũng như các phẫu thuật thẩm
mỹ khác (ví dụ như ngực và tai), cần được
ghi lại cẩn thận và chỉ ra cho bệnh nhân
(Hình. 1-14). Tình trạng mất cân đối này có
thể xuất hiện trên cùng 1 biến thể giải phẫu
hoặc giữa hai biến thể khác nhau.
Tương quan môi âm hộ và đáy
chậu
Vị trí phần gốc (nền) môi bé ‘bám’ phía
đáy chậu cũng rất khác nhau ở mỗi cá thể,
và hình ảnh môi bé nằm hai bên đáy chậu
được liên tưởng với hình ảnh đôi cánh. Tùy
theo hình dạng của ‘đôi cánh’ mà có chiến
lược phẫu thuật khác nhau (Hình 1-15 và
1-16). Chúng được phân chưa dựa trên độ
bám thấp nhất của phần da ‘dư thừa’ môi
bé, thành 3 nhóm là thấp (gần đáy chậu
nhất), trung bình và cao (xem hình trang
bên). Một số bệnh nhân có dạng cánh bám
thấp tới tận mép môi sau, sẽ là ‘ứng cử viên’
lý tưởng cho kỹ thuật wedge (xem CHƯƠNG
4).

17
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 1-15 Vị trí tương quan của môi âm hộ với đáy chậu.
Hình. 1-16 A, Tình trạng bất đối xứng hai bên theo phân loại điểm bám của môi bé so với
đáy chậu B, Kết hợp các phân loại: Trường hợp này là Loại I (1/3 trên) bên phải và Loại II
(1/3 giữa) bên trái. Do đó hai bên này bất đối. C, Loại II (1/3 giữa) bên phải, Loại III (1/3
dưới) bên trái, mũ âm vật 3 nếp gấp. Bệnh nhân này phần môi bé liên tục với mép môi sau,
lý tưởng cho kỹ thuật wedge.

18
Chương 1
Giải phẫu và phân loại vùng kín ở nữ: Cơ sở cho chỉ định phẫu thuật
Phức hợp âm vật – môi âm đạo
Do tính đa dạng các bộ phận cấu thành,
phức hợp âm vật-môi âm đạo cũng có sự
phong phú các biến thể giải phẫu trên lâm
sàng. Trong y văn, âm vật và mũ âm vật là
cấu trúc có kích thước nhỏ, nhưng cả hai
đều có khả năng tăng sản/phì đại và không
cân xứng hai bên. Thông thường, hãm âm
vật hình thành 2 dải từ vị trí mũ âm vật,
chạy xuống bám vào mặt sau của môi bé
(Hình. 1-17).
Ở hầu hết bệnh nhân, mũ âm vật chỉ còn
lại như một vết tích của sự tiến hóa, và do
đó có thể tách thành 2 nếp gấp riêng biệt đi
về hai phía của âm đạo. Trong tình huống
này, mũ âm vật, hãm âm vật và môi bé sẽ
hình thành nên các nếp gấp lớn, đôi khi mũ
âm vật còn đủ lớn để hợp nhất với hai bên
môi bé. Tùy theo độ lớn mà có loại âm vật
chiếm ưu thế và loại môi âm hộ chiếm ưu
thể (Hình. 1-18). Các biến thể giải phẫu
được mô tả chi tiết ở hình 1-19.
Hình. 1-17 CQSDN ‘tiêu chuẩn’ với mũ âm vật và hãm âm
vật nhỏ, gắn vào mặt sau của môi bé.

19
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 1-19 A, Loại I (1/3 trên) với nếp gấp đôi hai bên (mũ âm vật chiếm ưu thế). Mũ âm vật
lúc này khó quan sát được vì đã bị tách đôi. B, Loại II (1/3 giữa) môi âm hộ chiếm ưu thế, mũ
âm vật tách thành 2 nếp đi sang hai bên. C, Loại II (1/3 giữa) Đây là trường hợp rất hiếm với
nếp gấp đôi từ âm vật và môi âm hộ cân xứng hai bên. D, Loại II bên trái , loại I bên phải,
bất đối (trái cao hơn phải). Nếp gấp đôi với môi âm hộ chiếm ưu thế
Hình. 1-18 Giải phẫu
các ‘nếp gấp’ âm vật.
Đánh giá và ghi lại chi
tiết những biến thể giải
phẫu là bước tối quan
trọng. A, Loại mũ âm
vật chiếm ưu thế (đã
được mô tả trong y
văn). Hãm âm vật hợp
nhất với môi âm hộ để
tạo ra một nếp gấp đôi.
B, Môi âm hộ chiếm ưu
thế, tạo thành nếp gấp
đôi với mũ âm vật .
Mũ âm vật chiếm ưu thế
Môi âm hộ chiếm ưu thế

20
Chương 1
Giải phẫu và phân loại vùng kín ở nữ: Cơ sở cho chỉ định phẫu thuật
Hình. 1-20 A, Bộc lộ các mốc giải phẫu quan trọng. B, Bác sĩ phẫu thuật ghi lại những thông
số quan trọng của CQSDN bệnh nhân.
Đúc kết lâm sàng
Như một phần trong quá trình thực hành
lâm sàng, chúng tôi ghi nhận các phát hiện
mới trong quá trình phẫu thuật và ghi lại
vào sổ sách, vừa nhằm tích lũy kinh ng­
hiệm, vừa giúp bổ sung kiến thức mới cho
nền y học. Như trong Hình. 1-20, hình thái
của môi âm hộ đã được xác định là loại I,
cùng với sự hiện diện của nếp gấp âm vật
phía bên, và đặc trưng của tổ chức niêm
mạc. Kích thước của môi bé được ghi (theo
Motakef) tính bằng milimét. Trước khi phẫu
thuật, bệnh nhân và bác sĩ phẫu thuật đã
đồng ý phẫu thuật giảm 60% môi bé, và
điều này khiến kết quả đúng như mong đợi.
Mô hình thẩm mỹ lý tưởng
Khái niệm về mô hình thẩm mỹ lý tưởng
ngày một phổ biến, đặc biệt khi nói tới thẩm
mỹ vùng ngực. Tuy nhiên, thời điểm hiện tại
chưa có tiêu chuẩn về mô hình lý tưởng cho
phẫu thuật thẩm mỹ CQSDN, mặc dù từ y
văn và kinh nghiệm người bác sĩ, chúng ta
đều biết môi bé nên nằm phía trong môi lớn
để đảm bảo về cả mặt thẩm mỹ lẫn chức
năng.
Ủng hộ quan niệm này, Hamori và đồng
nghiệp đã khẳng định rằng xu hướng xã hội
có ảnh hưởng đến quan niệm của chúng ta
về tính thẩm mỹ. Từ sự phổ biến của việc
wax lông ở Brazil, những người mẫu trên
các phương tiện truyền thông mặc quần áo
tuyệt đối không được để lộ vùng kín và tính
ẩn danh của nội dung khiêu dâm trên in­
ternet có thể góp phần vào một tiêu chuẩn
mới về ‘nét đẹp’ của vùng kín.
Hơn nữa, Placik và Arkins đã đánh giá
những bức ảnh từ tạp chí Playboy và đưa ra
đề xuất một sự thay đổi tinh tế, như một xu
hướng mới, ‘đề cao’ nghệ thuật bức ảnh với
nét đẹp chủ đạo đến từ bộ phận nhạy cảm
này thay vì bộ ngực.
Mặc dù ngày càng có nhiều bệnh nhân
mong muốn ‘hình thể’ lý tưởng, nhưng quan
điểm về sự lý tưởng của họ cũng rất khác

21
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
nhau. Do đó phải chắc chắn được điều
bệnh nhân đang mong muốn, đối chiếu với
kết quả thăm khám lâm sàng và từ đó đưa
ra mục tiêu điều trị. Trong nỗ lực hướng tới
điều trị cá nhân hóa, khái niệm về sự hài
hòa (hoặc cân đối tỷ lệ) trên từng cá thể
được đặt lên hàng đầu. Có lẽ thuật ngữ này
ngụ ý một cách tiếp cận được đo lường kỹ
lưỡng và lượng hóa hơn là mang tính tương
đối, tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể
chứ không theo một chuẩn chung cứng
nhắc.
Kết luận
Các bác sĩ phẫu thuật tiến hành phẫu
thuật bộ phận sinh dục nữ nên hiểu rằng
phức hợp âm hộ có nhiều biến thể giải
phẫu. Chúng đã được công nhận và đưa
vào hệ thống phân loại mới. Kích thước và
hình dạng của cơ quan sinh dục nên được
xem xét rất cẩn trước khi lựa chọn phương
pháp phẫu thuật. Chúng ta nên dần chuyển
hướng tới y học cá nhân hóa thay vì điều trị
theo một chuẩn chung như trước.
Các quan điểm về tính thẩm mỹ lý tưởng
ngày một phổ biến; tuy nhiên, kết quả phẫu
thuật nên hướng tới sự hài hòa về tỷ lệ tùy
thuộc vào giải phẫu đặc trưng của từng
bệnh nhân. Cuối cùng và có lẽ là quan trọng
nhất, chúng tôi nghĩ rằng Bs cần phải được
nghiên cứu nguồn tài liệu đáng tin cậy, có
một cách tiếp cận khách quan, và tính toán
kỹ lưỡng trước bất kỳ trường hợp nào.

