Chương 11
151
Tài liệu tham khảo
1. Park JI: Z-epicanthoplasty
in Asian eyelids, Plast ReconstrSurg
98:602, 1996.
2. Park JI: Modified Z-epi-
canthoplasty in the Asian eyelid,
Arch Facial Plast Surg 2:43, 2000.
3. Yoo WM, Park SH, Kwag
DR: Root Z-epicanthoplasty in
Asian eyelids, Plast Reconstr Surg
109:2067, 2002.
4. Park JI: Root Z-epican-
thoplasty in Asian eyelids. In cor-
respondence and brief commu-
nications, Plast Reconstr Surg
111:2477, 2003.
Chương 12: Phẫu thuật khóe mắt
ngoài
12.1 Phẫu thuật khóe mắt ngoài
trên mí mắt người châu Á
Khóe mắt ngoài là một cấu
trúc giải phẫu đi kèm và là một đặc
điểm đo lường của góc ngoài mi
mắt. Phẫu thuật khóe mắt ngoài
là một kĩ thuật dùng để tăng chiều
dài của khe mi bằng cách chia tách
khóe mắt ngoài, tạo ra đôi mắt dài
và mở to hơn.
12.2 Giải phẫu khóe mắt ngoài
Tại góc ngoài của mắt, phần
cơ vòng mi trước vách ngăn ổ mắt
phía trên và phía dưới hợp thành
một rãnh (raphe). Rãnh này gồm
nhiều vòng cơ được đính chặt vào
da của khóe mắt ngoài. Phần cơ
trước sụn mi trên hoặc dưới chèn
vào lồi củ ổ mắt, nằm dưới vành
đai ổ mắt ở thành ngoài, đi qua
phần giữa cân khóe mắt ngoài.
Động mạch mi mắt ngoài, nhánh
của động mạch tuyến lệ, đi qua
khoang giữa cân và rãnh (raphe)
(hình 12-1). Khoang này làm sâu
góc ngoài.
12.3 Chỉ định
Mức độ kết mạc bộc lộ được
đánh giá bằng cách kéo khóe mắt
ngoài ra ngoài. Phẫu thuật khóe
mắt ngoài được chỉ định khi củng
mạc bộc lộ quá rộng. Bệnh nhân có
nhãn cầu nhỏ hoặc chứng lõm mắt
quá nhiều sẽ đem lại kết quả kém.
Chống chỉ định cho qui trình này
cũng bao gồm các bệnh nhân có kì
vọng cao. Khi thực hiện phẫu thuật
khóa mắt ngoài liên tiếp với phẫu
thuật mắt hai mí, nó sẽ nâng cao
kết quả thẩm mĩ bằng cách làm dài
khe mi. Điều này khiến mắt dài và
to hơn.
12.4 Đánh dấu
Bút đánh dấu đầu nhỏ được
sử dụng để đánh dấu. Đánh dấu
điểm A ở tư thế bệnh nhân ngồi
thẳng người, mắt nhìn thẳng phía
trước (hình 12-2). Điểm A là vị trí
của khóe mắt ngoài mới. Kế đó,
việc đánh dấu được tiếp tục khi
bệnh nhân ở tư thế nằm mở mắt.
Việc đánh dấu sẽ tiếp tục trong
cuộc phẫu thuật. Bu và Bl được
đánh dấu tại các điểm trên (up-
per) và dưới (lower) khóe mắt
ngoài ở mí mắt trên và dưới. Cu và
Cl được đánh dấu cách Bu và Bl 1
cm trên đường xám của mí trên và
mí dưới. Độ dài của A-Bu, tương
12
Jong-Hak Lim
Chương 12
153
đương độ dài A-Bl, là 3-5 mm. Độ
dài của Bu-Cu tương đương với Bl-
Cl. Đường A-Bu và A-Bl dài ½ đến
1/3 chiều dài đường Bu-Cu và Bl-
Cl. Bu-A-Bl tạo nên một vạt da hình
tam giác nhỏ. Điểm D trên đường
Bu-Cu được xác định trong quá
trình phẫu thuật (Cu-D ≥ Bu-D).
Điểm E cũng được xác định trong
phẫu thuật và nằm trên đường
kẻ 90 độ so đường Bu-Cu tính từ
điểm D (hình 12-3).
Hình 12-1
Giải phẫu động mạch quanh ổ mắt
Hình 12-3
Đường A-Cu và D-E
Hình 12-2
Tạo đường A-Bu-Cu và A-Bl-Cl
Phẫu thuật khóe mắt ngoài
154
12.5 Gây tê
Nhỏ nước mắt chứa propa-
racaine hydrochloride 0.5% vào túi
kết mạc. Dung dịch chứa lidocaine
1% và epinephrine 1:100,000
nhằm gây tê khu trú, được tiêm
vào vùng khóe mắt ngoài bằng kim
27G.
12.6 Quy trình phẫu thuật
Rạch đường A-Bu và A-Bl
bằng dao #11. Kế đó, trên đường
xám, rạch đường Bu-Cu và Bl-Cl.
Một vạt da hình tam giác được
tạo thành khi cắt lọc mô qua
đường rạch Bu-A-Bl và đi xuống
cân khóe mắt ngoài (hình 12-4)..
Trong giai đoạn này, quan trọng
là tránh thương tổn động mạch
mi mắt ngoài, nằm giữa đường
raphe và cân (hình 12-1). Vạt kết
mạc, đường Bu-Cu và Bl-Cl, được
cắt bằng dao #11 và kéo. Vạt da-
kết mạc được tạo bời các đường
Cu-A-Cl (hình 12-5). Dùng for-
ceps kéo vạt da tam giác giúp dễ
thao tác cắt vạt da-kết mạc (hình
12-6). Khi vạt kết mạc Bu-Cu được
kéo nhẹ về điểm A (vị trí khóe mắt
ngoài mới), một lực căng nhẹ xuất
hiện. Để loại bỏ lực căng này, cắt
mặt sau bằng kéo từ điểm D (hình
12-7). Điểm D nằm gần trung điểm
Bu và Cu. Đường cắt mặt sau từ
điểm D được đặt ở góc 90 độ so
với đường Bu-Cu. Điểm E là điểm
cuối của đường cắt mặt sau. Chiều
dài D-E được xác định sau khi sức
căng được giải phóng (hình 12-
8). Điểm D được xoay, hướng đến
phóng (hình 12-9) và được khâu
vào điểm A (hình 12-10). Điểm
D và A được khâu bằng chỉ nylon
đơn sợi 6.0. Đường khâu qua điểm
A và D nên bao gồm mô cân khóe
mắt ngoài để neo vạt da lại (điểm
A – cân – điểm D). Kế đó, phần kết
mạc tam giác thừa được tỉa dọc
theo đường E-Cu (hình 12-11).
Khâu mũi liên tục theo đường Cu-
E-DA bằng chỉ nylon đen đơn sợi.
Vạt da thừa nhỏ hình tam giác trên
đường Bu-A-B? được cắt bỏ (hình
12-12). Khâu mũi liên tục dọc theo
đường AD-Bul-Cul bằng chỉ nylon
đen đơn sợi (hình 12-13).
12.7 Chăm sóc hậu phẫu
Cắt chỉ khâu vào ngày hậu
phẫu thứ 7.
12.8 Kết luận
Phẫu thuật khóe mắt ngoài
cùng với nâng vạt da-kết mạc
và kĩ thuật cắt xoay mặt sau cải
tiến (phương pháp Lim) là một
phương pháp dễ dàng và đáng tin
cậy để kéo dài khe mi. Kĩ thuật này
không để lại sẹo trên khóe mắt
ngoài (hình 12-14).
Chương 12
155
Hình 12-4
Đánh dấu tiền phẫu
Hình 12-5
Hình ảnh vạt da - kết mạc.
Hình 12-6
Nâng và kéo nhẹ vạt da - kết mạc bằng forceps
Hình 12-7
Vạt kết mạc được chia tách giữa điểm D và điểm E.
Phẫu thuật khóe mắt ngoài
156
Hình 12-8
Xoay và kéo vạt từ D tới A
Hình 12-9
Vạt da tam giác Bu-A-Bl
Hình 12-10
Khâu xuyên qua A và D.
Chương 12
157
Hình 12-11
Tỉa bớt phần thừa của vạt tam giác
kết mạc của mí mắt trên theo đường
E-Cu
Hình 12-12
Mí mắt trên sau vạt kết mạc và vạt
da kết mạc nhỏ thừa của mi dưới
được tỉa
Hình 12-13
Hình ảnh hậu phẫu sau đó của phẫu
thuật khóe mắt ngoài
A
B
Hình 12-14
Tiền phẫu (A) và hậu phẫu 6 tháng theo phương pháp phẫu thuật khóe mắt
ngoài của Lim đi kèm phẫu thuật mắt hai mí (B).
Phẫu thuật khóe mắt ngoài
158
Tài liệu tham khảo
1. Jones LT: Levator resec-
tion. In Callahan A: Ptosis associat-
ed with congenital defects: blepha-
rophimosis, epicanthus, and other
syndromes. Symposium on surgery
of the orbit and adnexa, Trans New
Orleans Acad Ophthalmol, St Louis,
1974, Mosby.
2. Jelks GW, Smith BC: Recon-
struction of the eyelids and associ-
ated structures, Philadelphia, PA,
1990, McCarthy, p 1677.
Chương 13: Nâng trán cho phẫu thuật
mi trên ở người Châu Á
13.1 Có một phương pháp nâng
trán riêng biệt cho người châu
Á?
Dù rằng kĩ thuật nâng trán
tương tư như trên bệnh nhân da
trắng, nhưng tần suất và chỉ định
khá khác biệt trên các bệnh nhân
châu Á. Nâng trán trên đối tượng
dân số không phải châu Á được
thực hiện bằng cách loại bỏ các
nếp nhăn trán và nếp rũ phía ngoài
của mi mắt. Phụ nữ châu Á hiếm có
nếp nhăn trán; nếu nếp nhăn xuất
hiện, chúng cũng không sâu như
người da trắng. Kết quả là, phụ nữ
châu Á không quan tâm lắm về các
nếp nhăn vùng trán. Thường thì
kĩ thuật nâng trán cho bệnh nhân
châu Á là một qui trình đi kèm với
phẫu thuật tạo mắt hai mí. Nhận
thức chung thường là mí mắt sẽ
dày và không tự nhiên kéo dài, có
thể vĩnh viễn sau phẫu thuật mắt
hai mí trên bệnh nhân trung niên
hoặc lớn tuổi có da thừa mí mắt
(hình 13-1). Điều này một phần là
do da dày bẩm sinh vùng mí mắt
trên của người châu Á; quan trọng
hơn, đó là nếp gấp mắt hai mí được
tạo bởi lớp da mí mắt dày này. Da
mí mắt dày hơn khi tiến về phía
cung mày. Sau khi đã cắt phần da
mỏng dưới thấp của mí mắt trên,
phần da dùng để tạo nếp gấp hai
mí là phần da dày bên trên của mí
mắt. Ngược với niềm tin của người
ngoài ngành, dày mi mắt sau phẫu
thuật tạo mắt hai mí là do sự tạo
nếp của da dày và cơ, chứ không
phải do mỡ. Nâng trán sẽ giúp tạo
ra nếp gấp hai mí tinh tế bằng cách
nâng phần da mí mắt dày từ vùng
trước sụn mi. Kĩ thuật này được
chỉ định cho gần như tất cả bệnh
nhân châu A! trung niên hay lớn
tuổi muốn thực hiện phẫu thuật
mi mắt trên.
13.2 Tư vấn
Nhìn chung, bệnh nhân
muốn phẫu thuật mắt hai mí không
13
Jung I. Park
Hình 13-1
Dày mí mắt hậu phẫu kéo dài.
Nâng trán cho phẫu thuật mi trên ở người Châu Á
160
được giới thệu nhiều về lợi ích của
kĩ thuật nâng trán. Lợi ích được
minh họa rõ nhất khi yêu cầu bệnh
nhân nhướn mày turo71c gương
(hình 13-2, A và B) hoặc nâng trán
bệnh nhân bằng tay. Cách này sẽ
cho thấy sự giảm độ dày của mí
trên (hình 13-2, C). Với những
bệnh nhân đã có mắt hai mí và có
da thừa trên mi mắt, nâng da mí sẽ
minh họa việc làm mỏng nếp gấp
mí mắt. Mặc dù nâng trán có lợi ích
nhiều, phẫu thuật viên cũng nên
sẵn sàng chấp nhận mong muốn
của bệnh nhân khi họ chỉ muốn
thực hiện kĩ thuật tạo mắt hai mí
đơn giản. Nếu chọn kĩ thuật nâng
trán, bệnh nhân cần được thông tin
rằng phẫu thuật vùng mí mắt trên
cũng cần thiết trong việc tạo mắt
hai mí hoặc loại bỏ da thừa nếu đã
có sẵn nếp gấp hai mí. Bệnh nhân
cần được thông tin và cảnh báo về
việc nâng cung mày vượt mức có
thể vĩnh viễn hoặc giảm dần trong
2 năm. Phẫu thuật mắt hai mí có
thể được thực hiện cùng lúc. Trong
trường hợp đó, phẫu thuật mí mắt
nên được tiến hành trước nâng
trán. Dù việc cắt da bảo tồn có thể
được thực hiện cùng giai đoạn, cắt
da thừa mí mắt tốt nhất nên được
dời lại ít nhất 1-2 năm, cho đến khi
cung mày đến vị trí cuối. Nâng trán
không được chỉ định cho bệnh
nhân có vị trí cung mày cao.
13.3 Chuẩn bị tiền phẫu
Dùng dầu gội dầu cùng với
xà phòng sát khuẩn. Ngoài ra, khu-
A
B
C
Hình 13-2
A, Rủ vành ngoài là dấu hiệu đầu tiên
của lỏng lẻo mí trên.
B, Bệnh nhân nhướn mày để minh họa
hiệu quả của nâng trán. Nghiệm pháp
này giúp xác định cung mày bất xứng,
có thể gây bất xứng động hậu phẫu.
C, Hiệu quả toàn bộ của nâng trán
trên nếp gấp hai mí được minh họa.
Nghiệm pháp này là công cụ hướng
dẫn tuyệt vời cho những bệnh nhân
muốn phẫu thuất mí mắt đơn giản và
không tốn kém.
Chương 13
161
yến cáo chăm sóc tiền phẫu tổng
quát cùng với chăm sóc gây mê
có kiểm soát (MAC) hoặc gây mê
toàn thân. Nếu nâng trán nội soi,
chải và cạo tóc lùi về sau 1.5 cm so
với đường chân tóc, rộng 0.5 cm,
dài 1.5 cm. Hai vị trí cạnh đường
giữa cách nhau 3-4 cm và hai vị trí
phía ngoài ở mức khóe mắt ngoài
sẽ được cạo để phẫu thuật (hình
13-3). Một đường kẻ được vẽ lên
da trán, phía trên góc ngoài của
cung mày. Phẫu thuật viên nâng da
trán để nhìn rõ hiệu ứng nâng mày
da mí mắt. Độ dày của mí mắt trên
biến mất khi lớp mỡ cung mày
bị di chuyển. Độ nâng cung mày
mong muốn được xác định bằng
cách đánh dấu sự dịch chuyển của
đường kẻ đánh dấu bằng thước
đứng dọc (hình 13-4). Cách tương
tự áp dụng cho nâng đường giữa.
Độ dài tính toán cần thiết để nâng
sẽ được viết lên da trán bằng bút
đánh dấu để tham chiếu. Đo tại
mỗi cung mày góc ngoài và đường
giữa. Nâng đường giữa trong phạm
vi 5-7 cm, và nâng góc ngoài trong
khoảng 8-11 cm.
A
B
1.5 cm incisions
Hình 13-3
A, Đường rạch.
B, Hai đường rạch cạnh
giữa và hai đường rạch
ngoài
Nâng trán cho phẫu thuật mi trên ở người Châu Á
162
13.4 Gây tê
Dù gây mê có kiểm soát hay
gây mê toàn thân được ưa dùng,
vẫn có thể gây tê vùng và an thần
trong một số ca. Chỉ cần một lượng
150 ml dung dịch lidocaine 0.1%
và marcaine 0.05% pha trong epi-
nephrine 1:100,000 là đủ để ức
chế và tiêm vào phần trước da
đầu và trán. Kim 30G được dùng
để tiêm ức chế thần kinh trên ổ
mắt, thần kinh trên ròng rọc và
dây thần kinh thái dương gò má
(hình 13-5) và 1 cc marcaine 0.5%
pha trong epinephrine 1:100,000.
Kế tiếp, tiêm tại chỗ ngang trán và
thái dương ở mức khe trên ổ mắt
bằng kim 27G. Tiêm phần trán và
phần trước da đầu bằng kim 22G.
Không tính đến kĩ thuật gây tê, thì
kĩ thuật tiêm phồng sẽ giúp giảm
chảy máu và tụ máu quanh ổ mắt
hậu phẫu.
13.5 Dụng cụ và thiết bị
Dụng cụ nâng trán nội soi, moni-
tor, và bộ dụng cụ như hình 13-6.
A
B
Hình 13-4
A, đặt một dấu chấm ở đầu
ngoài cung mày.
B, Nâng mày lên trên và đo
khoảng chênh lệch của dấu
chấm. Con số này sẽ hướng
dẫn việc nâng trán.
Chương 13
163
Zygomaticotemporal n.
Supraorbital n.
Supratrochlear n.
Hình 13-5
Phân bố thần kinh da
trán
Hình 13-6
Dụng cụ
13.6 Phẫu thuật nội soi
Dùng dao Bard-Parker #15
rạch 1 đường đứng dọc ở vùng đã
cạo tóc, đi thẳng xuống phần màng
xương. Kế đó, nâng màng xương
lên qua toàn bộ phần trán, giữa
đường thái dương và từ cung mày
cho đến khu vực cách 3 cm về phía
sau đường rạch da đầu (hình 13-7).
Việc nâng màng xương không cần
dùng nội soi. Đường rạch này đơn
giản, nhanh gọn mà không chảy
máu nhờ sử dụng cây tách màng
xương đầu cong. Xuất hiện một
vùng rìa có kháng lực ngang trán,
khoảng 2.5 cm từ khe trên ổ mắt.
Nâng trán cho phẫu thuật mi trên ở người Châu Á
164
Dùng lực mạnh nhưng thận trọng
trên cây bóc tách màng xương sẽ
giúp vượt qua được vùng kháng
lực này mà không gặp trở ngại.