e-bacsy.com
Chương 2
Những vấn đề tâm lý và xã hội
thẩm mỹ vùng kín
liên quan tới phẫu thuật
Kharen Ichino, Jennifer L. Walden

23
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Những điểm chính
• Không có sự thống nhất giữa các nhà
giải phẫu học về hình dáng bên ngoài
bình thường của cơ quan sinh dục nữ.
Trên thực tế, chúng có rất nhiều biến
thể giải phẫu lâm sàng.
• Quan điểm hiện đại về một ‘vùng kín
hoàn hảo’ là một CQSDN không có lông
mu, da niêm mạc hồng và môi bé hoàn
toàn nằm phía trong môi lớn.
• Các nghiên cứu cho thấy kích thước
từng thành phần cấu thành của BPSDN
dao động trong một khoảng rất rộng,
khiến việc xác định chính xác kích thước
‘bình thường’ trở nên rất khó khăn.
• Phụ nữ đã trải qua các thủ/phẫu thuật
thẩm mỹ vùng kín đều cải thiện về mặt
tâm lý rõ rệt.
• Phẫu thuật cắt một/toàn phần BPSD
nữ (FGM hoặc FGC) là một trong những
vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất ở các
nước thế giới thứ ba (nước đang phát
triển) vì những bất đồng liên quan đến
truyền thống văn hóa hoặc tín ngưỡng
tôn giáo.
• Tiêu chuẩn về nét đẹp hoàn toàn mang
tính chủ quan đối với từng người, và
bằng cách nào đó đạt được đến vẻ đẹp
mong muốn sẽ giúp cải thiện trạng thái
tâm lý, thể chất và tình dục, kể cả việc
phải trải qua nhiều cuộc phẫu thuật
thẩm mỹ lớn.
Đối với ngành thời trang, quan niệm về
cái đẹp không ngừng thay đổi và phát triển,
điều này cũng tương tự đối với thẩm mỹ
cơ thể người. Vào những năm 1950, những
chủ đề liên quan đến CQSD đều là điều cấm
kỵ. Theo đó, phẫu thuật thẩm mỹ vùng kín
không được công nhận là chuyên ngành y
học chính thống. Ngày nay, với sự tổ chức
của các hiệp hội phẫu thuật thẩm mỹ trên
toàn thế giới, hàng triệu ca phẫu thuật thẩm
mỹ đã được thực hiện một cách công khai
và hợp pháp. Ví dụ, Hiệp hội Phẫu thuật Tạo
hình Thẩm mỹ Hoa Kỳ (ASAPS) gồm các
bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ có kinh nghiệm
và trình độ tốt, đã công bố rằng có khoảng
16 triệu ca phẫu thuật thẩm mỹ được thực
hiện ở Hoa Kỳ trong năm 2014. Các thủ
thuật phổ biến như nâng ngực và hút mỡ
dường như đã trở thành một phần quan
trọng xã hội hiện đại. Còn các phẫu thuật
thẩm mỹ vùng kín, được thực hiện từ cuối
những năm 1970, hiện đang phát triển rộng
rãi và có tiềm năng trở thành một xu thế
thời đại. Tuy nhiên một bộ phận dân số vẫn
còn những định kiến nhất định về chuyện
này. Theo ASAPS, 8745 phụ nữ đã phẫu
thuật tạo hình môi âm hộ(không bao gồm
trẻ hóa âm đạo) trong năm 2015 ở Hoa Kỳ.
Con số này có vẻ nhỏ so với các thủ thuật
thẩm mỹ khác, nhưng nó đã tăng 44% từ
năm 2013 — đây có thể coi là bằng chứng
xác đáng cho một xu thế mới đang dần
hình thành.
Những con số thể hiện sự gia tăng nhu
cầu thẩm mỹ vùng kín trên toàn thế giới đặt
ra một số câu hỏi: Liệu có tiêu chuẩn cho
một vùng kín “hoàn hảo”, và nếu có thì tiêu
chuẩn này gồm những gì? CHƯƠNG này đề
cập đến các định nghĩa về ‘vẻ đẹp’ vùng kín
ở nữ dựa trên quan điểm của từng nền văn
hóa. Hơn nữa, chúng tôi cũng sẽ đề cập tới
những thay đổi về hình thể cũng như tâm lý
người phụ nữ sau phẫu thuật, và cuối cùng
là những tác động của hiện tượng này tới
xã hội hiện đại.

Cách mạng thẩm mỹ vùng
kín: Tác động từ xã hội
Từ trước tới nay, chúng ta có thể thấy sự
gia tăng rõ rệt nhu cầu phẫu thuật tạo hình
vùng kín nhằm phục hồi chức năng và cải
thiện thẩm mỹ, đặc biệt là ở phương Tây.
Tạo hình môi âm hộ đã được thực hiện từ
những năm 1970, khi đó, hầu hết phụ nữ đã
thấy môi bé ‘thừa’ ra ngoài quá nhiều so với
môi lớn, và họ cần gặp Bs thẩm mỹ để giải
quyết vấn đề đó. Sự gia tăng dần dần xu

24
Chương 2
Những vấn đề tâm lý và xã hội liên quan tới phẫu thuật thẩm mỹ vùng kín
hướng này có thể là do ngày nay chúng ta
có thể dễ dàng tiếp cận hình ảnh và thông
tin qua Internet, chẳng hạn như những hình
ảnh thiếu vải trong phim khiêu dâm và
những bức ảnh của người nổi tiếng trong
trang phục bó sát, nội y và đồ bơi. Quần áo
bó sát như quần legging và quần tập yoga
đã trở thành xu hướng thời trang, điều này
khiến phụ nữ chú ý hơn tới từng đường cong
trên cơ thể mình. Ngày nay, những chủ đề
về giới tính được thảo luận nhiều, tuy nhiên
câu chuyện về vùng kín thì vẫn nằm trong
‘bóng tối’. Không giống như nam giới, ngay
cả khi phụ nữ khỏa thân hoàn toàn trước
những người phụ nữ khác, vùng kín của họ
vẫn luôn ‘kín’, đó dường như là mộtquy tắc
bất thành văn. Sự mơ hồ này khiến nhiều
phụ nữ không nhận thức được tất cả các
biến thể giải phẫu về kích thước, hình dạng
và màu sắc của vùng này; do đó hình ảnh
được xem trong sách báo và sách giáo
khoa khiêu dâm được coi là tiêu chuẩn.
Trong một số nghiên cứu, hầu hết phụ
nữ mô tả một vùng kín ‘tiêu chuẩn’ là vùng
không có lông mu, da niêm mạc hồng với
môi âm hộ rất nhỏ hoặc chỉ còn lại vết
tích. Trong một bộ phim tài liệu gần đây
do Lisa Rogers viết có tựa đề “âm hộ hoàn
hảo”, cô đã khắc họa chi tiết về cách mà
chúng ta nhìn nhận một vấn đề nhạy cảm
dưới góc độ xã hội. Một cô gái 16 tuổi nghĩ
rằng bạn trai sẽ không còn hứng thú sau
khi nhìn thấy cơ quan sinh dục của cô, vì
vậy cô quyết định phẫu thuật khi còn khá
sớm. Trong một câu chuyện khác, một phụ
nữ 21 tuổi đã bị chính chị gái của mình và
những người bạn nam khác trêu chọc về
vấn đề đó, mặc dù thậm chí họ còn chưa
từng nhìn thấy. Cô ấy cảm thấy rất xấu hổ
nếu để ai đó nhìn thấy, vì thế đã bỏ khám
phụ khoa hàng năm, điều này có thể dẫn
đến các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng hơn,
đặc biệt là viêm nhiễm âm đạo hoặc ung
thư. Trong những câu chuyện trên, quan
điểm của người khác giới đóng một vai trò
quan trọng, nhưng thực tế cho thấy 98%
đàn ông không bao giờ quan tâm đến ‘vẻ
ngoài’ của chúng, trái ngược hoàn toàn với
những gì truyền thông đang ‘dắt mũi’ chúng
ta. Những nhận định sai lầm này còn khiến
một số phụ nữ bắt đầu so sánh bản thân
với hình ảnh mà họ coi là hoàn hảo, dẫn tới
những mặc cảm không đáng có.