Đầu cây bóc tách luôn miết nhẹ
lên xương để ngăn màng xương
xâm nhập sớm. Lỗ hay khe trên ổ
mắt được xác định bằng cách sờ
chạm. Ngừng nâng màng xương
ở khoảng cách 1 cm phía trên khe
trên ổ mắt để ngăn tổn thương dây
thần kinh ở đây. Màng xương được
kéo nâng ra phía ngoài về đường
thái dương. Dùng dụng cụ nội soi
qua đường rạch cạnh giữa bên
trái. Đầu che của máy nội soi tiến
lên khoảng 1 cm về phía trên khe
trên ổ mắt. Dao rạch hoặc cây bóc
tách đầu cong, mũi tù được chèn
vào qua đường rạch cạnh giữa bên
phải. Cắt màng xương theo chiều
ngang và song song khe trên ổ mắt,
đi ngang trán từ đường thái dương
bên này sang đường bên kia (hình
13-7). Xén tách màng xương bằng
cây bóc tách đầu cong mũi tù (hình
13-8) để chắc chắn di chuyển màng
xương của trán và loại bỏ sự treo
vào màng xương trên ổ mắt bên
dưới. Phẫu thuật viên cân nhắc
việc bóc tách rộng để ngừa sự rách
khối thần kinh – mạch máu trên ổ
mắt. Nếu muốn, bộc lộ các bó cơ
cau mày qua đường rạch màng
xương bằng cách cắt đứt mô mềm
quanh cơ, và phân tách bó cơ (hình
13-9). Ống nội soi sẽ di chuyển đến
khu vực đường thái dương. Màng
xương bám dính vào đường thái
dương sẽ được cắt rạch. Màng
xương vùng trán được tách dính
khỏi đường thái dương bằng
động tác lia nhẹ. Cẩn trọng tránh
gây rách hay làm đứt nhánh trán
của thần kinh mặt. Các dây thần
kinh chạy sâu ở khu vực này và đi
bên dưới cơ trán. Hai đường rạch
màng xương gặp nhau tại bờ trên
ngoài ổ mắt. Lúc này, màng xương
trán được hoàn toàn giải phóng
khỏi sự bám dính với xương và có
thể di chuyển lên phía trên. Nếu
cần di chuyển màng xương nhiều
hơn, một đường rạch màng xương
bổ trợ sẽ được thực hiện bên trên,
tính từ phần trên của đường thái
dương ở trán ngoài (hình 13-7).
Phần da trán và cung mày được
nâng lên khi kéo màng xương. Sự
di chuyển của cung mày và thái
dương cần được kiểm tra, và sự
giải phòng màng xương cần thiết
được lặp lại đến khi màng hoàn
toàn tách rời. Vị trí của vít cố định
được xác định tiền phẫu dựa vào
mức độ nâng cung mày ước đoán
và xác định vị trí của cung mày
mới sau khi nâng vạt trán (hình
13-10). Vít tự khóa được đóng vào
xương sọ tại vị trí đường rạch. Bốn
vít được đặt cùng một cách tại mỗi
vị trí rạch. Dụng cụ bọc vít vĩnh
viễn KLS Martin Hexa-HeadTM 1.5
x 6 mm được dùng để cố định lâu
dài. Vạt trán sau đó được nâng một
khoảng đã tính toàn và cố định vào
vít bằng chỉ 2-0 vĩnh viễn. Đường
khâu đi qua kênh ở phần đầu của
vít (hình 13-11, A). Sau đó, kim
khâu được chèn vào bên dưới
Chương 13
165
màng xương, 1 cm bên dưới đầu
tận thấp của đường rạch, và đi ra
ngoài qua da đầu. Quay đầu kim và
đi vào lại qua vị trí thoát ra khỏi da
đầu khi nãy, đưa kim đi bên dưới
búi tóc, trong tấm dưới da song
song màng xương cho đến khi
thoát ra ngoài qua vị trí rạch (hình
13-11, B). Hai đầu tận của đường
khâu được buộc lại. Cách khác, vít
tự khóa 11 mm tháo được có thể
dùng. Kim khâu khi đó đi qua phần
da đầu dày, cách xấp xỉ 1 cm bên
dưới đầu thấp của đường rạch. Chỉ
khâu quấn vòng quanh vít (hình
13-11, C). Nếu dùng vít tháo được,
cần phải cắt chỉ khâu và bỏ vít sau
1 tháng. Một vấn đề có thể gặp với
kĩ thuật khâu này, đó là hiện tượng
mất tóc khoảng 1 cm2 tạm thời,
hoặc có thể vĩnh viễn. Nếu mất
tóc vĩnh viễn, vùng hói sẽ có thể
được cắt bỏ dễ dàng và tái tạo lại
trong quá trình thực hiện. Lợi ích
của nâng trán nhiều hơn là những
bất lợi tối thiểu này. Khâu đóng da
đầu bằng chỉ nylon 4-0 theo kiểu
không liên tục.
Periosteal elavator
Periosteum
Galea
Scalp
1 cm
Hairline
3 cm
Hình 13-7
Độ rộng trong nâng màng xương
Nâng trán cho phẫu thuật mi trên ở người Châu Á
166
Hình 13-9
Phân tách cơ cau mày
Hình 13-8
A, Rạch màng xương 1cm phía trên vành đai trên ổ mắt.
B, Tách rộng màng xương, thám sát cơ cau mày
Chương 13
167
A
B
Hình 13-11
A, Cố định vạt trán vào vít
vĩnh viễn.
B, Cố định vạt trán vào vít
không vĩnh viễn
Hình 13-10
Kiểm tra tính di động của cung mày
Nâng trán cho phẫu thuật mi trên ở người Châu Á
168
13.7 Đường rạch trước viền
chân tóc
Đường rạch viền chân tóc
được dùng trên bệnh nhân có trán
cao. Vạt mô trán dày được cắt bỏ để
nâng cung mày. Đường rạch nằm
dài giữa hai bên thái dương và dọc
theo đường chân tóc. Đường rạch
da đầu đi xiên xuống dưới để cạo
một lớp mỏng thượng bì. Phần da
đầu có 1-2 khúm tóc bị mất phần
thượng bì. Sau khi đường rạch đi
qua vùng da đầu mang tóc, mũi
dao xoay 80 độ so với đường xiên
xuống và song song với hướng
của thân tóc. Chiều rộng vạt mô
trán được tách sẽ dựa vào các đo
lường tiền phẫu như đã mô tả.
Đường rạch dưới cũng đi xiên 2
mm xuống dưới để tạo một vạt
thượng bì, và sau đó đi xiên lên
trên cùng một góc tương tự như
góc xiên của đường rạch trên (hình
13-12, A). Cả hai đường rạch trên
và dưới đều đi theo kiểu zigzag,
giúp ngụy trang tốt hơn (hình 13-
13). Đảo da giữa các đường rạch
được loại bỏ. Nâng màng xương,
cắt màng xương, và phẫu tích dọc
theo vành đai trên ổ mắt và đường
thái dương được thực hiện cùng
một kiểu tương tự như kĩ thuật
nội soi. Mặc dù đường rạch dài,
việc dùng kĩ thuật nội soi đã cho
phép cắt rạch vượt qua giới hạn
bộc lộ. Các búi cơ cau mày được
chia tách (hình 13-14). Vạt dưới
màng xương vùng trán được kéo
lên, các điểm cố định được đánh
dấu dọc theo đường rạch trên, và
4 vít cố định được chèn. Vạt được
cố định vào vít bằng chỉ khâu vĩnh
viễn 2-0. Kim khâu đi qua màng
xương, cân bọc sọ, và cơ trán. Kéo
vùng trán lên, và buộc chỉ khâu
vào vít theo kiểu vùi (hình 13-15).
Mỗi đường khâu nên lấy ít nhất 1
cm hoặc hơn phần màng sương
và cân bọc sọ để tránh đứt rách.
Đường khâu sâu vào màng xương/
cân bọc sọ được đặt ở các khoảng
cách 2 cm giữa da đầu và vạt trán.
Đường khâu dưới da sau đó sẽ kéo
hai bờ vết mổ lại một khoảng cách
hoàn chỉnh. Vạt bì của đường rạch
bên dưới che phủ đường rạch hở
phía trên. Thân tóc dưới vạt bì tiếp
tục mọc qua mô sẹo. những sợi tóc
này che phủ vết sẹo (hình 13-12 và
13-16, A và B). Khâu đóng da bằng
chỉ gut trơn tiêu nhanh 6-0.
13.8 Nâng trán hai mặt phẳng
Vết rạch đường chân tóc
cũng giống nhau nâng trán trước
chân tóc. Da trán được giải phóng
khỏi lớp cơ trán nằm bên dưới,
khoảng 4 cm phía dưới đường
chân tóc (hình 13-17, A). Tấm dưới
màng xương được tách ra qua phần
cơ trán được bộc lộ. Hai điểm cạnh
giữa và hai vị trí phía ngoài được
dùng để tạo đường vào tấm dưới
màng xương, như đã miêu tả tiền
phẫu. Các nhánh thần kinh trên ổ
mắt và trên ròng rọc nằm trên cơ
cần được tránh. Phần còn lại của
kĩ thuật rạch màng xương và bóc
tách cơ cũng tương đồng với hai
cách tiếp cận trong nâng trán nội
Chương 13
169
A
B
De-epithelization
Beveled parallel to hair follicles
Hair grows through scar
Hình 13-12
A, Cắt xiên da đầu và
vạt trán.
B, Tóc mọc qua sẹo và
che đậy nó.
A
B
Hình 13-13
A, Nâng trán trước đường chân tóc là một biện pháp thay thế cho cách nâng
trán cổ điển với 4 lỗ nội soi. Lượng da trán cần nâng được đánh dấu. Đường
rạch được tạo zigzag để che sẹo hậu phẫu.
B, Đường rạch trước chân tóc cải biên. Đường rạch tránh đường giữa nơi bệnh
nhân thường rẽ tóc khi chải
Nâng trán cho phẫu thuật mi trên ở người Châu Á
170
Hình 13-14
Cắt dưới màng xương, và thấy được
nhiều bó cơ cau mày song song.
Hình 13-15
Khâu cố định vạt trán trước chân tóc
A
B
Hình 13-16
A, Ngay sau phẫu thuật.
B, Sẹo hậu phẫu thuật khó thấy do tóc mọc che sẹo
soi. Ngay khi nâng cơ trán và màng
xương, xác định độ nâng cung mày.
Kế đó, cơ trán đã nâng được gấp
nếp lại trên toàn bộ chiều rộng của
trán bằng đường khâu đệm ngang
đa mối với chỉ Vicryl 3-0 (hình 13-
17, B). Sự uốn nếp phần nào có thể
khuếch đại sự nâng cung mày. Da
trán thừa được đánh dấu để cắt
bảo tồn nhằm đảm bảo vết khâu
da không tạo lực căng (hình 13-
17, C). Kĩ thuật rạch xiên tương tự
như torng đường rạch trước viền
chân tóc cũng được sử dụng. Mô
Chương 13
171
sẽ được tháo bỏ sau 4 tuần.
13.10 Ca lâm sàng
Hình 13-18 tới 13-21.
13.11 Hồi phục
Tụ máu quanh ổ mắt và phù
đạt đỉnh điểm vào ngầy hậu phẫu
thứ 3 và thứ 4. Lúc này, bệnh nhân
không thể mở mắt do phù. Phù
giảm dần nhanh chóng và trở về
bình thường trong 1 tuần. Vị trí
cung mày sẽ nằm cao hơn vị trí lý
tưởng trong vòng 2 năm sau hậu
phẫu. Để đạt kết quả mong muốn
kéo dài, cần thiết có phẫu thuật
điều chỉnh.
bì và mô dưới da được khâu đóng
theo kiểu đệm ngang bằng các mối
nối chỉ Vicryl 4-0. Vạt thượng bì
được đặt cẩn thận lên phần da đầu
hở bì. Khâu đóng da bằng chỉ gut
trơn 5-0 hay 6-0 theo kiểu liên tục.
Kĩ thuật này có lợi một phần với
bệnh nhân có nhiều nếp nhăn trán
ngang do tăng động cơ trán.
13.9 Chăm sóc hậu phẫu
Băng ép vùng trán bằng
cuộn gạc mềm và băng thun để cầm
máu. Băng ép trong 2 ngày. Gội đầu
nhẹ nhàng vào ngày hậu phẫu thứ
4. Cắt tóc sau 1 tuần. Vít tạm thời
Endoscope
Dissector
Hình 13-17 (tiếp theo)
A, Nâng trán tấm đôi. Nâng da
A
Nâng trán cho phẫu thuật mi trên ở người Châu Á
172
Hình 13-17 (hết)
B, Nếp gấp cơ trán với nhiều đường khâu đệm ngang.
C, Cắt lọc nhiều da trán.
Hình 13-18
A, Hình ảnh tiền phẫu cho thấy nặng mí trên.
B, hình ảnh hậu phẫu cho thấy hình ảnh khác biệt khi cung mày được nâng và
yên vị phía trên rãnh trên ổ mắt.
B
C
Horizontal
mattress
sutures
A
B
Chương 13
173
Hình 13-19
A, Tiền phẫu.
B, Hậu phẫu cho thấy đã loại bỏ dày mí trên
Hình 13-20
A, Dù có nếp gấp hai mí rõ rệt, bệnh nhân này vẫn không hài lòng về cuộc phẫu
thuật do dày mí trên.
B, Hình ảnh hậu phẫu cho thấy kiểu dáng tươi tắn của vùng quanh ổ mắt.
A
A
B
B
Nâng trán cho phẫu thuật mi trên ở người Châu Á
174
A
B
Hình 13-21
A, Tiền phẫu nhìn nghiêng.
B, Hậu phẫu nhìn nghiêng.
Tài liệu tham khảo
1. Fernandez LR: Double eye-
lid operation in the oriental in Ha-
waii, Plast Reconstr Surg 25:257-
264, 1960.
2. Zubiri JS: Correction of
the oriental eyelid, Clin Plast Surg
8:725-736, 1981.
3. Liu D, Hsu WM: Oriental
eyelids. Anatomic difference and
surgical consideration, Ophthalmic
Plast Reconstr Surg 2:59-64, 1986.
4. Lee Y, Hwang K: Skin thick-
ness of Korean adults, Surg Radiol
Anat 24:183-189, 2002.
5. Lee JS: Simplified anatom-
ic method of double-eyelid oper-
ation: septodermal fixation tech-
nique, Plast Reconstr Surg 100:170,
1997.
6. Park JI, Hoagland TM,
Park MS: Anatomy of the corruga-
tor supercilii muscle, Arch Facial
Plast Surg 5(Sept-Oct):412- 415,
2003.
7. Bernstein L, Park J: Letter
to the editor, Arch Facial Plast Surg,
in press.
8. Uchida JJ: A method of
frontal rhitidectomy, Plast Recon-
str Surg 35:218, 1965.
9. Su CT, Morgan RF, Manson
PN, et al: Technique for division and
suspension of the orbicularis oculi
muscle, Clin Plast Surg 8:673, 1981.
10. Guyuron B, Davies B:
Subcutaneous
anterior
hairline
forehead rhytidectomy, Aesth Plast
Surg 12:77, 1988.
11. Kerth JD, Toriumi DM:
Management of the aging fore-
head, Arch Otolaryngol Head Neck
Surg 116:1137-1142, 1990.
12. Benito J: Aesthetic inci-
sion in the subcutaneous forehead
lift, Aesthetic Plast Surg 17:239,
1993.
Chương 13
175
13. Mayer TG, Fleming RW:
Fleming-Mayer flap (modified af-
ter Juri) forehead lifting. In Mayer
TG, Fleming RW: Aesthetic and re-
constructive surgery of the scalp, St
Louis, 1992, Mosby.
14. Oslin B, Core GB, Vas-
conez LO: The biplanar endoscop-
ically assisted forehead lift, Clin
Plast Surg 22:633, 1995.
15. De Cordier BC, de la Torre
JI, Author Name, et al: Endoscopic
forehead lift: review of technique,
cases, and complications, Plast Re-
constr Surg 110:1558-1568, 2002.
Chương 14: Phẫu thuật nâng môi
Mặc dù một số người không
thích cặp môi dày và to, nhưng
nhiều người khác cho rằng đôi
môi đầy đặn là một đặc điểm hấp
dẫn giới tính. Những năm gần đây,
xu hướng này đi song hành với độ
phổ biến tăng dần của đôi môi gợi
cảm trong ngành người mẫu và
trên các trang tạp chí, như là một
biểu tượng của sự hấp dẫn giới
tính. Mặt khác, môi trên trở nên
dài hơn và đôi môi mỏng hơn khi
lão hóa. Với người lớn tuổi, nâng
môi là một cách giúp trông trẻ hơn
và tạo nên sự tự tin trong giao tiếp
công việc. Tiêm, cấy, hoặc dùng
mô tự do có thể giúp làm đầy môi.
Cắt lọc môi trên và cải thiện môi
đỏ tươi cần thiết cho bệnh nhân
lớn tuổi, vì giúp lấy lại phần môi
trên và cân bằng màu đỏ tươi cho
môi như thời còn trẻ. Làm mỏng
môi không liên quan đến vẻ đẹp
lý tưởng mà truyền thông tuyên
truyền. Hơn nữa, mong muốn thu
nhỏ môi thường là xuất phát từ
cá nhân với mong muốn phù hợp
đồng trang lứa và vượt qua được
sự khác thường của đôi môi lớn.
Mặc dù các kĩ thuật phẫu thuật
môi ở đây không khác biệt nhiều
với những kĩ thuật của phương
Tây, nhưng tác giả đã thêm chương
này vào sách, vì những sự quá tải
trong quy trình phẫu thuật trên
bệnh nhân châu Á và những cách
ứng dụng khác của quy trình do
đặc điểm da khác nhau và nhận
thức xã hội khác biệt trong các
cộng đồng dân cư châu Á.
14.1 Nâng môi
14.1.1 Tiêm chất làm đầy (filler)
Tiêm collagen
Cả
collagen
người và bò đều được lưu hành và
có thể tiêm vào môi. Mặc dù mũi
tiêm chỉ tồn tại được khoảng 4
tháng, nhiều bệnh nhân vẫn chọn
phương pháp tiêm thay vì phẫu
thuật, bởi vì họ muốn đơn giản và
nhanh chóng quay lại công việc
thường ngày. Chi phí không phải
là vấn đề đối với những bệnh nhân
này, bởi vì những mũi tiêm lặp lại
sẽ mắc hơn chi phí phẫu thuật. Một
số bệnh nhân thử phương pháp
tiêm để đánh giá hiệu quả của
nâng môi mà không cần sử dụng
phẫu thuật. Những bệnh nhân
thích hiệu quả của nó có thể tiếp
tục bằng một phương pháp phẫu
thuật vĩnh viễn khác. Nhựng người
14
Jung I. Park
Chương 14
177
lớn tuổi thường chọn tiêm colla-
gen để nâng vùng nếp viền trắng
và làm mềm các nếp nhăn dọc
Collagen tự thân Collagen
tự
thân được chiết tách từ colla-
gen của chính mô bệnh nhân. Nó
thường được dùng trong những
phẫu thuật như nâng trán. Một
mẩu mô da của bệnh nhân được
gửi đến phòng xét nghiệm để tinh
chế, và collagen được chiết ra, sau
đó gửi lại phẫu thuật viên. Quá
trình tinh chế và gửi mẫu thường
tốn thời gian, và phương pháp này
tốn nhiều tiền.
Restylene
Restylene là một loại
gel tiêm, bao gồm acid hyaluronic
ổn định không từ động vật (NA-
SHA gel, Q-med, Sweden), 20 mg/
mL, được tạo thành qua sự lên
men của vi khuẩn. Acid hyaluronic
có khả năng liên kết với nước và
hình thành dạng polymer hydrate
hóa có độ nhớt cao. Nó diễn ra tự
nhiên và trong hình thái tương tự
như chất mô liên kết của lớp bì
của tất cả các loài, và nó có hoạt
tính sinh học cao tuyệt vời. không
như collagen, test trước thủ thuật
không cần thiết. tiêm hoát chất
này có thể gây đau và cần gây tê
khu trú. Việc tiêm có thể tạo ra
một khối phồng sờ chạm, cải thiện
dần qua thời gian. Kết quả của thủ
thuật kéo dài 6 tháng hoặc hơn.