Góc nhìn phương tây
Ở các quốc gia như Hoa Kỳ, Vương quốc
Anh và Úc, nơi có quan điểm văn hóa và
tôn giáo đa dạng, ý niệm về một vùng kín lý
tưởng khá chủ quan. Giáo dục giới tính và
chức năng của cơ quan sinh dục được dạy
ở trường, nhưng thường họ không được dạy
kỹ về sự đa dạng của kích thước, hình dạng
và màu sắc vùng kín. Việc thiếu thông tin
này khiến nhiều cô gái trẻ băn khoăn không
biết hình dáng bên ngoài của vùng kín có
bình thường không. Lloyd và cộng sự đã
thực hiện một nghiên cứu vào năm 2004
để trả lời câu hỏi này. Họ đã đo các bộ phận
cấu thành vùng kín - bao gồm âm vật, môi
lớn và môi bé – và đánh giá sự khác biệt
màu sắc của 50 phụ nữ khác nhau trong độ
tuổi từ 18 đến 50 và thuộc các sắc tộc khác
nhau. Nhìn chung, những người phụ nữ này
cho rằng vùng kín lý tưởng khi kích thước
các bộ phận cấu thành đều nhỏ và cân đối.
Tuy nhiên, kết quả cho thấy kích thước âm
vật dao động từ 5 đến 35 mm, chiều dài
môi lớn từ 7 đến 12 cm, chiều dài môi bé
từ 20 đến 100 mm và chiều rộng môi bé từ
7 đến 50 mm. Các phạm vi này quá rộng
để xác định một kích thước ‘tiêu chuẩn’.
Ngay cả trong các tài liệu y khoa, rất ít tài
liệu mô tả cụ thể kích thước chuẩn của cơ
quan sinh dục nữ. Tuy nhiên hầu hết đều
coi cơ quan sinh dục nữ là đầy đủ và bình
thường nếu nó hoạt động bình thường. Để
nhấn mạnh thêm về sự đa dạng của BPSD
nữ, nghệ sĩ Jamie McCartney đến từ Vương
quốc Anh đã tạo ra một tác phẩm điêu khắc
trên tường được làm bằng thạch cao gồm
400 bộ phận sinh dục phụ nữ khác nhau,
đã được trưng bày tại Bảo tàng Triennale ở

25
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Milan, Phòng trưng bày trung tâm thương
mại London.
Sharp và cộng sự đã công bố nghiên
cứu đầu tiên liên quan đến bệnh nhân tạo
hình môi âm hộ, phát hiện ra rằng phương
tiện truyền thông trực tuyến và bình luận
tiêu cực của bạn bè đóng một vai trò quan
trọng trong quyết định phẫu thuật tạo hình
môi âm hộ của họ. Phụ nữ thường hài lòng
với kết quả phẫu thuật tạo hình môi âm hộ
và do đó giải quyết được những vấn đề tâm
lý và tình dục của họ. Tuy nhiên, không phải
trường hợp nào cũng vậy.

Góc nhìn đa chiều
Trái ngược với quan điểm hiện đại của
các nước phương Tây về phẫu thuật thẩm
mỹ vùng kín, các nước Đông Nam Á và một
số quốc gia ở châu Phi có các quy tắc văn
hóa tiêu chuẩn, theo đó việc phẫu thuật
BPSD không phải vì muốn cải thiện thẩm
mỹ hoặc vì rối loạn chức năng. Ở đây, tín
ngưỡng tôn giáo lại là lý do chính khiến họ
buộc phải làm ‘phẫu thuật’.
Nhiều phụ nữ ở các nước thế giới thứ
ba sống trong các cộng đồng tôn giáo lớn
và / hoặc nơi có truyền thống văn hóa đặc
trưng, nơi mọi việc được làm theo một quy
chuẩn nhất định mà không cần biết tới lý
do. Nhiều người Hồi giáo tuân theo những
lời dạy trong kinh Koran tin rằng việc cắt bỏ
môi âm hộ, mũ âm vật hoặc thậm chí toàn
bộ BPSD là dấu hiệu của sự trong trắng và
là tiêu chuẩn của người phụ nữ đã sẵn sàng
lấy chồng.
Hầu hết các cô gái trẻ đều phải thực
hiện hủ tục này, mặc dù không có lý do nào
xác đáng cho chuyện đó. Điều đáng nói là
không ai được báo trước về những gì sắp
diễn ra với họ, mà dường như đây là một thủ
tục bắt buộc trong cộng đồng dân tộc/tôn
giáo. Tuy nhiên, vì ai cũng phải làm nên họ
coi đó là một việc hoàn toàn bình thường,
bất kể có muốn hay không.
Câu chuyện này nếu được kể ra thì sẽ
là một điều không tưởng ở các quốc gia
Tây phương, nơi mọi người có toàn quyền
quyết định đối với những gì gây ra cho cơ
thể của họ. Hậu quả là, việc thực hiện các
thủ tục bắt buộc đó cũng làm định nghĩa về
vẻ đẹp vùng kín của họ bị méo mó đi. Người
phương Tây có quan điểm chung về một
‘vùng kín hoàn hảo’ trong khi những cộng
đồng còn lại cho rằng những người đã được
thực hiện FGM hoặc FGC mới là tiêu chuẩn
cho cái đẹp. Tuy nhiên, khách quan nhất thì
vẻ đẹp của mỗi người nên do họ quyết định.

Những biến đổi tâm lý sau
thực hiện phẫu thuật BPSD
nữ
Những phụ nữ tự quyết định thực hiện
trẻ hóa âm đạo đã có cải thiện tâm lý rõ
rệt, và ngược lại, ở những người thực hiện
FGM một cách bắt buộc, hầu hết không hài
lòng với kết quả. Cụ thể, trong số 258 phụ
nữ đã được phẫu thuật thẩm mỹ, khoảng
92% hài lòng với các kết quả đó. Sự hài lòng
về chuyện tình dục, mặc dù là một đánh
giá chủ quan, đã tăng đáng kể ở phụ nữ và
bạn tình của họ. Điều này có thể là do tác
động tâm lý khi biết rằng đã được thực hiện
phẫu thuật làm đẹp, chứ không hẳn là do
tác động thực sự của kết quả phẫu thuật
đem lại. Những người khác thì thấy rằng có
cải thiện tính thẩm mỹ nhưng chuyện tình
dục thì không quá nhiều. Cô gái 21 tuổi đã
đề cập đến trước đó, người bị chị gái trêu
chọc, nói rằng cô hài lòng với kết quả ngay
sau khi được phẫu thuật cắt bỏ một phần
môi âm hộ. Mặc dù không thể tránh khỏi
cảm giác khó chịu và đau đớn sau phẫu
thuật, cô ấy nói rằng cuộc sống của cô đã
thực sự sang một trang mới. Kể cả đối với
những người bạn khác giới hay bàn tán về
cô ấy đi chăng nữa, tất cả cũng chỉ dừng lại
ở những câu chuyện phiếm. Vì thực sự thì
những người bạn này không quá quan tâm

26
Chương 2
Những vấn đề tâm lý và xã hội liên quan tới phẫu thuật thẩm mỹ vùng kín
tới ngoại hình khu vực đó. Tất nhiên cô vẫn
đạt được sự tự tin nhất định sau khi biết
rằng sẽ không ai có thể bàn tán về mình
cùng với những câu chuyện nhạy cảm nữa.

FGM và các giá trị văn hóa
FGM đã là một chủ đề gây tranh cãi
được thảo luận trong nhiều thập kỷ và bị
cấm ở các nước hiện đại, tuy nhiên những
nghi lễ này vẫn diễn ra ở các nước đang
phát triển thuộc Châu Phi và Đông Nam Á.
Những phụ nữ đã trải qua quá trình này đều
cho biết họ rất đau đớn nhưng không ai có
quyền được sợ hãi và phải cảm thấy hạnh
phúc vì điều đó. Khao khát được cộng đồng
và gia đình chấp nhận đã chế ngự được nỗi
sợ và nỗi đau. Trong những cộng đồng như
vậy, việc thực hiện FGM là điều bắt buộc và
ít căng thẳng hơn là đặt ra câu hỏi tại sao
cần làm như vậy. Những người nhận thức
được sớm và cố tình không thực hiện tập
tục này đều được coi như là một nỗi ô nhục
của toàn bộ cộng đồng người.
Infibulation (khóa tránh giao hợp) là một
thủ thuật FGM trong đó hầu hết âm vật của
phụ nữ, môi bé, và đôi khi môi lớn được cắt
bỏ và âm hộ được khâu kín, chỉ để lại một
lỗ nhỏ cho phép kinh nguyệt và nước tiểu
thoát ra. Đây là một biện pháp cực đoan
để đảm bảo sự trinh trắng, theo đó, âm hộ
chỉ được ‘mở’ ra lại khi người phụ nữ này
đã có chồng và họ vẫn sẽ phải khâu chúng
lại khi người chồng vắng mặt/mất. Điều này
được coi là truyền thống ở một số nền văn
hóa Đông Bắc Phi nhưng cũng là ‘truyền
thống’ gây nhiều tranh cãi nhất. Đó là một
hành động đàn áp đối với phụ nữ, những
người sinh ra để làm vợ và mang thai càng
nhiều con càng tốt. Không có bất kỳ quyền
tự do cá nhân nào, kể cả tự do làm việc,
mục đích duy nhất của họ là làm hài lòng
chồng và được cộng đồng chấp nhận. Về
mặt này, những người phụ nữ chấp nhận
thực hiện FGM được coi là đủ tiêu chuẩn
làm vợ và cũng chứng tỏ được lòng chung
thủy trong hôn nhân. Nhiều người không tin
vào câu chuyện này và cho rằng nó là phi
lý; tuy nhiên, từ quan điểm của các thành
viên có tiếng nói trong cộng đồng, những
người không thực hiện FGM đều bị coi là
dị biệt, và bị kỳ thị. Mặc dù đi ngược lại với
khoa học và quyền con người, những cộng
đồng này vẫn tiếp tục duy trì ‘truyền thống’
đó suốt bao nhiêu năm. Vì thật ra, việc cố
gắng thay đổi một tập tục lâu đời còn khó
hơn là chấp nhận và tiếp tục duy trì nó.
Tương tự, phụ nữ trẻ ở một số nền văn
hóa Trung Đông tự nguyện tìm tới các dịch
vụ tạo hình màng trinh. Bởi vì một số tôn
giáo yêu cầu nghiêm ngặt phụ nữ trẻ phải
còn trinh cho đến khi kết hôn, những phụ
nữ đã có quan hệ tình dục quyết định tìm
cách ‘vá’ lại màng trinh của họ. Màng trinh
là một màng bao bọc một phần hoặc hoàn
toàn cửa âm đạo. Hầu hết mọi người cho
rằng màng này sẽ rách ngay trong lần quan
hệ đầu tiên, vì thế người chồng có thể kiểm
chứng ngay trong lần đầu tiên quan hệ với
vợ của mình.
Chẳng hạn, một cô gái theo đạo Hồi
muốn sửa lại màng trinh trước cuộc hôn
nhân được sắp đặt vì cô ấy biết mình sẽ bị
gia đình xa lánh nếu họ phát hiện ra rằng cô
ấy không còn trinh trắng. Cô ấy nói rằng cha
mẹ cô ấy thà tự sát còn hơn để người khác
biết rằng con gái họ đã mất trinh trước khi
kết hôn. Khi được hỏi về suy nghĩ kết hôn
với một cô gái đã mất trinh, những người
đàn ông trong cùng cộng đồng đó trả lời
rằng điều đó là không thể chấp nhận được
trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Sự xua đuổi
người khác giới và tin rằng cái chết là một
viễn cảnh có khi còn tốt hơn mất trinh trước
hôn nhân đã tạo ra những lo lắng và căng
thẳng nghiêm trọng cho phụ nữ sống trong
nền văn hóa này. Nhiều người phương Tây
có thể phản đối quyết định của cô gái này,
nhưng đối với cô, việc tạo hình lại màng
trinh là cách duy nhất cứu cả phần đời còn
lại của cô ấy. Những phụ nữ Hồi giáo trẻ

27
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
này tìm kiếm một thủ tục mà họ nghĩ rằng
sẽ có lợi cho cuộc sống của họ trong cộng
đồng của họ, bất kể quyết định đó có mâu
thuẫn với quan điểm cá nhân hay không.

Sự khác biệt căn bản giữa
phẫu thuật thẩm mỹ vùng
kín và FGM
Bốn nguyên tắc cơ bản phân biệt FGM
với phẫu thuật thẩm mỹ vùng kín: (1) quyền
tự chủ của bệnh nhân, (2) không ép buộc, (3)
quyền lợi và (4) công lý. Những nguyên tắc
này giúp đảm bảo rằng bệnh nhân sẽ được
thực hiện thủ thuật bởi những Bs có trình
độ chuyên môn cao, với sự hỗ trợ toàn diện,
và đồng thuận tới từ đôi bên. FGM thường
được thực hiện mà không cần thông báo
hoặc tư vấn, trong khi các phẫu thuật thẩm
mỹ vùng kín thì ngược lại, Bs sẽ giải thích
chi tiết tình trạng bệnh, phương pháp phẫu
thuật, rủi ro, lợi ích, các biến chứng có thể
xảy ra và chăm sóc sau phẫu thuật trước
khi bệnh nhân quyết định thực hiện.

Kết luận
Về cơ bản, không có một chuẩn chung
nào cho bộ phận sinh dục ngoài của phụ
nữ, thực tế cho thấy nhiều phụ nữ đã cải
thiện về mặt thể chất và tâm lý sau phẫu
thuật nhằm tiến tới tiêu chuẩn mà chính họ
đặt ra. Vì có rất nhiều biến thể giải phẫu
lâm sàng với sự đa dạng kích thước, màu
sắc và sự sắp xếp nên rất khó để xác định
một tiêu chuẩn cho tất cả. Những quan
điểm về cái đẹp ngày càng phong phú đã
giải thích tại sao phẫu thuật thẩm mỹ cơ
quan sinh dục nữ ngày càng phổ biến và tại
sao bản thân phẫu thuật tạo hình môi âm
hộ lại mang lại sự hài lòng cao cho bệnh
nhân, từ nhận thức, sự tự tin trong tình yêu,
tình dục và cao hơn cả là nâng cao chất
lượng cuộc sống.

e-bacsy.com
Chương 3
Sự đồng thuận và tính pháp lý
thẩm mỹ vùng kín
trong việc thực hiện phẫu thuật
Neal R. Reisman

29
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Những điểm chính
• Bs cần biết được những mong đợi của
bệnh nhân trong lần can thiệp sắp tới.
• Mong muốn của bệnh nhân phải thực
tế, tương ứng với tình trạng lâm sàng
của họ
• Sự đồng thuận là đồng ý cho cả 1 quá
trình chứ không chỉ đơn thuần là một
chữ ký trên giấy.
• Bác sĩ phẫu thuật nên giải thích kỹ cả
ưu lẫn nhược điểm của phương pháp
phẫu thuật cho bệnh nhân.