Hylaform
Hylaform® (Genzyme
Co., Ridgefield, NJ) là một chế
phẩm acid hyaluronic tiêm được
chiết xuất từ mào gà trống. Nó có
trọng lượng phân tử lớn nhưng
nồng độ thấp hơn 6 mg/ml.
Tiêm mỡ
Tiêm
mỡ
có
xu
hướng biến mất nhanh ở vùng môi
hơn là những vùng khác. Tiêm vào
cơ có thể kéo dài thời gian tồn tại
của chất mỡ được tiêm. Kiểm soát
thể tích và sự cân đối cũng là một
vấn đề. Bất kì mô mỡ còn sống nào
cũng đều tồn tại vĩnh viễn.
14.1.2 Phẫu thuật nâng môi
Sử dụng vật liệu ghép
Alloderm® Mô
bì
Alloderm
(LifeCell, The Woodland, TX) là
một chất đệm lưới vùng bì ngoài
tế bào từ da người. Những phần
của tế bào bị lấy đi để ngăn đào
thải. Alloderm giúp giữ tối đa tính
toàn vẹn các thành phần ngoại bào
của da. Lớp chất ngoài tế bào có
chức năng như một tấm nề cho sự
tăng trưởng và sự nguyên vẹn của
nguyên bào sợi và tế bào biểu mô
thành các mô bì vĩnh viễn.
Polytetraflouroethylene T r ư ớc
tình trạng thừa thãi các vật liệu cấy
ghép vĩnh viễn, chất e-PTFE được
sử dụng như là một vật liệu ghép
dành cho nâng môi. Các vật liệu
ghép vùng môi/mặt được chế tạo
như SamTM (Gore-Tex®, Gore and
Associates, Flagstaff, AZ), Advan-
taTM (Atrium Medical, Hudson,
NH) và UltrasoftTM (Tissue Tech-
nologies, San Francisco, CA). Vật
liệu ghép vùng mặt Sam là những
tấm cứng của hãng Gore-Tex và có
thể cắt thành kích cỡ mong muốn.
AdvantaTM cung cấp nhiều mẫu
thiết kế với lõi mềm trung tâm và
Phẫu thuật nâng môi
178
mặt ngoài rỗ nhẹ. Một trocar trước
đó sẽ giúp quá trình đặt vật liệu
ghép dễ hơn. Ultrasoft là một ống
rỗng cho phép mô phát triển trong
lòng ống. Vật liệu ghép Ultrasoft
hiện hành có hệ thống phân phối
không cần cài đặt sẵn, không cần
chạm.
14.2 Tư vấn
Bệnh nhân nên được hướng
dẫn toàn diện về những điều được
và mất của các vật liệu ghép khác
nhau và nên khuyến khích họ chọn
điều tốt nhất. Bản chất tạm thời
của alloderm và khả năng sờ chạm
thấy của vật liệu ghép nhân tạo
nên được đánh giá cẩn thận.
14.3 Quy trình
Đánh răng và súc miệng kỹ
với dung dịch chứa cồn vào đêm
trước và sáng ngày phẫu thuật.
thoa kem tê vùng vào vùng môi đỏ
son trước khi tiêm thuốc tê vùng.
Truyền tĩnh mạch thuốc an thần
hoặc cho uống thuốc trước khi gây
mê: 10 – 20 mg diazepam, 1 viên
Darvocet-N-100TM (Mallincrodt
Inc., St. Louis, MO), và kháng sinh
phổ rộng vào 1 giờ trước phẫu
thuật. Gây tê vùng bằng cách tiêm
vào thần kinh dưới ổ mắt chi phối
môi trên và dây thần kinh cằm chi
phối môi dưới 2 ml gồm Marcaine
0.5% và epinephrine 1:100,000 ở
mỗi vị trí. Lỗ ra thần kinh dưới ổ
mắt có thể sờ thấy khoảng 1 cm
phía dưới của vành đai dưới ổ mắt
tại phần giữa. Thực hiện tiêm xuy-
ên qua rãnh má – nướu răng bằng
kim 1.5 inch, 27G. Gây tê thần kinh
cằm bằng cách tiêm qua lớp niêm
mạc chân răng nanh. Có thể thấy
thần kinh cằm khi lật môi dưới ra
ngoài và kéo căng lớp niêm mạc.
Phần môi đỏ được tiêm bằng kim
30G với lidocaine 1% và epineph-
rine 1:100,000 trong chất đệm
natri bicarbonate tỉ lệ 1:10. Tiêm
cho cả môi trên và dưới với tổng
thể tích 5 ml. Từng môi được tiêm
riêng biệt khoảng 10 phút trước
khi thực hiện thủ thuật. Tiêm đều
toàn bộ bề mặt rất quan trọng
nhằm giữ sự tạo khối đều đặn.
Sự bất cân xứng không nhận biết
sẽ làm sai lệch đánh giá của phẫu
thuật viên về tính đối xứng. Sự tạo
khối bất thường thường chỉ xuất
hiện khi mà tình trạng sưng đã
giảm. Bút đánh dấu y khoa được
dùng để đánh dấu đường cắt tại 4
góc của miệng. Chuẩn bị và che phủ
vô trùng toàn bộ với Phisohex®
(Sanofi-Synthelabo Inc., New York,
NY). Vùng tiền đình miệng được
chèn gạc vô trùng 4x4 mà không
làm méo lệch nét tạo khối trên môi.
Lưỡi da Bark-Parker #11 được
sử dụng để tạo những đường cắt
dài 0.5 – 1 cm, cách 5mm về phía
trong, tính từ mép nối và đường
thẳng góc đi từ viền môi băng qua
đường nước bọt.
14.4 Mổ kiểu túi
Sau khi đã tạo hình túi hoặc
đã đặt trocar xuyên qua môi, vật
ghép sẽ được chèn vào. Một người
phụ mổ nên kéo khóe miệng ra
Chương 14
179
phía ngoài bằng móc kéo da. Môi
được giữ chặt và kéo khi phần giữa
được giữ chặt, và môi được kéo
về phía đối diện để dễ dàng phẫu
thuật. Tạo hình túi bằng kéo phẫu
thuật theo hướng mở ra. Vùng túi
rộng khoảng 1 cm ở sâu dưới niêm
mạc ngay phía trên cơ vòng miệng
và đi theo đường nước bọt. Mô
ghép Alloderm cần một vùng túi
rộng. Tuy nhiên, mô ghép e-PTFE
chỉ cần không gian nhỏ hơn, phụ
thuộc vào độ dày của mô ghép. Khi
mà vết cắt đi qua đường giữa, lặp
lại từ phía khóe miệng đối diện
cho đến khi hai đường thông gặp
nhau ở chính giữa.
14.5 Chèn mô ghép
Forcep hàm cá sấu (Alliga-
tor-type) được chèn vào qua vết
mổ. Đầu forcep chui ra ngoài qua
phía đối diện của vết mổ và kẹp
lấy mô ghép. Khi phẫu thuật viên
đang giữ chặt vùng môi bằng ngón
cái và các ngón còn lại, mô ghép sẽ
được kéo vào trong đường hầm.
Mô ghép nên được thiết kế đủ dài
để hai đầu vẫn còn nằm bên ngoài
vết mổ sau khi đặt hoàn tất. Mô
phải được trải đều trên mặt mô
ghép. Phần mô ghép dư sẽ được
tỉa bỏ. Các đầu của mô ghép sau
đó được vùi trong vết mổ. Vùng túi
cần phải được làm đủ chặt để giữ
mô ghép không di động. Vết cắt
niêm mạc sẽ được đóng theo lớp
bằng chỉ VicrylTM 5-0 (Ethicon Co.,
Somerville, NJ) và chỉ chromic cat-
gut theo đường ngang.
14.5.1 Chèn mô ghép Gore-Tex
Mô ghép vùng mặt Sam
được vận chuyển trong kiện hàng
vô trùng ở các kích cỡ khác nhau.
Nó sẽ được cắt thành những kích
cỡ mong muốn trên bàn phẫu
thuật. Găng tay phẫu thuật viên
phải được rửa với nước muối vô
trùng để làm trôi lớp bột. Phương
pháp phẫu thuật tạo hầm và chèn
mô ghép tương tự như mô tả ở
trên. Đường hầm được tạo hẹp
hơn đường hầm cho Alloderm.
Một vùng túi chặt hơn giúp ổn định
mô ghép. Bởi vì mô ghép trồi ra là
một vấn đề, đầu mô ghép được cắt
ngắn 5 mm từ vị trí vết mổ. Mô
ghép Sam cũng lưu hành trên thị
trường dưới dạng sợi đi kèm tro-
car.
14.5.2 Chèn mô ghép Advanta
Mô ghép Advanta hiện có
kèm hoặc không kèm với trocar.
Phương pháp chèn mô ghép có
kèm trocar cũng tương tự như
chèn mô ghép vùng mặt Sam. Tro-
car đính kèm cho phép chèn mà
không yêu cầu tạo đường hầm
trước đó. Mô ghép có thể được đẩy
xuyên qua lớp niêm mạc qua một
vết mổ nhỏ ở tấm dưới niêm, dọc
theo đường nước bọt và đi ra gần
khóe miệng bên đối diện.
14.5.3 Chèn mô ghép Ultrasoft Tu-
bular e-PTFE
Đánh dấu đường nước
bọt trên vùng môi màu đỏ. Dùng
lưỡi dao Bard-Parker #11 để tạo
Phẫu thuật nâng môi
180
đường cắt thẳng góc với viền môi
và khoảng 5 mm về phía trong đối
với từng bên khóe miệng. Dùng
kéo iris nhỏ để tạo rãnh mép sâu
1 cm nằm phía ngoài vết cắt và
hướng thẳng về phía mép. Một
trocar có sẵn được đưa vào vết cắt
(hình 27-1, A). Tay cầm được nắm
chặt giữa ngón cái và các ngón tay
khi ngõ vào được nhẹ nhàng bộc
lộ. Trocar đi tới phía trước qua
vết mổ và đi song song mặt da ở
lớp mô dưới da, ngay trên lớp cơ.