Những vấn đề về tính pháp
lý trong thực hành y khoa
Các vấn đề pháp lý cơ bản về y tế bao
gồm các vi phạm về pháp luật và đạo đức,
sự đồng thuận, mức độ can thệp và chi phí
cũng như sự bảo đảm cho kết quả của mỗi
thủ thuật. Hầu hết các bệnh nhân nữ đều
tự nguyện thực hiện phẫu thuật. Tuy nhiên
xét về tính pháp lý và đạo đức y khoa, bác sĩ
phải đạt được 4 yêu cầu như sau:
• Có nghĩa vụ điều trị toàn diện cho bệnh
nhân
• Tuyệt đối không vi phạm các tiêu chuẩn
đạo đức hoặc nghề nghiệp
• Trách nhiệm trong điều trị và xử trí tình
huống
• Không gây tổn hại thêm cho bệnh nhân
Yếu tố đầu tiên cần thiết lập trong khiếu
nại về sơ suất trong điều trị y tế là nghĩa vụ
điều trị bệnh nhân. Nghĩa vụ này người Bs
buộc phải hết lòng thực hiện khi bệnh nhân
đã được nhập viện điều trị. Yếu tố thứ hai
là vi phạm nghĩa vụ đó. Về căn bản không
ai muốn thực hiện những sai phạm, nhưng
giữa những chuyên khoa luôn tồn tại sự
khác biệt trong chiến lược điều trị mà điều
này hình thành nên sự vi phạm vào công
tác điều trị toàn diện cho bệnh nhân. Chăm
sóc tiêu chuẩn cho bất kỳ bệnh nhân nào
đều bao gồm các liệu pháp đến từ nhiều
chuyên khoa, mà nếu không có sự đồng
thuận của hội đồng đạo đức y khoa hay các
bác sĩ khác, điều này được coi là vi phạm.
Yếu tố thứ ba, là tránh hành động dẫn tới
các sai phạm (mặc dù đôi khi không điều
trị cho bệnh nhân cũng là một sai phạm, vì
thực tế thì họ cần được trị liệu). Các nguyên
nhân này rất đa dạng, tùy theo từng trường
hợp. Yếu tố cuối cùng là tổn hại cho bệnh
nhân. Điều này có thể dễ gây hiểu lầm, vì
trong quá trình liền vết mổ, bệnh nhân có
thể xuất hiện những bất thường nhưng sẽ
hồi phục ngay sau đó, và tất nhiên những
bất thường này không được coi là tổn hại
cho bệnh nhân. Các tổn hại thực sự như
tình trạng đau đớn kéo dài sau phẫu thuật,
phẫu thuật bổ sung hoặc phẫu thuật lại do
các biến chứng không hồi phục và liền vết
mổ chậm. Có thể thấy rằng nếu tuân theo
các quy tắc chăm sóc tiêu chuẩn thì khả
năng xảy ra tổn hại cho bệnh nhân là rất
thấp.
Không đáp ứng được kỳ vọng của bệnh
nhân và những bất đồng về chi phí điều
trị cũng là nguyên nhân dẫn tới những vụ
kiện tụng. Do đó việc giải thích kỹ cho bệnh
nhân từng khâu trong toàn bộ quá trình
là điều tối quan trọng trong công tác điều
trị. Tôi nghĩ rằng các bác sĩ hãy khôn khéo
trong việc lựa chọn bệnh nhân điều trị, tìm
được những bệnh nhân phù hợp với mình
là tốt nhất. Tuy nhiên điều này thường khó
khăn, nhất là khi các bác sĩ mới chỉ thăm
khám lần đầu, chưa tạo được thiện cảm
nhất định cho bệnh nhân, thì sẽ thật khó
để tìm được mục tiêu chung. Khuyên các
bác sĩ nên thấu hiểu vấn đề của bệnh nhân,
đồng cảm với họ và thực sự tận tình trong
chăm sóc, điều này sẽ giúp bệnh nhân hài
lòng, đồng thời Bs sẽ tránh được các rắc rối
không mong muốn.

30
Chương 3
Sự đồng thuận và tính pháp lý trong việc thực hiện phẫu thuật thẩm mỹ vùng kín
Các vấn đề pháp lý trong
phẫu thuật thẩm mỹ vùng
kín
Phẫu thuật khu vực này có nhiều rủi ro
và thậm chí dễ xảy ra biến chứng hơn các
vùng khác nhiều, ngay cả khi đã được chăm
sóc tốt nhất. Bệnh nhân nên chấp nhận các
khó chịu thường gặp phải sau phẫu thuật,
bao gồm sẹo, nhiễm trùng, chảy máu, giao
hợp đau, chậm liền vết mổ, thậm chí là
phải phẫu thuật lại nếu chưa đạt yêu cầu.
Để bệnh nhân có thể chấp nhận được, bác
sĩ phẫu thuật nên cẩn thận tư vấn ban đầu
và trong suốt quá trình chăm sóc cho bệnh
nhân, với lời trấn an “Chúng tôi không mong
điều này xảy ra với bạn, nhưng vì chúng luôn
tiềm ẩn, bạn nên biết về chúng”. Những yếu
tố nguy cơ làm tăng khả năng xuất hiện biến
chứng như hút thuốc, thay đổi dinh dưỡng
từ các quy trình ăn kiêng và giảm cân, ảnh
hưởng của việc thường xuyên dùng thuốc
giảm đau, và không tuân thủ các hướng
dẫn sau phẫu thuật cũng như hạn chế hoạt
động sẽ là những vấn đề Bs cần đánh giá
chi tiết. Bệnh nhân nên được thông báo
về các rủi ro khi họ quyết định thực hiện
phẫu thuật và tất nhiên Bs sẽ không chịu
trách nhiệm cho bất kỳ biến chứng nào nếu
bệnh nhân không tuân thủ hướng dẫn điều
trị. Tất cả bệnh nhân đều cần được ký vào
một văn bản, trong đó nêu rõ yêu cầu tuân
thủ các hướng dẫn trước và sau phẫu thuật,
đồng thời giải thích rằng những bệnh nhân
không tuân thủ sẽ chịu trách nhiệm về chi
phí của bất kỳ phẫu thuật bổ sung nào. Ví
dụ, những bệnh nhân phẫu thuật tạo hình
môi âm hộ vẫn còn hút thuốc trước và/
hoặc sau khi phẫu thuật có nguy cơ biến
chứng vết mổ rất cao. Những bệnh nhân
này nên ký một bản cam đoan nêu rõ rằng
họ sẽ phải trả tiền cho bất kỳ can thiệp nào
sau đó để giải quyết biến chứng.
Các bác sĩ phẫu thuật có thể dự đoán
các biến chứng và thông báo cho bệnh
nhân trước khi chúng xảy ra thì được coi
là Bs giỏi; nhưng nếu xảy ra trường hợp
ngược lại thì hầu như không ai chấp nhận
và chỉ coi đó là cái cớ bao biện cho trình
độ chuyên môn kém của họ. Lời khuyên tốt
nhất mà tôi có thể đưa ra là thảo luận với
bệnh nhân về tất cả những rủi ro và lợi ích
cho bệnh nhân trước phẫu thuật đồng thời
nêu rõ rằng mong muốn của họ có thực tế
đối với tình trạng hiện tại của bệnh nhân
hay không.
Bác sĩ cần nhận được sự đồng thuận
của bệnh nhân trước tất cả các thủ/phẫu
thuật. Chúng ta đều biết rõ điều này quan
trọng, nhưng ít khi làm đầy đủ các bước để
nhận được sự đồng ý của bệnh nhân. Các
nghiên cứu về tim mạch cho thấy, bệnh
nhân chỉ hiểu và lưu giữ lại khoảng 35%
lượng thông tin chúng ta giải thích mỗi một
lần thăm khám/tư vấn. Tuy nhiên, những
dữ liệu này đã cũ và bằng cách trình bày
thông tin theo cách phù hợp với bệnh nhân
— kết hợp sự tiếp nhận thông tin từ thị giác,
thính giác và xúc giác —tốc độ hiểu và lưu
trữ thông tin của bệnh nhân có thể cao hơn
nhiều. Thông qua sự hợp tác của bác sĩ
phẫu thuật, điều phối viên, y tá và những
người khác, kết quả có thể đạt được như
ý muốn nếu bệnh nhân được nhận nguồn
thông tin bằng cách họ dễ tiếp thu nhất.
Càng tiếp xúc nhiều thì bác sĩ phẫu thuật
càng hiểu rõ hơn về kỳ vọng của bệnh nhân
và khả năng đạt được mục đích đó trên cơ
sở tình trạng lâm sàng của họ, đồng thời
bệnh nhân càng hiểu rõ hơn về các rủi ro và
biến chứng có thể xảy ra.
Quá trình tiếp xúc và giải thích cho bệnh
nhân đòi hỏi người Bs tính kiên nhẫn. Cần
dành một khoảng thời gian thích hợp cho
các câu hỏi và câu trả lời và hãy chắc chắn
rằng bệnh nhân đã hiểu những gì có thể
đạt được, những gì không cũng như những
biến chứng có thể xảy ra. Việc này có thể
mất nhiều thời gian thăm khám, tư vấn chứ
không chỉ đơn thuần là một chữ ký trên giấy
tờ. Đối với những người chưa hiểu, bác sĩ
phẫu thuật khôn ngoan sẽ tiếp tục kiên trì
giải thích, giúp bệnh nhân cân bằng được