Trocar đi ra ngoài qua vết cắt đối
diện (xem hình 27-1, B). Tay thuận
đẩy trocar đi qua điểm thoát theo
chuyển động quay và đẩy, trong khi
môi được giữ chặt bới tay không
thuận. Vùng da nhăn của môi được
kéo đều trên trocar, và mức độ sâu
đều được kiểm tra qua sờ chạm.
Đầu khóa được tháo bỏ, và lực ép
nhẹ được đặt trên piston tay cầm
của thiết bị chèn để giải phóng
khối trocar-mô ghép. Khi phụ mổ
cầm phần đầu của thiết bị chèn,
ống bao ngoài của thép không gỉ
được tháo ra qua lỗ vào (xem hình
27-1, C). Ống ngoài được tháo bỏ
bằng động tác xoắn vặn trong khi
tay không thuận đẩy mô vùng
môi hướng về phía đối diện. Thời
điểm này thì mô ghép đã được bộc
lộ hoàn toàn và trocar vẫn ở bên
trong lòng ống (hình 27-1, D). Kế
tiếp, đầu trocar và phần cuff được
tách khỏi mô ghép bằng động tác
xoay và đẩy nhẹ nhàng. Trocar có
dây guide được đẩy ra khỏi lòng
mô ghép bằng cách đẩy đầu trocar
(xem hình 27-1, E). Một đoạn ngắn
của mô ghép sẽ trồi khỏi lối vào và
lối thoát. Lòng mô ghép được rửa
bằng dung dịch Betadine với kim
tiêm 10 ml và catheter mạch 20G.
Mỗi đầu của mô ghép được cắt gọt
bằng kéo (xem hình 27-1, F và G).
Đoạn cuối của mô ghép chôn vùi
vào túi vùng mép (xem hình 27-
1, H). Vết mổ được đóng bằng chỉ
Vicryl 5-0 ở mô dưới niêm và chỉ
chromic 4-0 theo phương nằm
ngang để tạo mối nối ngăn nước
(xem hình 27-1, I).
Do tính đơn giản của nó mà
phẫu thuật nâng môi với trocar trở
nên phổ biến (hình 27-2, A và B, và
27-3, A và B).
14.5.4 Chuẩn bị mô ghép Alloderm
và cách chèn
Thể tích Alloderm thích
hợp được tính toán trước phẫu
thuật. Độ dày của Alloderm được
xác định trước bởi độ dày của lớp
bì khoảng 1-2 mm. Xếp chồng mô
ghép lại sẽ giúp kiểm soát được
thể tích. Những gói mô cắt sẵn 2x4
cm lí tưởng cho việc nâng môi. Mô
ghép được cắt và xếp lại theo hình
dạng và kích thước mong muốn.
Độ cao mô ghép phù hợp xấp xỉ 1
cm. Nếu cần mô ghép dài và nhiều
thể tích hơn, hiện có những gói mô
3x7 cm đóng gói sẵn. Chiều dài mô
ghép có thể bằng với chiều dài môi.
Mô được ngâm trong nước muối
sinh lý ít nhất 10 phút. Cạo một
lớp giấy mỏng từ mô alloderm ướt.
Nếu cần, những mảnh Alloderm
Chương 14
181
Hình 14-1 (tiếp theo)
A, Đưa trocar vào qua đường rạch mở lối 5 mm
B, Trocar hoàn toàn đi qua tấm dưới niêm
C, Tháo bỏ vỏ kim loại, để lộ mô UltraSoft (Tissue Technolo-gies, San Francisco,
CA).
D, Bộc lộ cannular bên trong
E, Loại bỏ cannular bên trong khỏi lòng ống của mô ghép.
F, Tỉa phần thừa của mô UltraSoft
A
B
C
D
E
F
Phẫu thuật nâng môi
182
Hình 14-2
A, hình ảnh tiền phẫu cho thấy đường bờ môi mỏng và sắc.
B, hình ảnh hậu phẫu sau nâng môi trên và môi dưới. Đạt được bờ môi mềm
mại, tròn và dày
G
H
I
Hình 14-1 (hết)
G, Tỉa luôn phần đầu đối diện.
H, Bờ môi được kéo căng đối xứng và
thẳng.
I, I, Đóng vết rạch
A
B
Chương 14
183
A
B
Hình 14-3
A, Tiền phẫu nhìn nghiêng.
B, hình ảnh hậu phẫu. Thấy rõ môi tròn và dày.
được khâu lại hoặc cuộn lại trước
khi chèn (hình). Một sợi chỉ khâu
lụa 2-0 đi xuyên qua mỗi đầu tận
của Alloderm và không cột lại. For-
cep hàm cá sấu đi vào đường hầm
và kẹp sợi chỉ. Mô ghép Alloderm
được kéo vào trong đường hầm
bằng cách kéo sợi chỉ. Chỉ khâu tơ
2-0 ở mỗi đầu tận của Alloderm
được dùng để di chuyển mô ghép
tới lui khi điều chỉnh vị trí. Sau
khi đã được yên vị hợp lý, các sợi
chỉ khâu được kéo ra từ mỗi đầu
tận của mô ghép. Đầu cuối của Al-
loderm được cắt ngắn để giữa nó
cách xa vết cắt (hình 27-4, A đến
C). Mặc dù tính vĩnh cửu của mô
ghép được chứng minh qua các
Hình 14-4
A, Alloderm..
B, Tạo khoang dưới niêm. Chuẩn bị
kéo mô ghép qua khoang.
C, Đặt mô ghép vào vị trí.
A
B
C
Phẫu thuật nâng môi
184
thử nghiệm thực tế, phần lớn mô
ghép tiêu biến trong vòng 6 – 12
tháng. Tuy nhiên, không như tiêm
chất làm đầy, một số ít có thể tồn
tại vĩnh cửu (hình 27-5, A tới C).
Khuyến cáo chỉnh sửa lại.
14.6 Vạt da mỡ/ vạt cân
14.6.1 Tư vấn
Quy trình có thể được thực
hiện như một phẫu thuật đi kèm
trong quá trình nâng trán, khi mà
một lượng lớn mô bì và mô mỡ có
sẵn, và tấm cân cơ thái dương có
thể sẵn tiện thu hoạch. Ngoài ra,
cân cơ thái dương có thể lấy độc
lập qua thủ thuật nhỏ, sử dụng
một vết cắt giấu kỹ. Vạt bì được
thu hoạch thích hợp sẽ để lại vết
sẹo tương đối ẩn trên vùng da
dày không lông tóc. Khả năng tạo
thành nang tuyến bã nên được giải
thích với bệnh nhân. Đồng thời, sự
co rút tự nhiên của vạt tự do nên
được chú ý.
14.6.2 Thu hoạch vạt
Cân cơ thái dương
Bệnh
nhân được yêu cầu dùng dầu gội
hay xà phòng sát khuẩn vào đêm
trước và sáng ngày phẫu thuật.
Kháng sinh tiền phẫu, giảm đau và
an thần được sử dụng đường uống.
Tóc được cạo rộng 1 cm và 5 cm
chiều dài theo hướng thẳng đứng
phía trên vùng vành tai. Tóc được
Hình 14-5 Đặt mô Alloderm.
A, Tiền phẫu.
B, Hậu phẫu 1 tháng.
C, Hậu phẫu 7 tháng. Dù rằng có giảm
thể tích rõ trong 1 -7 tháng hậu phẫu,
nhưng nó cũng cải thiện rõ rệt khi so
với hình ảnh tiền phẫu. Cải thiện nhiều
được thấy rõ ở vùng bờ ngoài môi..
A
B
C
Chương 14
185
buộc lại bằng dây thun để bộc lộ
rõ vùng cạo. Bệnh nhân được đặt
ở tư thế nằm ngửa, đầu quay về
phía đối diện. Kim 27G được dùng
để tiêm dung dịch lidocaine 1%
pha epinephrine 1:100,000 trong
dung dịch natri bicarbonate. Tiêm
khoảng 10 ml. Kế đó, chuẩn bị da
với phisohex, và che phủ vùng đầu
với drape vô trùng. Vết cắt dọc dài
4 cm trên da đầu, dọc theo hướng
của búi tóc. Tấm dưới cân galea
được tách từ mô liên kết thưa
bằng động tác lướt nhẹ với dụng
cụ nâng Freer. Người phụ mổ sẽ
bộc lộ cân cơ thái dương bằng cách
nâng phần vành bằng hai ngạnh
của banh. Tiêm thêm thuốc gây tê
vào cơ thái dương bên dưới lớp
cân được bộc lộ. Tạo vết cắt vuông
1.5 x 5 cm trên cân. Vết cắt sẽ đi
sâu vào phần nông của cơ. Một đầu
tận của cân được kẹp bởi forcep có
răng và nâng nhẹ. Dùng kéo phẫu
thuật cạo phần trên của cơ và cân
đi kèm. Một dải cân cơ được tách
ra. Không được để chảy máu. Lớp
cân không cần đều nhau, trừ phi
có thể tách ra dễ dàng. Khâu lại
lớp galea bằng chỉ Vicryl 4-0, và
da đầu được khâu đóng bằng chỉ
nylon 4-0 với mũi khâu liên tục.
Vạt ghép được cắt tỉa để phù hợp
với chiều dài môi và độ dày mong
muốn khi nâng môi. Vạt da cần dài
hơn một chút để phù hợp với sự co
rút mô sau này. Chỉ khâu lụa 2-0 đi
qua mỗi đầu của cân như đã đề cập
ở vạt ghép Alloderm.