31
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
lợi ích và rủi ro có thể xảy ra với họ trước
khi hoàn toàn đồng ý phẫu thuật. Và người
Bs giải thích phải chính là người chịu trách
nhiệm phẫu thuật cho bệnh nhân. Y tá
hoặc điều phối viên thực hành có thể hỗ trợ
nhưng không thể nói rõ và trả lời cặn kẽ các
câu hỏi phẫu thuật cho họ.
Do biến thể giải phẫu khác nhau của
vùng sinh dục, cần phải có các thủ thuật
mới, hoặc các biến thể của kỹ thuật tiêu
chuẩn để đạt được kết quả thẩm mỹ tốt
nhất. Bệnh nhân cần được thông báo về
các đường rạch bác sĩ sẽ thực hiện trước
khi phẫu thuật để chắc chắn rằng chúng là
hợp lý đối với tình trạng bệnh của họ. Xem
lại hình ảnh trước và sau phẫu thuật (chụp
với bệnh nhân ở tư thế sản khoa) là một
bước quan trọng với tất cả các bệnh nhân
thẩm mỹ bộ phận sinh dục. Vị trí sẹo có thể
xuất hiện nên được chỉ ra cho bệnh nhân
trước khi phẫu thuật.
Trước khi thực hiện một thủ thuật mới
hoặc một biến thể của các kỹ thuật tiêu
chuẩn, một bác sĩ phẫu thuật có kinh ng­
hiệm có thể thông báo trước với bệnh nhân,
“Tôi đang dựa vào kinh nghiệm lâm sàng
và đào tạo của mình để quyết định phương
thức phẫu thuật phù hợp nhất.”. Thông
thường, các quy trình mới như vậy đều là
các biến thể của các quy trình thường quy,
được chấp nhận để tạo thuận lợi cho cả
bác sĩ phẫu thuật lẫn bệnh nhân. Tuy nhiên,
các bác sĩ phẫu thuật phải thông báo: “Đây
là một thủ tục mới và đã được chấp nhận
bởi các chuyên gia đầu ngành.” Quy trình
này phải dựa trên những kiến thức chuyên
ngành và bài báo có cơ sở, được bình duyệt
và chấp nhận. Cần nói rằng, một quy trình
hoàn toàn mới nên có sự chấp nhận của
hội đồng chuyên môn y khoa, cũng như sự
đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.
Các biến thể của các thủ thuật tiêu
chuẩn có thể không cần sự cho phép của
hội đồng. Tuy nhiên, các ghi chép đầy đủ về
thủ tục, kinh nghiệm liên quan đến thủ tục,
rủi ro, nguy cơ, mục tiêu thực tế và các lựa
chọn thay thế vẫn cần được nêu ra và thông
báo cho bệnh nhân đầy đủ. Nếu không tuân
thủ đúng, những bệnh nhân sau này đâm
đơn kiện sẽ nói, “Tôi sẽ không bao giờ đồng
ý với phẫu thuật đó nếu biết rằng nó là thử
nghiệm và bác sĩ không có kinh nghiệm.”
Bác sĩ cần nằm được lý do đến phòng
khám cũng như mục tiêu của bệnh nhân.
Những kết quả không như mong đợi có thể
là nguồn cơn của những vụ kiện. Thông qua
các cuộc thảo luận thẳng thắn và cởi mở
trong quá trình tư vấn, những mong muốn
đó có thể được bệnh nhân bộc bạch. Hiếm
khi các can thiệp phẫu thuật thẩm mỹ có
thể giúp cải thiện hạnh phúc gia đình, đặc
biệt khi chúng đã đổ vỡ sẵn. Nếu một bệnh
nhân tiết lộ rằng lý do của cô ấy đến phẫu
thuật là muốn cải thiện đời sống tình dục
sau hôn nhân và sự thân mật nói chung thì
cơ bản Bs vẫn sẽ hiểu được mình cần làm gì,
tuy nhiên điều này không được ghi rõ trong
giấy tờ. Khi bác sĩ phẫu thuật thấy rằng kỳ
vọng bệnh nhân khó có thể đạt được, họ
có trách nhiệm nêu rõ “điều đó thực sự rất
khó/không khả thi” và do đó họ không đảm
bảo rằng bệnh nhân sẽ được như mong
muốn. Tuy nhiên, nếu mục tiêu của bệnh
nhân có thể đạt được nếu áp dụng các biện
pháp mới, Bs nên lựa chọn kỹ bệnh nhân đủ
tiêu chuẩn thực hiện, và đảm bảo rằng tỉ lệ
thành công ở những trường hợp này là cao.
Các vấn đề bổ sung liên quan đến tính
pháp lý bao gồm các vấn đề về chi phí. Cần
có một thỏa thuận tài chính bằng văn bản
rõ ràng, trong đó nêu rõ các chi phí, bao
gồm phí phẫu thuật, phí cơ sở vật chất, phí
gây mê/tê, chi phí xét nghiệm CLS và các
chi phí phát sinh khác. Tôi khuyến cáo rằng
không tính thêm phí phẫu thuật cho những
phẫu thuật chỉnh sửa trong vòng 1 năm kể
từ lần phẫu thuật đầu tiên để cải thiện/duy
trì kết quả, với điều kiện bệnh nhân tuân thủ
tất cả các hướng dẫn và thăm khám theo
lịch trình. Phí bổ sung cho cơ sở vật chất
và gây mê/tê có thể cần thiết trong một
số trường hợp. Do đó, ngay cả khi bác sĩ
phẫu thuật miễn chi phí cho các thủ/phẫu

32
Chương 3
Sự đồng thuận và tính pháp lý trong việc thực hiện phẫu thuật thẩm mỹ vùng kín
thuật chỉnh sửa, bệnh nhân vẫn có thể phải
trả thêm phí phát sinh khác. Những bệnh
nhân không tuân theo hướng dẫn, không tái
khám, hút thuốc… sẽ không được miễn phí
theo đúng quy định của thỏa thuận.
Bác sĩ phẫu thuật nên nắm được những
chính sách của thỏa thuận đôi bên, bao
gồm ‘bảo hành’ trong văn bản và ‘bảo hành’
giữa người với người. Bảo hành trên giấy tờ
là một yếu tố cụ thể, chẳng hạn như ảnh
chụp, bản vẽ, hoặc một thứ gì đó minh họa
tình trạng trước và sau phẫu thuật có trong
hồ sơ. Chúng cho thấy kết quả có thể đạt
được ở trên bệnh nhân sua phẫu thuật. Khi
không đạt được kết quả này, Bs có thể bị
kiện vì đã vi phạm thỏa thuận đôi bên. Do
đó, cần phải cẩn thận khi sử dụng các thiết
bị trực quan để mô tả vết mổ, vết sẹo cũng
như những hiểu lầm của bệnh nhân về kết
quả. Sau đó, bệnh nhân nên được quan sát
một sơ đồ chứa tất cả các khả năng có
thể xảy ra với họ để giúp họ hiểu những gì
đang diễn ra trên cơ thể mình, thay vì chỉ
nói chung chung hoặc chắc chắn 1 trường
hợp duy nhất.
Một bảo hành giữa người với người xuất
hiện khi bệnh nhân có mong muốn mà phẫu
thuật khó có thể đạt được. Ví dụ, một bệnh
nhân tiết lộ rằng cô ấy có một chuyến công
tác rất quan trọng đến một khu nghỉ mát
ở bãi biển 2 tuần sau khi phẫu thuật. Nếu
không xác định rõ với bệnh nhân những
nguy cơ và rủi ro khi nơi lỏng việc chăm
sóc vết mổ sau phẫu thuật, họ sẽ nghĩ rằng
mình có thể tham gia cuộc họp này. Và tất
nhiên nếu có biến chứng nào xảy ra với bệnh
nhân, bác sĩ sẽ là người vi phạm. Do đó cần
thảo luận kỹ với bệnh nhân, chỉ khác là, nội
dung cuộc thảo luận/tư vấn sẽ không được
ghi lại. Và khi chắc chắn bệnh nhân hiểu
được mọi nguy cơ, nhưng vẫn muốn phẫu
thuật, bác sĩ mới được quyền quyết định,
dựa trên những cam đoan rõ ràng.
Nắm được các kỳ vọng và mục tiêu là rất
quan trọng, để Bs có thể hiểu được mong
muốn của bệnh nhân xuất phát từ họ hay
ảnh hưởng của người bạn tình của họ và
những người khác. Những phẫu thuật này
nhằm giải quyết vấn đề tâm lý là chính. Do
đó bác sĩ cần đưa ra tất cả các nguy cơ có
thể có để bệnh nhân có thể cân nhắc, vì rõ
ràng đây chưa phải là một trường hợp thực
sự cần phẫu thuật. Các bác sĩ phẫu thuật
phải hết sức thận trọng với những bệnh nhân
đưa ra các kết quả mong đợi không thực tế
hoặc nằm ngoài phạm vi chuyên môn. Việc
nhận bệnh nhân, lấy tiền và phẫu thuật cho
họ không đúng với chỉ định chuyên môn chỉ
vì lý do bệnh nhân muốn làm vậy là điều
tuyệt đối cấm kỵ trong nghề. Tôi thường
tránh những ‘nhu cầu’ như thế ở bất kỳ bệnh
nhân nào tới phòng khám. Trách nhiệm và
nghĩa vụ của bác sĩ phẫu thuật là bảo vệ
bệnh nhân, đôi khi khỏi chính họ. Đôi khi,
một bệnh nhân trẻ tuổi sẽ yêu cầu phẫu
thuật tạo hình môi âm hộ mặc dù khi thăm
khám hoàn toàn bình thường. Những bệnh
nhân này không nên phẫu thuật vì sẹo và
rủi ro lớn hơn khả năng cải thiện thẩm mỹ.
Nên nhớ, chúng ta kiếm sống bằng những
bệnh nhân mà chúng ta chăm sóc và tạo
dựng danh tiếng bằng những người chúng
ta không chăm sóc.
Bác sĩ phẫu thuật phải lưu ý luôn luôn có
một người chứng kiến khi thăm khám khu
vực nhạy cảm này. Điều này thậm chí còn
áp dụng cho cả nữ bác sĩ phẫu thuật thẩm
mỹ và bệnh nhân nữ. Những người chứng
kiến phải là người đủ tin cậy, không có quan
hệ gì với bệnh nhân để đảm bảo tính xác
thực của lời khai nếu có bất kỳ vấn đề liên
quan đến kiện tụng nào xảy ra.
Các vấn đề về quyền riêng tư và bảo mật
thông tin là mối quan tâm lớn của bệnh
nhân khi tới những phòng khám như thế
này. Do đó cần có một thỏa thuận chung
về cách thức liên lạc giữa Bs và bệnh nhân,
có thể qua thư, email, điện thoại nhà, điện
thoại cơ quan, điện thoại di động và / hoặc
mạng xã hội, để tiện nhất cho bệnh nhân
cũng như đảm bảo thông tin được giữ bí
mật tuyệt đối. Các thông tin mới hoặc dặn