Vạt da mỡ Vạt da mỡ có thể
được lấy từ bất kì vùng da dày
không lông nào. Dù có thể thu
hoạch độc lập, nhưng tốt nhất vẫn
nên làm trong quá trình nâng trán.
Vùng da trước tai được ưa thích
hơn cả, vì độ dày. Vùng rãnh dưới
cơ mông cũng là một lụa chọn để
thu hoạch vạt ghép. Vạt gồm một
lớp mô mỡ. Vạt được chuẩn bị
bằng cách loại bỏ thượng bì và mô
bì. Chỉ giữ lại phần dưới lớp bì và
mô mỡ. Dùng chỉ lụa 2-0 theo kiểu
khâu kéo thông thường. Khâu nên
đi sâu, phòng biến chứng rách khi
kéo.
14.6.3 Quy trình
Tạo đường hầm theo cách
tương tự đã đề cập. Chèn vạt ghép
tương tự, khâu tạm thời, dùng for-
cep hàm cá sấu kéo vạt qua đường
hầm, và điều chỉnh vị trí bằng cách
kéo các sợi chỉ qua lại. Khâu đóng
vết mổ bằng chỉ catgut chromic
4-0.
14.6.4 Chăm sóc hậu phẫu
Bệnh nhân được yêu cầu
chườm đá vùng môi nhiều nhất
có thể trong khoảng 2 ngày. Hạn
chế nghiêm ngặt khi nâng môi
với vạt nhân tạo. Kháng sinh phổ
rộng được dùng trước và sau phẫu
thuật trong 1 tuần. Những cử động
môi gắng sức như chu môi, huýt
sao, hôn, mở miệng rộng hoy cười
rộng miệng cần phải tránh trong 1
tháng. Không hạn chế việc ăn uống
trừ khi thức ăn tiếp xúc vùng mổ
và phải mở miệng rộng để ăn.
Phẫu thuật nâng môi
186
14.6.5 Hồi phục
Sưng phù nhiều trong 3
ngày đầu, và có thể gặp chảy nước
bọt. Hầu hết sưng phù giảm trong
vòng 1 tuần. Có thể xảy ra tình
trạng xơ cứng, không tính đến sự
lựa chọn phẫu thuật, và tồn tại đến
6 tháng. Tê thường gặp và tự giới
hạn. Bệnh nhân sử dụng vật liệu
ghép e-PTFE sẽ cảm thấy bị cứng
đờ môi trong 1 – 2 tuần. Bệnh
nhân sẽ cảm giác sự hiện diện của
miếng ghép, nhưng không khó
chịu, trong vòng 3-4 tuần. Sau 4
tháng, bệnh nhân sẽ không còn
cảm giác đó. Điều này đặc biệt hay
gặp với mô ghép UltrasoftTM.
Tài liệu tham khảo
1. Matti BA: Clinical use of
Zyplast in correction of age- and
disease-related contour deficien-
cies of the face, Aesth Plast Surg
14:227, 1990.
2. DeVore DP, Hughes E,
Scott JB: Effectiveness of injectable
filler materials for smoothing wrin-
kle lines and depressed scars, Med
Prog Techol 20:243-250, 1994.
3. Beran SJ, Rohrich RJ: The
potential role of autologous in-
jectable, dermal collagen (Autol-
ogen®) and acellular dermal ho-
mograft (Alloderm®) in facial soft
tissue augmentation, Aesth Surg J
17:420, 1998.
4. Duranti F, Salti G, Bovani
B, et al: Injectable hyluronic acid
gel for soft tissue augmentation. A
clinical and histological study, Der-
matol Surg 24:1317-1325, 1999.
5. Fagrell D, Enestrom S,
Berggren A, et al: Fat cylinder
transplantation: an experimental
comparative study of three differ-
ent kinds of fat transplants, Plast
Reconstr Surg 98:90-98, 1996.
6. Churukian MM: Red lip
augmentation using fat injection,
Facial Plast Surg Clin North Am
5:61-70, 1997.
7. Colic MM: Lip and perioral
enhancement by direct intramus-
cular fat autografting, Aesthetic
Plast Surg 23:36-40, 1999.
8. Tobin HA, Karas ND: Li-
paugmentation using an Alloderm
graft, Oral Maxillofac Surg 56:722-
727, 1998.
9. Ellis D, Trimas SJ: Gore-Tex
implants for the correction of thin
lips, Laryngoscope 105:207, 1995.
10. Conrad K, MacDonald
MR: Wide polytef (Gore-Tex) im-
plants in lip augmentation and
nasolabial
groove
correction,
Arch Otolaryngol Head Neck Surg
122:664, 1996.
11. Wang J, Fan J, Nordstrom
REA: Evaluation of lip augmenta-
tion with Gore-Tex facial implant,
Aesth Plast Surg 21:433-436, 1997.
12. Israelsen LD: Surgical
protocol for SoftFormTM and Ul-
traSoftTM lip implant, San Francis-
co, Tissue Technologies.
13. Adams WP: Instructional
DVD, San Francisco, Tissue Tech-
nologies.
Chương 14
187
14. Lassus C: Surgical vermil-
lion augmentation: different possi-
bilities, Aesth Plast Surg 16:123-
127, 1992.
15. Maloney BP: Cosmetic
surgery of the lips, Facial Plast Surg
12: 265-278, 1996.
16. Kesselring UK: Rejuve-
nation of the lips, Ann Plast Surg
16:480-486, 1986.
17. Nicolle FV, Chir M, Ba-
sim A, et al: Dermal and facial au-
tografts in facial aesthetic surgery,
Aesth Plast Surg 16:219-225, 1992.
Chương 15: Phẫu thuật nâng cao môi
15.1 Tư vấn
Không như phẫu thuật làm
đầy môi đã miêu tả ở chương
trước, phẫu thuật nâng môi có thể
để lại sẹo thấy rõ. Dù đa số sẹo có
thể mờ dần và gần như không thấy,
nhưng những bệnh nhân phù hợp
với phẫu thuật này nhất là những
người thường dùng son môi và
chấp nhận vết sẹo. Xăm môi thông
thường sẽ che giấu vết sẹo. Mặc
dù nâng môi sẽ làm ngắn chiều dài
của môi, giảm nếp nhăn trên môi,
và làm rộng bề mặt môi, nhưng nó
không làm thay đổi thể tích môi.
Bề mặt môi có thể trông rộng hơn,
nhưng không tự nhiên. Mặc dù
phẫu thuật nâng nền mũi đạt được
kết quả tương tự và được người da
trắng ưa dùng, vết sẹo ở nền mũi
sẽ dễ thấy và không được người
châu Á chấp nhận. Tẩy da vùng
quanh miệng cũng được dùng để
lật viền môi trên bệnh nhân da
trắng, nhưng với bệnh nhân châu
Á thì không dùng do vấn đề tăng
tạo sắc tố. Nhiều loại vạt môi –
niêm mạc V-Y có sẵn, nhưng việc
sử dụng chúng bị hạn chế trên
người châu Á vì tính phổ quát, hạn
chế cải thiện, và nguy cơ tái phẫu
thuật.
15.2 Chăm sóc trước mổ
Khuyến cáo bệnh nhân
không dùng son môi vào ngày phẫu
thuật, và dùng nước súc miệng có
cồn trong 15 phút vào đêm trước
và sáng ngày phẫu thuật.
15.3 Tiền mê
Cho bệnh nhân sử dụng Xa-
nax (Alprazolam; Purepac Phar-
maceuticals, Elizabeth, NJ) (1.5
– 2 mg), Darvocat (Propoxyphene
naphsylate/
acetaminophen,
Mallincrodt, Inc. St. Louis, MO)
N-100 (1 viên), và kháng sinh phổ
rộng đường uống trước khi phẫu
thuật.
15.4 Đánh dấu
Điểm đánh dấu đầu tiên
được thực hiện trên viền bờ môi.
Đường kẻ nên nằm trên bề mặt
môi. Đường kẻ thứ 2 song song với
đường kẻ thứ nhất ở một khoảng
cách định sẵn (3 – 5 mm) theo
mức độ nâng môi mà bệnh nhân
mong muốn. Hai đường kẻ gặp
nhau tại khóe môi. Vùng da cắt
nên lớn hơn vùng nâng môi mong
15
Jung I. Park
Chương 15
189
muốn. Do trọng lực và sẹo co kéo,
viền bờ môi mới tạo có xu hướng
kéo về phía niêm mạc, làm cho
mức độ kém đi. Sự co kéo có vẻ rõ
hơn tại vùng khóe môi. Ở môi trên,
vùng Cupid’s bow (phần đỉnh chữ
V của môi) khuynh hướng bị kéo
phẳng lại do hiện tượng hóa sẹo co
kéo. Kiểu thiết kế phóng đại sẽ cần
thiết để duy trì các đường cong và
các góc. Thiết kế độc đáo này phù
hợp với bệnh nhân lớn tuổi có cơ
vòng miệng phì đại. Bệnh nhân trẻ
thì tốt hơn, vì có lớp mô liên kết
mềm nâng đỡ.
15.5 Gây mê
Gây tê vùng và gây tê tại chỗ
như đã miêu tả trong chương 27,
“Phẫu thuật làm dày môi”. Dụng
cụ vô trùng không nhất thiết tuân
theo các quy tắc nghiêm ngặt như
trong phẫu thuật đặt vật liệu ghép
nhân tạo.
15.6 Phẫu thuật
Nâng môi theo hai cách.
Sau khi phẫu tích một vạt da môi,
viền môi sẽ được nâng bằng một
vạt môi – niêm mạc. Vạt môi được
nâng lên từ cơ vòng miệng. Các
tuyến nước bọt nhỏ dưới niêm
cũng được mang theo trong vạt để
đảm bảo độ dày cần thiết cho vạt.
Vạt môi – niêm được chôn sâu vào
niêm mạc miệng (hình 28-1, A).
Vết rạch trên được rạch 2mm tính
từ bờ để tạo lối đi cho đường khâu
da và cho đường khâu lộn ra ngoài.
Khâu đóng 2 lớp bằng chỉ Vicryl
5-0TM (Ethicon, Inc. Somerville,
NJ) theo kiểu khâu không liên tục,
và dùng chỉ khâu đen 6-0 để khâu
liên tục dưới thượng bì (xem hình
28-1, B). Vết thương lành nhanh,
và có thể dùng lại son môi sau 10
ngày (xem hình 28-1, C). Phương
pháp này phù hợp với bệnh nhân
trẻ có độ dày môi phù hợp và cơ
vòng môi phì đại (hình 28-2, A và
B).
Trong phương pháp thứ 2,
bờ môi được cuộn lên phần môi
khiếm khuyết và được khâu da
thành hai lớp. Phương pháp này
phù hợp với bệnh nhân trẻ bị phì
đại da và cơ vòng miệng, Rạch dọc
theo đường kẻ (hình 28-3, A và B).
Phần viền da trắng của môi được
cắt lọc và loại bỏ. Một vạt môi ngắn
được lấy từ vùng nằm giữa các
tuyến dưới da và cơ vòng miệng.
Vết rạch chỉ rộng 2mm tính từ
vết rạch trên bờ môi. Chiều rộng
của vạt nên cân bằng với chiều
rộng của môi. Kế đó, một vạt ngắn
được lấy từ da môi. Phần da môi
được rạch sâu 1-2 mm từ vết rạch.
Những vạt nhỏ này được thiết kế
để làm khuếch đại sự lộn ngược
của đường khâu vết mổ. Phần đảo
da được cắt lọc, để lại phần bì sâu,
là nền tảng viền da trắng của môi,
được các vạt da xây đắp vào. Sau
khi đã cầm máu kĩ, bắt đầu nâng
vạt. Khâu bì sâu tại vùng nối bì –
cơ, và rìa da được kéo lại gần nhau
theo kiểu lộn ngược khuếch đại
(xem hình 28-3, E). Khâu bì bằng
chỉ Vicryl 5-0 tại những vị trí có
Phẫu thuật nâng cao môi
190
khoảng cách đều nhau trên môi
(xem hình 28-3, F). Khâu đóng da
bằng chỉ đen 6-0 theo kiểu khâu
dưới da liên tục (xem hình 28-3,
G). Viền môi có khuynh hướng ít
khác biệt sau nâng môi (hình 28-4
và 28-5) và trở nên khác biệt rõ
sau khi thu nhỏ môi.
A
A
B
B
C
Hình 15-1
A, Vạt môi - niêm.
B, Hậu phẫu 5 ngày sau nâng vạt môi.
C, Đánh son môi sau 10 ngày.
Hình 15-2 Nâng vạt bờ môi.
A, Tiền phẫu. Môi dưới mỏng, và bờ môi sắc.
B, Hậu phẫu. Môi dưới mềm và đầy. Sẹo chấp nhận được.
Chương 15
191
A
C
B
D
E
F
G
Hình 15-3
A, Đánh dấu trên môi trắng màu.
B, Chỉ cắt rạch qua lớp bì.
C, Chỉ cắt sâu tới lớp bì. Bảo tồn mô
dưới da hết mức có thể để làm tăng
dung tích môi.
D, Khâu vết thương.
E, Lộn ngược bờ môi và khâu vào vùng
da môi trắng..
F, Khâu lật bờ mô và khâu ngắt quãng dưới biểu bì.
G, hình ảnh đường khâu dưới biểu bì bằng chỉ nylon 6-0.
Phẫu thuật nâng cao môi
192
A
A
B
B
Hình 15-4
A, Tiền phẫu.
B, Hậu phẫu. Dù có thực hiện nâng nhân trung, nhưng nhân trung vẫn có vẻ
bị cùn.
Hình 15-5
A, Tiền phẫu.
B, Hậu phẫu. Môi đầy đặn hơn.
15.7 Chăm sóc hậu phẫu
Bôi mỡ kháng sinh tại vùng
mổ. Chườm đá vùng môi trong 2
ngày. Hạn chế cử động môi trong
1 tuần. Bệnh nhân ăn uống bằng
muỗng và không được chạm vào
môi. Không hút bằng môi. Dùng
ống hút bằng lưỡi và khẩu cái.
Ăn thức ăn lỏng và ăn nhẹ trong
1 tuần. Kháng sinh đường uống
được kê trong 1 tuần.
15.8 Hồi phục
Sưng phù rõ trong 3 ngày
đầu. Vùng bờ môi có thể còn tụ
máu trong 10 ngày dù đã cầm máu
kỹ lưỡng. Vùng môi sẽ còn tê trong
vài tuần.
Chương 15
193
Tài liệu tham khảo
1. Fanous N: Correction of
thin lips: “lip lift”, Plast Reconstr
Surg 74:33-41, 1984.
2. Kesselring UK: Rejuve-
nation of the lips, Ann Plast Surg
16:480-486, 1986.
3. Maloney BP: Cosmetic sur-
gery of the lips, Facial Plast Surg
12:265-278, 1996.
4. Rozner L, Isaacs GW: Lip
lifting, Br J Plast Surg 34:481-484,
1981.
5. Austin HW: The lip lift,
Plast Reconst Surg 77:990-994,
1986.
6. Lassus C: Thickening
the thin lips, Plast Reconstr Surg
68:959, 1981.
Chương 16: Thu nhỏ môi
16.1 Tư vấn
Thu nhỏ môi là thủ thuật ít
biến chứng nhất. Có thể gặp mất
cân xứng. Tạo khối tốt vùng cupid’s
bow và gò môi, nếu có, sẽ thay đổi
hình dáng.
16.2 Chăm sóc tiền phẫu
Vệ sinh miệng và súc miệng
với dung dịch chứa cồn. Xanax
(1.5mg), Darvocet N-100, và kháng
sinh phổ rộng được kê.
16.3 Gây tê
Gây tê vùng tại thần kinh
dưới ổ mắt, thần kinh cằm, hoặc cả
hai bằng dung dịch lidocaine 1%
và epinephrine 1:100,000. Tiêm
khoảng 2ml tại mỗi vị trí. Kim 30G
dùng để tiêm 5ml thuốc tê tại chỗ
vào mỗi phần môi. Phẫu thuật viên
nên cẩn thận tiêm đều để tránh vết
rạch bất cân xứng do méo.
16.4 Phẫu thuật
Đường kẻ rạch da được vẽ
bằng bút đánh dấu y khoa. Thông
thường, bệnh nhân có môi dày sẽ
có viền bờ môi lớn. Một vết rạch
hình elip được đánh dấu với đường
nước bọt nằm giữa. Độ rộng của
elip thay đổi tùy độ dày môi. Vết
rạch 1 cm thường là vừa đủ. Vết
rạch có hình nêm và bao gồm một
lớp cơ vòng miệng (hình 29-1, A và
B). Hai bên khóe miệng được kéo
bởi người phụ mổ bằng móc kéo
da. Trung tâm của môi được kẻ
ngang để tạo cơ sở cho quá trình
khâu đóng sau này. Cầm máu với
dao điện lưỡng cực. Trung tâm của
vùng chỉnh sửa được khâu trước,
khâu một phần lớn bằng chỉ cat-
gut chromic 3-0. Khi môi được
kéo giữa vết khâu đường giữa và
vết khâu khóe miệng, hai vết khâu
niêm mạc được đặt cách đều nhau.
Phần còn lại được khâu đóng bằng
mũi liên tục với chỉ chromic 3-0
(xem hình 29-1, C).
16.5 Chăm sóc hậu phẫu
Chườm miếng ép lạnh 3
ngày. Thuốc giảm đau và kháng
sinh phổ rộng được kê. Bệnh nhân
nên dùng muỗng khi ăn. Cấm nhai
trong vòng 7 ngày. Cho phép chải
răng nhẹ say ngày hậu phẫu thứ 3.
16.6 Hồi phục
Ngoài việc sưng nề rõ trong
3 ngày đầu, thì quá trình hậu phẫu
16
Jung I. Park
Chương 16
195
không có gì đáng chú ý.
Hở vết thương có thể xảy ra
nếu cử động môi quá mức.
16.7 Ca lâm sàng
Xem hình 29-2 đến 29-5.
Hình 16-1
A, Cắt tạo miếng nêm ở vùng môi trên.
B, Vạt nêm gồm luôn cả vạt cơ.
C, Đường khâu đơn với chỉ chromic
catgut 4-0.
Hình 16-2 Cắt giảm môi trên.
A, Tiền phẫu.
B, Hình ảnh hậu phẫu. Tỉ số độ dày bờ môi trên và bờ môi dưới thay
đổi từ 93 đến 50%. Bờ môi trở nên rõ ràng hơn.
A
B
C
A
B
Thu nhỏ môi
196
Hình 16-3 Thu nhỏ môi.
A, Hình ảnh tiền phẫu nhìn trước.
B, Hình ảnh hậu phẫu. Tỉ lệ độ dày của bờ môi trên so với chiều dài nhân
trung thay đổi từ 110% đến 83%.
Hình 16-4 Thu nhỏ môi.
A, Hình ảnh tiền phẫu nhìn trước.
B, Hình ảnh hậu phẫu. Bờ môi trở nên rõ ràng hơn
A
A
B
B
Chương 16
197
A
B
Hình 16-5 Thu nhỏ môi.
A, Hình ảnh tiền phẫu nhìn trước.
B, Hình ảnh hậu phẫu.
Tài liệu tham khảo
1. Stucker FJ Jr: Non-Cauca-
sian rhinoplasty and adjunctive
reduction cheiloplasty, Orolaryngol
Clin North Am 20:877-894, 1987.
2. Pierce HE: Cheiloplasty
for redundant lips, JNMA 68:211-
212, 1976.