33
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
dò của Bs sẽ luôn được cập nhật/thông
báo tới bệnh nhân tùy thuộc vào mong
muốn của họ. Nếu muốn sử dụng kết quả
(bằng hình ảnh) của các bệnh nhân đã từng
điều trị, chúng ta cần tới sự đồng thuận từ
bệnh nhân, HIPAA (Đạo luật về trách nhiệm
giải trình và cung cấp bảo hiểm y tế) và
HIPAA thương mai. Theo đó, HIPAA liên
quan thương mại phải mô tả cụ thể nơi bức
ảnh được sử dụng, trong bối cảnh nào và
trong bao lâu.
Quan trọng là dữ liệu nhúng trong ảnh
phải được làm sạch (che thông tin), ngăn
chặn bất kỳ thông tin liên quan tới danh
tính của bệnh nhân. Quyền riêng tư cá nhân
của bệnh nhân sẽ được bảo đảm với tất cả
nhân viên liên quan tới hồ sơ y tế của họ,
ngay cả ở nơi công cộng, nếu Bs có gặp
bệnh nhân: “Tôi đã nói với bệnh nhân của
mình rằng tôi sẽ không thô lỗ nhưng sẽ
không thừa nhận rằng tôi biết bạn để bảo
vệ quyền riêng tư của bạn.”
Có rất nhiều rủi ro trong mọi lĩnh vực của
phẫu thuật thẩm mỹ. G Law và Martello đã
viết rất nhiều về sự cân bằng giữa lợi ích và
rủi ro khi phẫu thuật. Hình 3.1 cho thấy khả
năng rủi ro sẽ cao hơn nếu bệnh nhân có ít
dị tật/bất thường và ngược lại. Những bệnh
nhân có bất thường/biến dạng lớn và ít
quan tâm đến chúng (bên phải) thường sau
phẫu thuật sẽ có kết quả tốt hơn (theo cảm
nhận của họ) so với bệnh nhân có ít biến
dạng nhưng rất quan tâm tới chúng. Cần
thận trọng khi tiếp cận với những trường
hợp bệnh nhân nằm ở nhóm trên cùng bên
trái vì họ thực sự là những ‘khách hàng’ khó
tính. Mặc dù vậy, nếu Bs luôn tận tình thăm
hỏi, chẩn đoán đúng và điều trị theo phác
đồ tiêu chuẩn và thuận tiện nhất cho bệnh
nhân thì họ vẫn sẽ luôn hài lòng.

Kết luận
CHƯƠNG này nhằm mục đích hướng
dẫn và hỗ trợ chăm sóc bệnh nhân đang
cân nhắc hoặc đã có chỉ định phẫu thuật
thẩm mỹ vùng kín. Có thể thấy vẫn còn tồn
tại nhiều vấn đề liên quan đến chi phí điều
trị cũng như những thay đổi tâm lý sau trị
liệu. Phương pháp tiếp cận theo hệ thống
sẽ giúp Bs điều trị toàn diện và đạt được
mức hài lòng cao nhất từ bệnh nhân.

34
Chương 3
Sự đồng thuận và tính pháp lý trong việc thực hiện phẫu thuật thẩm mỹ vùng kín
Hình. 3-1 Bất thường BPSD nữ biểu thị trên trục hoành và mối quan tâm trên trục tung giúp
làm rõ các kỳ vọng của bệnh nhân. Một bệnh nhân có mức độ bất thường là 2 và mức độ
quan tâm là 4 có thể có yêu cầu rất cao, thậm chí là không thực tế. Do đó, nên giải thích
kỹ cho họ trước khi đưa ra quyết định. Tuy nhiên, một bệnh nhân có mức độ bất thường
là 4 và mức độ quan tâm là 2 thường rất dễ dàng hài lòng với kết quả. Liệu bạn còn nhó
Quasimodo trong cuốn thằng gù nhà thờ Đức Bà (mức độ bất thường được quy là mức 5).
Anh ta tìm cách cải thiện tình trạng gù của mình và nói rằng bất kỳ cải thiện nào cũng đều
tuyệt vời, bởi vì anh ta hiểu rằng khả năng điều trị được là không cao (mức độ quan tâm/
kỳ vọng được quy là mức 2): Đây là một bệnh nhân tiềm năng cho các nhà lâm sàng. Tuy
nhiên, một bệnh nhân có vết sẹo nhỏ trên cổ (mức độ bất thường là 1) nhưng thậm chí còn
không muốn ra ngoài đường nếu không có gì che đi vết sẹo đó (mức độ quan tâm 5) thì về
cơ bản không phải là trường hợp dễ điều trị. Bệnh nhân được xếp vào nhóm nằm trong khu
vực giữa các đường nét đứt có thể được chấp nhận chăm sóc và điều trị sau khi đã lựa chọn
liệu pháp phù hợp. Ví dụ, một bệnh nhân có hồ sơ nằm trong vùng màu đỏ nhưng giữa các
đường nét đứt có thể là ‘ứng cử viên’ cho phẫu thuật sau khi tư vấn kỹ.
Hướng dẫn lựa chọn bệnh nhân
Bất thường
mối quan ngại

35
e-bacsy.com
e-bacsy.com
e-bacsy.com
Phần 2
Kỹ Thuật
Thực Hiện

36
Chương 4
Giảm môi âm hộ: Kỹ thuật Wedge

e-bacsy.com
Chương 4
Giảm môi âm hộ:
Kỹ thuật Wedge
Christine A. Hamori

38
Chương 4
Giảm môi âm hộ: Kỹ thuật Wedge
Những điểm chính
• Kỹ thuật Wedge đạt được tiêu chí về
tính an toàn và hiệu quả trong PTTM
tạo hình vùng kín.
• Kỹ thuật Wedge để lại sẹo tối thiểu sau
phẫu thuật, gần như không thể quan
sát thấy bằng mắt thường sau khi liền
hoàn toàn.
• Loại bỏ phần môi âm hộ ‘dư’ bằng kỹ
thuật wedge giúp bảo tồn các dây thần
kinh quan trọng và nguồn cấp máu
chính.
• Bệnh nhân có thể thực hiện phẫu thuật
mà chỉ cần tê tại chỗ, thời gian phẫu
thuật sẽ được rút ngắn – chỉ dưới 1 giờ
đồng hồ.
• Sử dụng plasma lạnh giúp thúc đẩy liền
vết mổ và giảm thời gian điều trị.
• Áp dụng kỹ thuật này cho thấy số lượng
gặp các biến chứng sau mổ như tách
mép vết mổ, bục chỉ vết mổ và khối máu
tụ…là thấp (tham khảo thêm chương
10: Biến chứng phẫu thuật thẩm mỹ
vùng kín).
Phẫu thuật tạo hình môi âm hộ là thủ
thuật thẩm mỹ vùng kín được thực hiện
nhiều nhất theo số liệu thống kê hàng năm.
Nhiều kỹ thuật giảm môi âm hộ đã được
công bố. Trong đó, hai kỹ thuật phổ biến
nhất là kỹ thuật tạo hình viền và wedge.
Năm 1998, Alter lần đầu tiên mô tả kỹ thuật
wedge, đơn giản bằng cách loại bỏ phần
môi bé ‘dư thừa’ ở vị trí chúng ‘nhô’ ra nhiều
nhất bởi một đường cắt hình chữ V. Ưu điểm
của kỹ thuật này là bảo tồn tối đa bờ tự do
của môi bé, vết sẹo ngắn hơn và do đó giảm
những biến chứng liên quan đến sẹo. Năm
2008, Alter đã đánh giá kinh nghiệm 2 năm
của mình với 407 trường hợp PTTH môi âm
hộ. Việc áp dụng kỹ thuật này đã giúp thu
hẹp mũ âm vật và tạo hình môi âm hộ gần
với hình thể giải phẫu tiêu chuẩn. Theo đó,
tỷ lệ biến chứng thấp và tỷ lệ bệnh nhân hài
lòng cao.

Chỉ định và chống chỉ định
Chỉ định
Môi bé ‘dư thừa’ trên toàn bộ chiều dài
Kỹ thuật Wedge thích hợp nhất cho
những bệnh nhân có môi bé ‘dư thừa’ toàn
phần và đi kèm với tình trạng tăng sắc tố
(Hình 4-1). Về cơ bản, vị trí “hình nêm” được
cắt bỏ sẽ được đánh dấu tại vùng ‘nhô’ ra
nhiều nhất của môi bé, Bs sẽ tiến hành cắt
bỏ toàn bộ phần đánh dấu và khâu nối hai
đường cắt lại với nhau theo từng lớp. Cách
này vừa giúp loại bỏ phần nhô ra ngoài
nhiều nhất, vừa giúp giảm môi âm hộ (tái
tạo hình thể giải phẫu) (Hình. 4-2).

39
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 4-1 Bệnh nhân 49 tuổi này có mũ âm vật rộng và môi bé
‘dư thừa’ dọc theo toàn bộ chiều dài
Hình. 4-2 A, Đánh dấu đường cắt môi bé trong kỹ thuật wedge. B, Đường chắt hình nêm, lưu
ý vẫn bảo tồn lớp hạ niêm mạc

40
Chương 4
Giảm môi âm hộ: Kỹ thuật Wedge
Dày môi bé
Dày môi bé do dư thừa niêm mạc hoặc
hạ niêm mạc cũng là ‘ứng cử viên’ cho chỉ
định kỹ thuật wedge (Hình 4-3 và 4-4). Cắt
bỏ bờ tự do trong trường hợp này là rất khó,
vì phải cắt bỏ phần bờ tự do đi khá nhiều
để loại bỏ được phần hạ niêm mạc dư thừa
gây dày môi bé. Việc này dẫn tới phần môi
bé còn lại sau cắt khá ngắn/ít và sau liền
sẹo thì không còn hình thể giải phẫu tự
nhiên (Hình. 4-5).
Hình. 4-3 Bệnh nhân nữ 49 tuổi với hình ảnh trước phẫu thuật (trái) và sau phẫu thuật
wedge 3 tháng.
Hình. 4-4 Bệnh nhân nữ 27 tuổi này xuất
hiện tình trạng phì đại môi âm hộ một bên
(dày phần hạ niêm mạc)
Hình. 4-5 Bệnh nhân nữ 46 tuổi sau 10
tháng phẫu thuật cắt bỏ bờ tự do.

41
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Kỹ thuật Wedge cho phép lựa chọn phần
tổ chức dưới niêm mạc phải cắt bỏ tùy theo
từng trường hợp, tạo điều kiện cho việc cắt
bỏ toàn bộ lớp hạ niêm mạc ở đúng khu
vực có dày môi bé mức độ nhiều. Tuy nhiên
ở những bệnh nhân có teo môi âm hộ, phần
hạ niêm mạc cần phải được bảo tồn sau
khi cắt kiểu wedge (Hình 4-6 và 4-7). Bệnh
nhân có phần hạ niêm mạc ít cũng có thể
áp dụng kỹ thuật này.
Hình. 4-6 Bệnh nhân nữ 44 tuổi với môi âm hộ mỏng, và teo đét (hạ niêm mạc tối thiểu) với
hình ảnh trước và sau thực hiện cắt kiểu wedge hình chữ L và bảo tồn lớp hạ niêm mạc (chỉ
khử biểu mô).
Hình. 4-7 Cắt toàn bộ kiểu wedge với dày môi bé và khử biểu mô đơn thuần với môi bé teo
đét, mỏng.
CẮT TOÀN BỘ KIỂU WEDGE
KHỬ BIỂU MÔ KIỂU WEDGE

42
Chương 4
Giảm môi âm hộ: Kỹ thuật Wedge
Biến thể giải phẫu khác
Bệnh nhân có môi bé dài theo chiều trước
sau, mỗi bên đều dài quá đường giữa (sang
bên nửa bên còn lại) hoặc hình thể ngoài
‘xù xì’ ‘gồ ghề’ cũng là những ‘ứng cử viên’
thích hợp cho kỹ thuật wedge (Hình 4.8).
Kỹ thuật này sẽ giúp điều chỉnh lại độ dài và
độ ‘mềm mại’ của môi bé để mang lại kết
quả thẩm mỹ tối ưu (Hình 4.9). Lưu ý vị trí
khâu nối chịu lực nhiều nhất, nên tránh cắt
quá nhiều để vết mổ bị căng và tăng nguy
cơ tách vết mổ.
Hình. 4-8 Bệnh nhân 40 tuổi với hình thể
ngoài môi bé ‘gồ ghề’ và dài theo chiều trước
sau.
Hình. 4-9 Bệnh nhân 37 tuổi, môi bé dài theo chiều trước sau với hình ảnh trước và sau
phẫu thuật wedge.
Hình. 4-10 Bệnh nhân nữ 32 tuổi với phần
môi bé dư thừa đã được phẫu thuật bằng kỹ
thuật wedge và xuất hiện biến chứng thủng
sau 8 tuần phẫu thuật (cây tăm bông chọc
qua lỗ thủng).

hacklink satın al mumu模拟器 雷电模拟器 向日葵 giftcardmall/mygift giftcardmall balance mygift giftcardmall Salvobet Salvobet Giriş Salvobet Salvobet Giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Betgaranti Betgaranti Güncel Adres Betgaranti Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Fim İzle Fim İzle Giriş Fim İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Fim İzle Fim İzle Güncel Adres Fim İzle jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Giriş Casibom Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Jojobet Jojobet Giriş Jojobet Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Deneme Bonusu Film İzle Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Türkçe Dublaj Film İzle Film İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi perabet perabet giriş holiganbet holiganbet giriş Casibom Lesfillmercom Casibom Lesfillmercom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Gerbergirlcom Casibom Gerbergirlcom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Spcelectriccontrolcom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş marsbahis marsbahis giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş matbet matbet giriş matbet güncel giriş vaycasino vaycasino güncel giriş vaycasino giriş matbet matbet giriş pusulabet pusulabet giriş pusulabet pusulabet güncel giriş pusulabet giriş matbet matbet güncel giriş matbet giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Resmi Adres pusulabet pusulabet giriş pusulabet güncel giriş Fixbet Fixbet Güncel Giriş Salvobet Salvobet Giriş Salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Turk Porno Turk Porno Giriş Turk Porno casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi casibom casibom jojobet izmir escort izmir buca escort buca escort jojobet casibom holiganbet holiganbet giriş jojobet holiganbet holiganbet giriş jojobet jojobet jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş izmir escort izmir buca escort buca escort izmir escort bayan salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Deneme Bonusu Veren Giriş Deneme Bonusu Veren salvobet salvobet salvobet salvobet Casibom betgaranti betgaranti betgaranti matbet matbet giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Salvobet jojobet Salvobet Salvobet Salvobet Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Güncel Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis bahsegel Fixbet Fixbet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş 1xbet 1xbet Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Listesi Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet grandpashabet grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler vaycasino vaycasino giriş jojobet grandpashabet casibom Casibom Casibom Giriş casibom www.giftcards.com Marsbahis grandpashabet jojobet jojobet jojobet grandpashabet casibom jojobet Casibom Casibom Casibom Casibom Casibom Grandpashabet Grandpashabet Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Marsbahis Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Didim Escort Akbük Escort Altınkum Escort Didim Altınkum Escort grandpashabet grandpashabet giriş Casibom Fixbet Fixbet Giriş Casibom İzmir Escort İzmir eskort İzmir Escort Bayan Vip escort Adana Escort Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler